Thứ hai 21/09/2026 22:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về loại trừ trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam

Bài viết phân tích các trường hợp chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự được loại trừ trách nhiệm khi sự vi phạm nghĩa vụ của họ không xuất phát từ bản thân mà do tác động trực tiếp của các tình huống không mong muốn khác (như sự kiện bất khả kháng hoặc lỗi hoàn toàn thuộc về bên có quyền).

1. Bản chất của loại trừ trách nhiệm dân sự

Loại trừ trách nhiệm dân sự là trường hợp có thể làm giảm nguy cơ tranh chấp giữa các bên khi xảy ra sự kiện vi phạm nghĩa vụ khi bên vi phạm được giải thoát khỏi trách nhiệm dân sự mà lẽ ra phải gánh chịu, đồng thời, bên bị vi phạm cũng nhận biết được kết quả này thông qua thỏa thuận từ trước giữa các bên hoặc quy định của pháp luật. Bản chất của loại trừ trách nhiệm dân sự là trường hợp khi một bên vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc theo pháp luật, họ đáng lẽ phải gánh chịu đầy đủ các hậu quả pháp lý bất lợi, các loại chế tài thích đáng với hành vi vi phạm của mình, tuy nhiên, do sự kiện tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi của họ mang tính khách quan, không thể lường trước được và không có khả năng khắc phục dù đã áp dụng mọi biện pháp có thể trong khả năng của mình, do đó, họ không còn phải chịu một phần hoặc toàn bộ trách nhiệm đó nữa. Mức độ tác động của các sự kiện nêu trên đến khả năng thực hiện nghĩa vụ của một hoặc các bên cũng thay đổi tùy hoàn cảnh cụ thể, có thể chỉ khiến một nghĩa vụ nhất định bị ảnh hưởng, nhưng cũng có thể khiến nhiều nghĩa vụ không thể thực hiện được.

Khi xảy ra các sự kiện khách quan, không lường trước được và không thể khắc phục được làm ảnh hưởng tới khả năng thực hiện hợp đồng của một bên, nếu vẫn áp đặt trách nhiệm lên bên vi phạm là không hợp lý vì họ hoàn toàn không chủ động lựa chọn vi phạm hợp đồng và trong phạm vi khả năng của mình, đã áp dụng mọi biện pháp khả thi nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra. Việc tiếp tục áp dụng trách nhiệm dân sự trong trường hợp này có thể gây ra sự bất công đối với bên không thể thực hiện hợp đồng. Do đó, cần nhìn nhận theo hướng, họ không vi phạm bất cứ nguyên tắc cơ bản nào khi thực hiện hành vi của mình, thậm chí còn vô cùng “thiện chí” khi cố gắng khắc phục, ngăn chặn hoặc ít nhất là giảm nhẹ thiệt hại từ hành vi đó. Hậu quả xảy ra là điều họ hoàn toàn không mong muốn, vì vậy, việc không đặt ra các chế tài với bên vi phạm trong tình huống này là hoàn toàn hợp lý và góp phần thể hiện được tính nhân đạo, nhân văn của pháp luật.

Đối với căn cứ loại trừ trách nhiệm dân sự, về cơ bản, Bộ luật Dân sự năm 2015 liệt kê hai điều kiện để bên vi phạm không phải chịu trách nhiệm, thuộc quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 351, bao gồm:

Thứ nhất, sự kiện bất khả kháng. Các tiêu chí xác định “sự kiện bất khả kháng” trong Bộ luật Dân sự năm 2015 được dựa trên sự tham khảo khái niệm tương ứng tại các điều ước quốc tế về hợp đồng, như Công ước Viên năm 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) hay Bộ quy tắc về hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT năm 2010 (PICC)… Khi tham gia quan hệ hợp đồng, các bên có thể cân nhắc, bổ sung các đặc điểm, tiêu chí khác của sự kiện mà theo quan điểm của họ, được coi là “bất khả kháng” và dẫn đến các hậu quả pháp lý khác. Yếu tố “bất khả kháng” được xác định theo thời điểm xác lập hợp đồng, tức là, khi giao kết hợp đồng, nếu các bên không thể dự đoán trước, không thể lường trước (hay nói cách khác, không biết và cũng không thể biết) sự kiện đó sẽ diễn ra trong khoảng thời gian thực hiện thỏa thuận thì tại thời điểm sự kiện đó xảy ra trên thực tế, yếu tố “bất khả kháng” có thể được công nhận. Bên vi phạm chỉ cần chứng minh thêm căn cứ cuối cùng, đó là trong khả năng của mình, họ đã tận dụng mọi biện pháp có thể để ngăn chặn hoặc giảm nhẹ mức độ của hành vi vi phạm là hệ quả của sự kiện đó nhưng không thành công. Khi thỏa mãn cả điều kiện này, bên vi phạm được viện dẫn “sự kiện bất khả kháng” là căn cứ hợp pháp để được loại trừ trách nhiệm dân sự. Một trường hợp đặc thù có thể xảy ra cũng dẫn đến khả năng được loại trừ trách nhiệm dân sự của bên vi phạm nghĩa vụ được quy định tại Điều 294 Luật Thương mại năm 2005, theo đó, hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.

Thứ hai, bên vi phạm không có lỗi khi thực hiện hành vi vi phạm. Nói cách khác, muốn được loại trừ trách nhiệm dân sự thì trước hết, bên vi phạm phải được loại trừ khỏi yếu tố lỗi (dù là lỗi cố ý hay vô ý) đối với hành vi của mình.

Trong trường hợp này, bên vi phạm không có lỗi mà lỗi sẽ thuộc về một chủ thể khác. Ví dụ, lỗi có thể xuất phát từ bên bị vi phạm (chẳng hạn như bên có quyền trong quan hệ hợp đồng). Một trường hợp khác mà lỗi cũng không thuộc về bên vi phạm nghĩa vụ là trường hợp bên thứ ba có liên quan phạm lỗi (chẳng hạn như bên được ủy quyền thực hiện hợp đồng).

Có thể thấy, điểm chung của hai yếu tố trên là vai trò của chúng đối với sự vi phạm nghĩa vụ. Cụ thể hơn, các yếu tố này phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hành vi vi phạm. Nếu chúng chỉ mang tính chất thứ yếu, bổ sung thì rất khó để bên vi phạm được loại trừ trách nhiệm dân sự. Sở dĩ như vậy là do, chỉ khi các sự kiện hay tình huống trên diễn ra và trực tiếp dẫn đến tình trạng “không có khả năng lựa chọn” của chủ thể, khiến cho họ không thể làm khác ngoài vi phạm nghĩa vụ (dù không mong muốn) thì mới có đủ căn cứ để họ không phải chấp hành các chế tài theo hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật.

2. Đặc điểm của loại trừ trách nhiệm dân sự

Thứ nhất, loại trừ trách nhiệm dân sự phát sinh dựa trên sự kiện một bên không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nghĩa vụ của mình theo pháp luật hoặc theo hợp đồng trong các điều kiện khách quan, không phụ thuộc vào ý chí hay sự kiểm soát của bên vi phạm. Một trong những trường hợp tiêu biểu bảo đảm các yếu tố trên để bên vi phạm có thể viện dẫn và yêu cầu được loại trừ trách nhiệm là sự kiện bất khả kháng. Theo quy định tại Điều 156 Bộ luật Dân sự năm 2015, về cơ bản, một sự kiện được coi là bất khả kháng khi bảo đảm ba thành tố sau: (i) Sự kiện xảy ra một cách khách quan, ngoài sự kiểm soát của các bên; (ii) Các bên không thể lường trước được một cách hợp lý về sự xuất hiện của sự kiện này tại thời điểm ký kết hợp đồng; (iii) Hậu quả của sự kiện không thể khắc phục mặc dù bên vi phạm hoặc các bên đã áp dụng mọi biện pháp trong khả năng của mình[1]. Cách hiểu này cũng khá tương đồng với quan điểm của hệ thống pháp luật Common Law, theo đó, sự kiện bất khả kháng (force majeure) phải được xác định dựa trên ba yếu tố: Không thể lường trước được (unpredictable/ unforeseeable/unexpected), không thể chống lại được (irresistible) và không thuộc phạm vi, khả năng điều khiển của con người (uncontrollable).

Trong các thành tố cấu thành nên sự kiện bất khả kháng tại Điều 156 Bộ luật Dân sự năm 2015, thành tố đầu tiên là sự kiện phải mang tính khách quan, tức là không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người, dù con người muốn hay không muốn thì sự kiện này vẫn diễn ra. Phù hợp với quan điểm trên, Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (Nghị định số 62/2015/NĐ-CP) cũng đã liệt kê các sự kiện bất khả kháng có thể làm ảnh hưởng đến công tác thi hành án là các trường hợp thiên tai, hỏa hoạn, địch họa[2]. Thành tố thứ hai của sự kiện bất khả kháng là tính không thể lường trước được. Trong quan hệ hợp đồng, “không thể lường trước được” có nghĩa là sự kiện xảy ra mà các bên không thể nhìn thấy trước hoặc dự đoán trước vào thời điểm giao kết hợp đồng và phải xảy ra sau khi giao kết hợp đồng[3]. Bên vi phạm không có khả năng nhìn thấy trước hay dự đoán trước, hay nói cách khác, họ “không biết, không thể biết hoặc không buộc phải biết sự kiện bất khả kháng sẽ xảy ra và do đó, không thể kiểm soát hay ngăn chặn việc xảy ra sự kiện bất khả kháng”[4]. Cần lưu ý là, một khó khăn có thể phát sinh trên thực tế khi xác định yếu tố này là trình độ chuyên môn, kinh nghiệm… của các chủ thể trong mỗi lĩnh vực là khác nhau, do đó, khả năng “lường trước” của mỗi bên đối với các rủi ro, phức tạp có khả năng xảy ra cũng không thể đương nhiên suy đoán một cách tương đương. Mặt khác, pháp luật Việt Nam hiện nay cũng không đưa ra các tiêu chí cụ thể để xác định tính chất này của sự kiện bất khả kháng. Về thành tố thứ ba, sự kiện bất khả kháng là sự kiện không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép. Cần lưu ý, hành vi “khắc phục” của bên vi phạm không nhằm hướng đến việc cải thiện hay cải tạo bản thân sự kiện đang diễn ra (vì trên thực tế, khả năng cải tạo các sự kiện như thiên tai, chiến tranh… là vượt quá khả năng chủ quan của họ). Mục đích của việc khắc phục này là nhằm vượt qua tình trạng gián đoạn của quá trình thực hiện nghĩa vụ đang bị ảnh hưởng bởi sự kiện bất khả kháng. Để thực hiện được mục đích này, trước tiên, bên vi phạm cần áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng của mình. Một yếu tố nữa mà bên vi phạm phải chứng minh là, kể cả sau khi đã áp dụng tất cả biện pháp khả thi, họ vẫn không thể khắc phục được tình trạng không thực hiện được nghĩa vụ của bản thân do sự kiện bất khả kháng gây ra. Đây là kết quả không mong muốn và không nằm trong dự tính của bên vi phạm khi họ thực hiện các phương pháp, sử dụng các công cụ cần thiết nhằm cứu vãn khả năng thực thi hợp đồng.

Thứ hai, các trường hợp loại trừ trách nhiệm dân sự có thể được áp dụng dựa trên sự đồng thuận của các bên hoặc do pháp luật quy định. Trong trường hợp quy định về loại trừ trách nhiệm dân sự là một phần của thỏa thuận giữa các bên thì cũng phải đáp ứng nguyên tắc chung về tự nguyện ý chí áp dụng cho mọi quan hệ pháp luật dân sự. Trước hết, các bên có thể đàm phán, thỏa thuận về các khả năng có thể xảy ra và là cơ sở cho bên vi phạm không phải chịu trách nhiệm khi vi phạm nghĩa vụ. Sau khi đã tự nguyện thống nhất và đưa ra các trường hợp này thì các bên vẫn cần bảo đảm các nguyên tắc cơ bản khác của pháp luật dân sự để thỏa thuận được công nhận, đó là các nguyên tắc bình đẳng; thiện chí, trung thực; tôn trọng lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác…

Trường hợp các bên không tự xác định các khả năng, tình huống làm cơ sở để loại trừ trách nhiệm dân sự cho một bên thì khi phát sinh tranh chấp, cơ quan giải quyết tranh chấp (Tòa án, trọng tài…) vẫn có thể dựa trên quy định của Bộ luật Dân sự và luật chuyên ngành (nếu có) đối với các loại hợp đồng đặc thù có luật riêng để điều chỉnh. Theo Điều 351 Bộ luật Dân sự năm 2015, ngoài sự phát sinh của sự kiện bất khả kháng, bên vi phạm nghĩa vụ cũng sẽ được loại trừ trách nhiệm trong trường hợp chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền. Một số luật chuyên ngành như Luật Thương mại năm 2005 (Điều 44), Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 (Điều 62) cũng quy định về các trường hợp cụ thể khi bên bán hàng hóa không có lỗi hoặc lỗi hoàn toàn thuộc về người mua, người tiêu dùng…

Thứ ba, loại trừ trách nhiệm dân sự chỉ được xem xét áp dụng sau thời điểm hành vi vi phạm nghĩa vụ xảy ra. Về nguyên tắc, khi một bên vi phạm thỏa thuận, bên còn lại có quyền tự mình hoặc yêu cầu Tòa án áp đặt một hoặc một số loại trách nhiệm dân sự để bảo vệ quyền lợi của mình (như trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm…). Để được loại trừ khỏi các chế tài trên, bên vi phạm cần chứng minh sự vi phạm nghĩa vụ của mình thuộc các trường hợp không phải chịu trách nhiệm đã được các bên thỏa thuận từ trước hoặc do Bộ luật Dân sự hoặc luật chuyên ngành quy định. Việc chứng minh bắt buộc phải được thực hiện sau khi xảy ra hành vi vi phạm vì khi chưa xuất hiện vi phạm thì chưa tồn tại trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ và cũng chưa thể xác định có thể loại trừ trách nhiệm đó cho bên vi phạm hay không.

Thứ tư, để có thể được loại trừ trách nhiệm dân sự, bên vi phạm cần chứng minh mình không có lỗi khi thực hiện hành vi vi phạm và sự kiện dẫn đến sự vi phạm đó mang tính “đặc biệt” đủ để có thể loại trừ trách nhiệm. Về nguyên tắc, khi bên bị vi phạm yêu cầu áp dụng trách nhiệm dân sự lên bên vi phạm, họ không có nghĩa vụ phải chứng minh bên vi phạm có lỗi khi thực hiện hành vi mà chỉ cần chứng minh vi phạm đã xảy ra trên thực tế cùng một số yếu tố khác (nếu có) như thiệt hại về vật chất hoặc về tinh thần là hậu quả trực tiếp từ hành vi vi phạm đó. Việc không bắt buộc bên bị vi phạm phải chứng minh lỗi của bên còn lại là hợp lý và hoàn toàn phù hợp với bản chất của yếu tố lỗi bởi lỗi là yếu tố thuộc về mặt chủ quan của con người mà không thể hiện ra bên ngoài. Do đó, nếu bên bị vi phạm phải chứng minh lỗi của bên vi phạm tức là họ phải đặt mình vào vị trí của bên còn lại để suy đoán về những suy nghĩ, xúc cảm… (các yếu tố thuộc mặt chủ quan của chủ thể) của bên kia khi thực hiện hành vi vi phạm. Đây là một nhiệm vụ gần như bất khả thi, một gánh nặng quá lớn dành cho bên bị vi phạm (thường là bên nguyên đơn trong các vụ kiện về yêu cầu áp dụng trách nhiệm dân sự). Do đó, chỉ cần nguyên đơn chứng minh được các yếu tố thuộc về mặt khách quan (hành vi vi phạm, thiệt hại xảy ra…) thì sẽ áp dụng nguyên tắc “suy đoán lỗi” cho bị đơn. Nguyên tắc này đã được cụ thể hóa tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Như vậy, để được loại trừ trách nhiệm dân sự, bên vi phạm cần chủ động chứng minh mình không có lỗi khi thực hiện hành vi cũng như đối với hậu quả mà hành vi đó gây ra (nếu có). Một trong những căn cứ quan trọng nhất để bên vi phạm có thể chứng minh về mặt chủ quan, họ không mong muốn hoặc sơ suất dẫn đến vi phạm là viện dẫn, lập luận được rằng, hoàn cảnh khách quan khiến cho họ buộc phải thực hiện hành vi đó mà không thể làm khác được. Ngoài sự kiện bất khả kháng, bên vi phạm cũng có thể viện dẫn một số căn cứ loại trừ trách nhiệm khác như trở ngại khách quan (quy định tại Điều 156 Bộ luật Dân sự năm 2015). Để làm rõ hơn các tình huống trở ngại khách quan trong một lĩnh vực cụ thể là công tác thi hành án, Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP cũng đã quy định một số trường hợp như: Đương sự không nhận được bản án, quyết định mà không phải do lỗi của họ; đương sự đi công tác ở vùng biên giới, hải đảo mà không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn; tai nạn, ốm nặng đến mức mất khả năng nhận thức hoặc đương sự chết mà chưa xác định được người thừa kế… (điểm a khoản 2 Điều 1).

3. Phân biệt các trường hợp loại trừ trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam

Khi bên vi phạm chứng minh được họ thuộc trường hợp được loại trừ trách nhiệm thì đương nhiên không còn bị áp đặt chế tài cho vi phạm của mình nữa, dù nghĩa vụ bị vi phạm là nghĩa vụ xuất phát từ hợp đồng hay ngoài hợp đồng. Dù vậy, sự phân biệt giữa hai trường hợp loại trừ trách nhiệm dân sự (theo thỏa thuận và theo quy định của pháp luật) vẫn rất quan trọng về lý thuyết vì có thể làm sáng tỏ sự khác biệt giữa hai trường hợp này, từ đó, tạo thuận lợi cho công tác thi hành pháp luật trên thực tiễn.

Thứ nhất, có thể thấy, trong hai khả năng mà chủ thể được loại trừ trách nhiệm nêu trên, nghĩa vụ mà chủ thể đã vi phạm (và sau đó được loại bỏ khỏi các chế tài) có sự khác nhau về nguồn gốc phát sinh. Đối với trường hợp loại trừ trách nhiệm dân sự theo thỏa thuận, nghĩa vụ bị vi phạm được gắn với chủ thể dựa trên một thỏa thuận (hay hợp đồng) đã được giao kết hợp pháp giữa các bên, tức là, việc nghĩa vụ này phát sinh và tồn tại là do chính chủ thể đã chủ động lựa chọn tham gia vào hợp đồng và tự nguyện chịu ràng buộc bởi nghĩa vụ đó. Chỉ cần họ chứng minh được thiện chí của mình, kể cả khi đã không thể thực hiện được nghĩa vụ từng cam kết thông qua các căn cứ như đã áp dụng mọi biện pháp có thể trong khả năng để khắc phục vi phạm của bản thân, họ hoàn toàn có thể được loại trừ khỏi trách nhiệm dân sự tương ứng.

Đối với trường hợp loại trừ trách nhiệm theo quy định của pháp luật, có thể thấy, nghĩa vụ bị vi phạm lúc này là nghĩa vụ được Nhà nước đặt ra thông qua các văn bản quy phạm pháp luật trong từng lĩnh vực cụ thể. Do đó, về nguyên tắc, nghĩa vụ luôn mang tính bắt buộc và được cưỡng chế thực thi bởi quyền lực nhà nước. Nếu các chủ thể không chấp hành thì luôn có nguy cơ phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi (trong một số trường hợp, kể cả khi chủ thể đó không có lỗi khi thực hiện hành vi). Chẳng hạn, chủ thể làm ô nhiễm môi trường mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp chủ thể đó không có lỗi (Điều 602 Bộ luật Dân sự năm 2015). Tuy nhiên, pháp luật dân sự cũng đưa ra một số ngoại lệ cụ thể cho phép một chủ thể được loại trừ trách nhiệm dân sự. Chẳng hạn, trường hợp súc vật thuộc sở hữu của một người đã gây ra thiệt hại (về tài sản, sức khỏe hay tính mạng) cho người khác mà hoàn toàn do lỗi của người thứ ba thì người thứ ba có lỗi đó phải bồi thường thiệt hại mà không phải là chủ sở hữu[5].

Thứ hai, hai trường hợp loại trừ trách nhiệm dân sự theo thỏa thuận và theo quy định của pháp luật có sự khác biệt về nguồn của căn cứ loại trừ trách nhiệm. Đối với trường hợp loại trừ trách nhiệm dân sự theo thỏa thuận, việc một bên không phải chịu trách nhiệm một phần hoặc toàn bộ đối với hành vi vi phạm của mình là kết quả của quá trình chứng minh thành công rằng, họ thỏa mãn các điều kiện được đưa ra tại điều khoản quy định về loại trừ trách nhiệm đã được xác lập trước đây giữa các bên. Điều khoản này có thể dựa trên các tiêu chí do pháp luật đưa ra hoặc được bổ sung, làm rõ hơn tùy theo mong muốn cụ thể của các bên. Chẳng hạn, đối với khái niệm “sự kiện bất khả kháng” được sử dụng như một căn cứ loại trừ trách nhiệm, các bên có thể xác định sự kiện này dựa trên quy định của Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, nội hàm của “sự kiện bất khả kháng” theo quan điểm của các bên có thể được bổ sung một số đặc điểm phụ hoặc sử dụng thuật ngữ khác với ý nghĩa tương đương như trong các văn bản pháp lý, điều ước quốc tế có liên quan (CISG, PICC…).

Đối với trường hợp loại trừ trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật, việc áp dụng căn cứ để một bên không bị áp đặt chế tài từ hành vi vi phạm pháp luật không thể dựa trên các tiêu chí do các bên tùy ý thỏa thuận mà phải bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan. Khi xác định khả năng loại trừ trách nhiệm, cơ quan có thẩm quyền chỉ dựa trên văn bản quy phạm pháp luật còn hiệu lực thi hành để xem xét, giải quyết vụ việc. Chẳng hạn, về nguyên tắc, Điều 598 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra. Tuy nhiên, các trường hợp Nhà nước sẽ không tiến hành bồi thường cho người bị thiệt hại (được loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại) cũng được xác định cụ thể tại Điều 32 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.

Thứ ba, mục đích của hai trường hợp loại trừ trách nhiệm dân sự theo thỏa thuân và theo quy định của pháp luật cũng có sự khác biệt. Đối với trường hợp một bên vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận nhưng không phải chịu trách nhiệm, quan điểm của pháp luật khi không buộc họ phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi từ sự vi phạm của mình là nhằm bảo vệ lợi ích của bản thân chủ thể này trong quan hệ đó. Việc họ được loại trừ trách nhiệm dân sự trong trường hợp này mang tính chất cá biệt, tức là chỉ áp dụng cho duy nhất chủ thể đó với sự vi phạm nghĩa vụ cụ thể trong hợp đồng đặc thù đó mà không thể áp dụng cho bên vi phạm khác trong một quan hệ thỏa thuận khác.

Mặt khác, đối với trường hợp loại trừ trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật, có thể thấy, mục đích của việc không áp đặt chế tài bất lợi lên bên vi phạm là nhằm bảo vệ mọi chủ thể rơi vào những hoàn cảnh tương tự, đã thực hiện hành vi vi phạm tương tự và chứng minh được các tiêu chí loại trừ trách nhiệm do pháp luật quy định. Các điều kiện, yếu tố mà bên vi phạm phải chứng minh là tương đồng khi cơ quan có thẩm quyền áp dụng cùng một căn cứ pháp lý. Chẳng hạn, Điều 601 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ một số trường hợp như thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại; thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết... Quy định này mang tính nguyên tắc, áp dụng chung cho mọi chủ thể trong xã hội và đối với mọi trường hợp cần xem xét trách nhiệm của chủ sở hữu, người chiếm hữu nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thiệt hại.

Thứ tư, khả năng áp dụng căn cứ để xem xét loại trừ trách nhiệm dân sự theo thỏa thuận và theo quy định của pháp luật cũng có sự khác biệt nhất định. Đối với trường hợp loại trừ trách nhiệm dân sự theo thỏa thuận, các căn cứ để bên vi phạm có thể yêu cầu không phải gánh chịu chế tài có thể xuất phát từ hai nguồn: Thỏa thuận trước đây của các bên hoặc pháp luật có liên quan. Nếu các chủ thể dựa trên căn cứ loại trừ trách nhiệm trực tiếp từ quy định pháp luật thì các bên hoặc cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng trực tiếp các căn cứ này mà không cần xem xét lại tính khả thi, hợp lý hoặc hợp pháp của chúng. Trong trường hợp các bên có thỏa thuận, quy định về các căn cứ hoặc khả năng cụ thể mà theo đó, một bên sẽ không phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi từ hành vi vi phạm của mình, khi xem xét khả năng loại trừ trách nhiệm cho bên vi phạm, bản thân các chủ thể hoặc cơ quan có thẩm quyền cần tôn trọng thỏa thuận này của các bên trước khi xem xét áp dụng pháp luật có liên quan. Tuy nhiên, để có thể áp dụng các căn cứ do các bên tự quy định thì điều khoản về loại trừ trách nhiệm dân sự nói riêng và toàn bộ hợp đồng nói chung cần thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được ghi nhận tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Đối với trường hợp bên vi phạm không bị áp đặt chế tài do vi phạm nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, các căn cứ giúp họ được loại trừ khỏi trách nhiệm dân sự đã được ghi nhận trong văn bản quy phạm pháp luật, do đó, mang tính áp dụng chung, thống nhất đối với tất cả các vụ việc có tính chất tương tự trong cùng phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Vì vậy, việc các bên dựa trên căn cứ này để xem xét khả năng loại trừ trách nhiệm cũng nhanh chóng hơn và trực tiếp hơn. Chẳng hạn, về nguyên tắc, người chưa đủ mười lăm tuổi trong thời gian trường học trực tiếp quản lý mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra. Tuy nhiên, trường học sẽ không phải bồi thường (được loại trừ trách nhiệm) nếu chứng minh được họ không có lỗi trong quản lý học sinh; trong trường hợp này, cha, mẹ, người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi mới là chủ thể phải bồi thường[6].

ThS. Nguyễn Huy Hoàng Nam

Khoa Pháp luật dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Trần Việt Dũng (chủ biên), Giáo trình Luật thương mại quốc tế - Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Hồng Đức, 2015, tr. 110.

[2]. Tham khảo khoản 3 Điều 4 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP.

[3]. Trần Trí Thành, Bùi Thị Quỳnh Trang, “Áp dụng quy định pháp luật về sự kiện bất khả kháng và thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong bối cảnh dịch Covid-19 tại Việt Nam”, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn, Số 43/2020, tr. 88.

[4]. Nguyễn Ngọc Bích, “Sự kiện bất khả kháng đối với các hợp đồng thương mại trong bối cảnh Covid-19”, Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam, https://lsvn.vn/su-kien-bat-kha-khang-doi-voi-cac-hop-dong-thuong-mai-trong-boi-canh-covid-191634859951.html, truy cập ngày 22/9/2023.

[5]. Tham khảo Điều 603 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[6]. Tham khảo Điều 599 Bộ luật Dân sự năm 2015.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 398), tháng 2/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.

Theo dõi chúng tôi trên: