Thứ hai 20/07/2026 16:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về một số vấn đề trong Dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

Tóm tắt: Nền tảng pháp lý quan trọng của việc hình thành các đặc khu kinh tế dự kiến được xây dựng ở Vân Đồn (Quảng Ninh), Phú Quốc (Kiên Giang), Bắc Vân Phong (Khánh Hòa) đã bắt đầu được thiết lập khi Dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt đang được xây dựng và trình Quốc hội xem xét. Bài viết này trao đổi về một số vấn đề được đề cập trong Dự thảo nói trên.

Abstract: Important legal foundation of forming special administrative - economic units proposed to establish in Van Don (Quang Ninh), Phu Quoc (Kien Giang), Bac Van Phong (Khanh Hoa) has been established when the Draft law on special administrative - economic units is set up and submitted to the National Assembly for examination. This article discusses some issues in the above mentioned Draft law.

1. Vì sao phải luật hóa tổ chức và hoạt động của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

Xuất phát từ mục tiêu chuyển đổi cơ cấu kinh tế, thu hút các nguồn lực để phát huy tiềm năng thế mạnh trong nước của Đảng và Nhà nước, các mô hình khu kinh tế, khu công nghiệp đã được hình thành và phát triển đa dạng, đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của nước ta thời gian qua. Trải qua quá trình phát triển, bên cạnh những kết quả đạt được, các mô hình kinh tế này đã bộc lộ những hạn chế, đòi hỏi chúng ta phải có những hướng đi mới để thúc đẩy nền kinh tế của đất nước phát triển.

Tìm hiểu về mô hình các khu kinh tế trên thế giới cho thấy, các quốc gia được đánh giá là phát triển thành công mô hình này là Singapore, các Tiểu Vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE), Trung Quốc, Hàn Quốc, British Virgin Islands và Cayman Islands. Bên cạnh đó, nhiều quốc gia có vị trí gần, cạnh tranh trực tiếp với nước ta về thu hút đầu tư nước ngoài và gần đây mới phát triển mô hình đặc khu kinh tế như: Malaysia, Thái Lan, Indonesia và Myanmar. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng mô hình đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ở nước ta với các cơ chế, chính sách về hành chính và kinh tế đột phá, cạnh tranh quốc tế, tạo mô hình động lực phát triển mới, thu hút đầu tư trong nước và quốc tế là hết sức cần thiết và cấp bách để phát triển kinh tế - xã hội.

Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta đã khẳng định việc xây dựng một số khu kinh tế làm đầu tàu phát triển tại Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020. Tiếp theo đó, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đề ra nhiệm vụ là xây dựng một số đặc khu kinh tế để tạo cực tăng trưởng và thử nghiệm thể chế phát triển vùng có tính đột phá. Hiến pháp năm 2013 cũng đã quy định cụ thể hơn về đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt sẽ do Quốc hội thành lập. Tuy nhiên, để xây dựng thành công đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, khai thác tốt nhất các tiềm năng khu vực có lợi thế vượt trội, thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư, công nghệ cao, phương thức quản lý mới tiên tiến, hình thành khu vực tăng trưởng cao, tạo thêm nguồn lực và động lực, góp phần thúc đẩy phát triển nhanh và tái cơ cấu cho tỉnh, vùng và cả nước thì vấn đề trước tiên phải hoàn thiện thể chế, tạo hành lang pháp lý vững chắc để phát triển các mô hình kinh tế mới này thành công.

Các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (gọi tắt là đặc khu), dự kiến được xây dựng ở Vân Đồn (Quảng Ninh), Phú Quốc (Kiên Giang), Bắc Vân Phong (Khánh Hòa) đang được kỳ vọng trở thành các mô hình phát triển đột phá, trở thành cực tăng trưởng cho kinh tế - xã hội của địa phương, của toàn vùng và của cả nước. Nền tảng pháp lý quan trọng nhất của việc hình thành các đặc khu này là phải xây dựng thành công Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Đến nay, Dự thảo Luật này (được Chính phủ giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì soạn thảo) đã bước đầu hoàn thành, Chính phủ đã trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội và dự kiến trình Quốc hội cho ý kiến vào kỳ họp thứ 4, thông qua vào kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XIV. Dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt được Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì xây dựng bao gồm 06 Chương với 78 điều và 04 phụ lục.

2. Trao đổi về một số vấn đề trong Dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

2.1. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Theo Dự thảo, phạm vi điều chỉnh của Luật này quy định về quy hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương và cơ quan nhà nước tại đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc. Đối tượng áp dụng của Luật này là đối với tổ chức và cá nhân có liên quan đến đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc. Với phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng quy định như Dự thảo Luật sẽ giải quyết được mục tiêu trước mắt là hoàn thiện thể chế, tập trung nguồn lực để thực hiện thành công ba đơn vị đã được nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng, tạo tiền đề để xây dựng thành công ba đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt này trở thành khu vực tăng trưởng cao, đủ sức cạnh tranh khu vực và quốc tế, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của vùng và của cả đất nước. Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng, Ban soạn thảo có thể cân nhắc, nghiên cứu thêm về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Luật. Nếu quy định như hiện tại, trong trường hợp cần thành lập thêm các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt thì phải chờ để tiến hành các thủ tục, quy trình sửa đổi Luật. Hơn nữa, Dự thảo Luật có quy định về áp dụng các quy định của Luật đối với đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt khác như sau: “Trường hợp Quốc hội quyết định thành lập đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt khác, Chính phủ trình Quốc hội quyết định việc áp dụng các quy định tại Luật này đối với đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt đó”. Qua đó cho thấy, mặc dù Ban soạn thảo đã dự liệu trước trường hợp có thể sẽ thành lập thêm các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, tuy nhiên, việc quy định “việc áp dụng các quy định tại Luật này đối với đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt đó” dường như chưa thực sự hợp lý và thống nhất.

Điều 1 và Điều 2 của Dự thảo quy định rất rõ ràng về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng chỉ áp dụng với ba đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt là Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc. Vì vậy, Ban soạn thảo nên nghiên cứu, xây dựng Luật theo hướng áp dụng chung cho các đặc khu kinh tế, để sau này trong tương lai, nếu chúng ta có xây dựng thêm đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt khác thì Luật này vẫn sẽ điều chỉnh chung, những quy định đặc thù cho từng đơn vị có thể quy định trong nghị quyết của Quốc hội hoặc văn bản dưới luật, có như vậy, Luật được ban hành mới đảm bảo được tính ổn định, lâu dài trong một khoảng thời gian nhất định.

Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt được ban hành theo hướng quy định chung cho các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt thì vẫn đúng với định hướng của Đảng và Nhà nước ta. Vấn đề thể chế hóa những đặc thù của từng đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt trong Luật, chúng ta có thể nghiên cứu, rút ra những đặc điểm riêng của từng đơn vị, dự báo những tình huống có thể sẽ xảy ra trong tương lai để đưa vào dự án Luật, những quy định này mang tính mở, khi Luật được ban hành và có hiệu lực trên thực tiễn, đơn vị nào phù hợp với những tiêu chí nào trong Luật chúng ta sẽ dẫn chiếu và áp dụng pháp luật để thực hiện. Những vấn đề cụ thể khác hoặc những vấn đề phát sinh có thể giải quyết trong nghị quyết của Quốc hội và những văn bản dưới luật để quy định đối với từng đơn vị này.

Việc xây dựng Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt trong điều kiện hiện nay của nước ta là cần thiết, khẳng định quyết tâm cao của Đảng, Nhà nước ta trong việc xây dựng thể chế đột phá, tạo động lực phát triển kinh tế vùng và cả nước, góp phần phát triển kinh tế đất nước nhanh, bền vững, phù hợp với xu hướng phát triển chung của các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, quá trình xây dựng Luật cần phải thận trọng, nghiên cứu kỹ lưỡng để khi Luật được ban hành phát huy được hiệu quả trên thực tiễn, đồng thời đảm bảo được tính ổn định, lâu dài của văn bản luật trong tương lai.

2.2. Về việc trao quyền và cơ chế giám sát đối với Trưởng Đơn vị hành chính kinh tế - đặc biệt

Về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương tại đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, Dự thảo Luật xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương đơn vị hành chính - kinh tế theo hướng không xác định có cấp chính quyền địa phương và do đó, không tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Thay vào đó, tại các đơn vị này, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt thực hiện chức năng quản lý nhà nước, quyết định, tổ chức thực hiện toàn bộ các hoạt động hành chính, kinh tế - xã hội trên địa bàn đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt có các cơ quan chuyên môn và bộ máy giúp việc. Tại khu hành chính trực thuộc đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt có Trưởng Khu hành chính là người đại diện hành chính cho Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt tại địa bàn khu hành chính. Trưởng Khu hành chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước về 12 ngành, lĩnh vực ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt theo sự phân quyền, ủy quyền của Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Trưởng Khu hành chính có công chức chuyên môn giúp việc.

Tuy nhiên, việc trao quyền lớn cho Trưởng Đơn vị hành chính kinh tế - đặc biệt cũng khiến các chuyên gia có nhiều ý kiến lo ngại về câu chuyện “lợi ích nhóm”. Trên thực tế, cả Bắc Vân Phong, Phú Quốc và Vân Đồn đều có vị trí địa lý nhạy cảm, liên quan đến an ninh, quốc phòng, do vậy, phải có cơ chế phù hợp để quản lý và giám sát. Tiếp thu ý kiến này, Ban soạn thảo đã bổ sung một mục với 05 điều khoản liên quan đến các cơ chế giám sát Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Theo đó, Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt sẽ chịu sự giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, Hội đồng nhân dân tỉnh. Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt cũng có trách nhiệm báo cáo kết quả hoạt động trước Hội đồng nhân dân tỉnh và trả lời chất vấn của các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh tại các kỳ họp.

Hội đồng nhân dân tỉnh có quyền yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo Thủ tướng Chính phủ miễn nhiệm, cách chức Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ký ban hành. Cùng với đó, Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt cũng chịu sự chỉ đạo, kiểm tra của Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đối với những lĩnh vực quản lý của tỉnh không phân quyền, phân cấp hoặc ủy quyền cho Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Ngoài ra, Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt cũng chịu trách nhiệm và báo cáo với Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, các luật chuyên ngành. Bên cạnh đó, Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt cũng chịu trách nhiệm và báo cáo với Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ giao và về toàn bộ hoạt động của đặc khu. Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt cũng chịu sự giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị, xã hội tại đặc khu.

Dự thảo Luật cũng đề xuất việc thành lập Hội đồng Giám sát và tư vấn đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Hội đồng này sẽ thực hiện chức năng giám sát hoạt động của Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt tại địa bàn và thực hiện nhiệm vụ tư vấn đối với dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đặc khu và một số nhiệm vụ quan trọng khác thuộc thẩm quyền của Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Rất nhiều ý kiến đã đồng tình với việc bổ sung kịp thời này của Dự thảo Luật.

Mặc dù còn đang ở giai đoạn khởi đầu, nhưng Dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt đã thu hút được sự quan tâm trao đổi của nhiều tầng lớp, các chuyên gia ở các ngành, các cấp trong xã hội. Để Dự thảo Luật này hoàn chỉnh và được Quốc hội xem xét thông qua, chắc sẽ còn nhiều vấn đề cần phải bàn luận kỹ lưỡng hơn.

Vinh Nguyễn & Lê Đăng Xuyên

Học viện Cảnh sát nhân dân

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: