Thứ ba 17/03/2026 15:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về một số vấn đề trong Dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

Tóm tắt: Nền tảng pháp lý quan trọng của việc hình thành các đặc khu kinh tế dự kiến được xây dựng ở Vân Đồn (Quảng Ninh), Phú Quốc (Kiên Giang), Bắc Vân Phong (Khánh Hòa) đã bắt đầu được thiết lập khi Dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt đang được xây dựng và trình Quốc hội xem xét. Bài viết này trao đổi về một số vấn đề được đề cập trong Dự thảo nói trên.

Abstract: Important legal foundation of forming special administrative - economic units proposed to establish in Van Don (Quang Ninh), Phu Quoc (Kien Giang), Bac Van Phong (Khanh Hoa) has been established when the Draft law on special administrative - economic units is set up and submitted to the National Assembly for examination. This article discusses some issues in the above mentioned Draft law.

1. Vì sao phải luật hóa tổ chức và hoạt động của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

Xuất phát từ mục tiêu chuyển đổi cơ cấu kinh tế, thu hút các nguồn lực để phát huy tiềm năng thế mạnh trong nước của Đảng và Nhà nước, các mô hình khu kinh tế, khu công nghiệp đã được hình thành và phát triển đa dạng, đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của nước ta thời gian qua. Trải qua quá trình phát triển, bên cạnh những kết quả đạt được, các mô hình kinh tế này đã bộc lộ những hạn chế, đòi hỏi chúng ta phải có những hướng đi mới để thúc đẩy nền kinh tế của đất nước phát triển.

Tìm hiểu về mô hình các khu kinh tế trên thế giới cho thấy, các quốc gia được đánh giá là phát triển thành công mô hình này là Singapore, các Tiểu Vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE), Trung Quốc, Hàn Quốc, British Virgin Islands và Cayman Islands. Bên cạnh đó, nhiều quốc gia có vị trí gần, cạnh tranh trực tiếp với nước ta về thu hút đầu tư nước ngoài và gần đây mới phát triển mô hình đặc khu kinh tế như: Malaysia, Thái Lan, Indonesia và Myanmar. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng mô hình đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ở nước ta với các cơ chế, chính sách về hành chính và kinh tế đột phá, cạnh tranh quốc tế, tạo mô hình động lực phát triển mới, thu hút đầu tư trong nước và quốc tế là hết sức cần thiết và cấp bách để phát triển kinh tế - xã hội.

Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta đã khẳng định việc xây dựng một số khu kinh tế làm đầu tàu phát triển tại Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020. Tiếp theo đó, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đề ra nhiệm vụ là xây dựng một số đặc khu kinh tế để tạo cực tăng trưởng và thử nghiệm thể chế phát triển vùng có tính đột phá. Hiến pháp năm 2013 cũng đã quy định cụ thể hơn về đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt sẽ do Quốc hội thành lập. Tuy nhiên, để xây dựng thành công đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, khai thác tốt nhất các tiềm năng khu vực có lợi thế vượt trội, thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư, công nghệ cao, phương thức quản lý mới tiên tiến, hình thành khu vực tăng trưởng cao, tạo thêm nguồn lực và động lực, góp phần thúc đẩy phát triển nhanh và tái cơ cấu cho tỉnh, vùng và cả nước thì vấn đề trước tiên phải hoàn thiện thể chế, tạo hành lang pháp lý vững chắc để phát triển các mô hình kinh tế mới này thành công.

Các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (gọi tắt là đặc khu), dự kiến được xây dựng ở Vân Đồn (Quảng Ninh), Phú Quốc (Kiên Giang), Bắc Vân Phong (Khánh Hòa) đang được kỳ vọng trở thành các mô hình phát triển đột phá, trở thành cực tăng trưởng cho kinh tế - xã hội của địa phương, của toàn vùng và của cả nước. Nền tảng pháp lý quan trọng nhất của việc hình thành các đặc khu này là phải xây dựng thành công Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Đến nay, Dự thảo Luật này (được Chính phủ giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì soạn thảo) đã bước đầu hoàn thành, Chính phủ đã trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội và dự kiến trình Quốc hội cho ý kiến vào kỳ họp thứ 4, thông qua vào kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XIV. Dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt được Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì xây dựng bao gồm 06 Chương với 78 điều và 04 phụ lục.

2. Trao đổi về một số vấn đề trong Dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

2.1. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Theo Dự thảo, phạm vi điều chỉnh của Luật này quy định về quy hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương và cơ quan nhà nước tại đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc. Đối tượng áp dụng của Luật này là đối với tổ chức và cá nhân có liên quan đến đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc. Với phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng quy định như Dự thảo Luật sẽ giải quyết được mục tiêu trước mắt là hoàn thiện thể chế, tập trung nguồn lực để thực hiện thành công ba đơn vị đã được nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng, tạo tiền đề để xây dựng thành công ba đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt này trở thành khu vực tăng trưởng cao, đủ sức cạnh tranh khu vực và quốc tế, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của vùng và của cả đất nước. Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng, Ban soạn thảo có thể cân nhắc, nghiên cứu thêm về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Luật. Nếu quy định như hiện tại, trong trường hợp cần thành lập thêm các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt thì phải chờ để tiến hành các thủ tục, quy trình sửa đổi Luật. Hơn nữa, Dự thảo Luật có quy định về áp dụng các quy định của Luật đối với đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt khác như sau: “Trường hợp Quốc hội quyết định thành lập đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt khác, Chính phủ trình Quốc hội quyết định việc áp dụng các quy định tại Luật này đối với đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt đó”. Qua đó cho thấy, mặc dù Ban soạn thảo đã dự liệu trước trường hợp có thể sẽ thành lập thêm các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, tuy nhiên, việc quy định “việc áp dụng các quy định tại Luật này đối với đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt đó” dường như chưa thực sự hợp lý và thống nhất.

Điều 1 và Điều 2 của Dự thảo quy định rất rõ ràng về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng chỉ áp dụng với ba đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt là Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc. Vì vậy, Ban soạn thảo nên nghiên cứu, xây dựng Luật theo hướng áp dụng chung cho các đặc khu kinh tế, để sau này trong tương lai, nếu chúng ta có xây dựng thêm đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt khác thì Luật này vẫn sẽ điều chỉnh chung, những quy định đặc thù cho từng đơn vị có thể quy định trong nghị quyết của Quốc hội hoặc văn bản dưới luật, có như vậy, Luật được ban hành mới đảm bảo được tính ổn định, lâu dài trong một khoảng thời gian nhất định.

Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt được ban hành theo hướng quy định chung cho các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt thì vẫn đúng với định hướng của Đảng và Nhà nước ta. Vấn đề thể chế hóa những đặc thù của từng đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt trong Luật, chúng ta có thể nghiên cứu, rút ra những đặc điểm riêng của từng đơn vị, dự báo những tình huống có thể sẽ xảy ra trong tương lai để đưa vào dự án Luật, những quy định này mang tính mở, khi Luật được ban hành và có hiệu lực trên thực tiễn, đơn vị nào phù hợp với những tiêu chí nào trong Luật chúng ta sẽ dẫn chiếu và áp dụng pháp luật để thực hiện. Những vấn đề cụ thể khác hoặc những vấn đề phát sinh có thể giải quyết trong nghị quyết của Quốc hội và những văn bản dưới luật để quy định đối với từng đơn vị này.

Việc xây dựng Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt trong điều kiện hiện nay của nước ta là cần thiết, khẳng định quyết tâm cao của Đảng, Nhà nước ta trong việc xây dựng thể chế đột phá, tạo động lực phát triển kinh tế vùng và cả nước, góp phần phát triển kinh tế đất nước nhanh, bền vững, phù hợp với xu hướng phát triển chung của các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, quá trình xây dựng Luật cần phải thận trọng, nghiên cứu kỹ lưỡng để khi Luật được ban hành phát huy được hiệu quả trên thực tiễn, đồng thời đảm bảo được tính ổn định, lâu dài của văn bản luật trong tương lai.

2.2. Về việc trao quyền và cơ chế giám sát đối với Trưởng Đơn vị hành chính kinh tế - đặc biệt

Về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương tại đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, Dự thảo Luật xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương đơn vị hành chính - kinh tế theo hướng không xác định có cấp chính quyền địa phương và do đó, không tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Thay vào đó, tại các đơn vị này, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt thực hiện chức năng quản lý nhà nước, quyết định, tổ chức thực hiện toàn bộ các hoạt động hành chính, kinh tế - xã hội trên địa bàn đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt có các cơ quan chuyên môn và bộ máy giúp việc. Tại khu hành chính trực thuộc đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt có Trưởng Khu hành chính là người đại diện hành chính cho Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt tại địa bàn khu hành chính. Trưởng Khu hành chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước về 12 ngành, lĩnh vực ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt theo sự phân quyền, ủy quyền của Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Trưởng Khu hành chính có công chức chuyên môn giúp việc.

Tuy nhiên, việc trao quyền lớn cho Trưởng Đơn vị hành chính kinh tế - đặc biệt cũng khiến các chuyên gia có nhiều ý kiến lo ngại về câu chuyện “lợi ích nhóm”. Trên thực tế, cả Bắc Vân Phong, Phú Quốc và Vân Đồn đều có vị trí địa lý nhạy cảm, liên quan đến an ninh, quốc phòng, do vậy, phải có cơ chế phù hợp để quản lý và giám sát. Tiếp thu ý kiến này, Ban soạn thảo đã bổ sung một mục với 05 điều khoản liên quan đến các cơ chế giám sát Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Theo đó, Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt sẽ chịu sự giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, Hội đồng nhân dân tỉnh. Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt cũng có trách nhiệm báo cáo kết quả hoạt động trước Hội đồng nhân dân tỉnh và trả lời chất vấn của các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh tại các kỳ họp.

Hội đồng nhân dân tỉnh có quyền yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo Thủ tướng Chính phủ miễn nhiệm, cách chức Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ký ban hành. Cùng với đó, Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt cũng chịu sự chỉ đạo, kiểm tra của Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đối với những lĩnh vực quản lý của tỉnh không phân quyền, phân cấp hoặc ủy quyền cho Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Ngoài ra, Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt cũng chịu trách nhiệm và báo cáo với Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, các luật chuyên ngành. Bên cạnh đó, Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt cũng chịu trách nhiệm và báo cáo với Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ giao và về toàn bộ hoạt động của đặc khu. Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt cũng chịu sự giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị, xã hội tại đặc khu.

Dự thảo Luật cũng đề xuất việc thành lập Hội đồng Giám sát và tư vấn đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Hội đồng này sẽ thực hiện chức năng giám sát hoạt động của Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt tại địa bàn và thực hiện nhiệm vụ tư vấn đối với dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đặc khu và một số nhiệm vụ quan trọng khác thuộc thẩm quyền của Trưởng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Rất nhiều ý kiến đã đồng tình với việc bổ sung kịp thời này của Dự thảo Luật.

Mặc dù còn đang ở giai đoạn khởi đầu, nhưng Dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt đã thu hút được sự quan tâm trao đổi của nhiều tầng lớp, các chuyên gia ở các ngành, các cấp trong xã hội. Để Dự thảo Luật này hoàn chỉnh và được Quốc hội xem xét thông qua, chắc sẽ còn nhiều vấn đề cần phải bàn luận kỹ lưỡng hơn.

Vinh Nguyễn & Lê Đăng Xuyên

Học viện Cảnh sát nhân dân

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: