Chủ nhật 14/06/2026 08:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về quyền lịch sử và phán quyết của Tòa trọng tài trong vụ kiện ở Biển Đông

Ngày 12/07/2016, Tòa trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển UNCLOS năm 1982 (sau đây gọi là Công ước) đã ban hành phán quyết cuối cùng đối với vụ kiện giữa Cộng hoà Philippines và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (sau đây gọi là Philippines và Trung Quốc) đối với các tranh chấp ở Biển Đông[1].


Một trong những nội dung quan trọng nhất trong phán quyết của Tòa là đã bác bỏ yêu sách quyền lịch sử trong khu vực “đường 9 đoạn” của Trung Quốc trên các vùng biển thuộc Biển Đông. Tòa đã khẳng định không có cơ sở pháp lý đối với tuyên bố quyền lịch sử của Trung Quốc đối với các tài nguyên ở Biển Đông bên ngoài giới hạn của các vùng biển mà Trung Quốc được hưởng theo Công ước. Phán quyết này có ý nghĩa không chỉ đối với Philippines, mà còn đối với các quốc gia trong tranh chấp ở Biển Đông, khi mà yêu sách quyền lịch sử trong khu vực “đường 9 đoạn” của Trung Quốc đã lấn sâu vào vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam.

Đây không phải lần đầu tiên một cơ quan tài phán quốc tế phủ nhận yêu sách quyền lịch sử như một cơ sở pháp lý cho yêu sách vùng biển, đặc biệt trong bối cảnh luật biển quốc tế đã có những quy định rõ ràng về phạm vi và giới hạn quyền của các quốc gia ven biển trong UNCLOS[2]. Nhìn nhận lại khái niệm quyền lịch sử qua thực tiễn các quốc gia, và phán quyết của Tòa án trong các vụ tranh chấp có liên quan, bài viết này sẽ giải thích nguồn gốc, khái niệm, và phân tích đặc điểm của quyền lịch sử qua quá trình pháp điển hóa luật biển quốc tế, thực tiễn áp dụng của các quốc gia, và phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế.

  1. Nguồn gốc và khái niệm quyền lịch sử trong luật biển quốc tế
Khái niệm quyền lịch sử (historic rights) chưa được quy định trong bất kì điều ước quốc tế nào về biển trong khi đó các khái niệm khác có yếu tố lịch sử như danh nghĩa lịch sử, vùng nước lịch sử, hay vịnh lịch sử đã được đề cập đến. Có thể hiểu yếu tố lịch sử trong hoạt động khai thác và sử dụng biển của các quốc gia thường được đề cập đến như một quá trình diễn biến của những sự kiện diễn ra từ quá khứ đến hiện tại, thông qua thực tiễn hoạt động của các quốc gia trên biển đối với các lợi ích mà các quốc gia có thể khai thác được từ biển như hoạt động đánh bắt cá, săn bắt các sinh vật biển… cho đến các hành động mang tính pháp lý để thực thi chủ quyền của một quốc gia. Vì vậy, điều không thể phủ nhận khi nhắc đến yếu tố lịch sử trong khái niệm quyền lịch sử hay danh nghĩa lịch sử, chính là nhấn mạnh đến yếu tố thời gian dài, mà bất kì quyền hay lợi ích các quốc gia muốn yêu sách để khẳng định các quyền lợi đó có hiệu lực từ lịch sử[3].

Như vậy, thông qua thực tiễn hoạt động sử dụng và khai thác biển, quyền lịch sử đã xuất hiện như một lập luận để các quốc gia yêu sách chủ quyền hoặc quyền chủ quyền của mình. Cụ thể, các quốc gia đã sử dụng quyền lịch sử để lập luận việc bảo tồn các hoạt động ngư trường truyền thống, hay các đặc quyền và quyền ưu tiên đối với hoạt động đánh bắt cá qua lịch sử sử dụng biển lâu dài[4] nhằm tối đa hóa lợi ích quốc gia ven biển so với các quốc gia khác cũng tiếp giáp vùng biển đó.

Yêu sách dựa trên lịch sử sử dụng biển lâu dài lần đầu tiên được Na Uy nêu ra trong vụ Ngư trường năm 1951 dựa trên danh nghĩa lịch sử, theo đó Na Uy có đặc quyền đánh cá và săn cá voi tại vùng biển Lopphavet thông qua việc Na Uy đã có quyền cấp phép những quyền đánh bắt này từ thế kỷ 17[5]. Quyền lịch sử cũng được nêu ra trong các vụ phân định biển như trong vụ phân định biển giữa Tunisia và Libya năm 1982, Tunisia đã yêu sách quyền lịch sử từ các hoạt động đánh cá trong thời gian dài[6], hay trong vụ phân định biển giữa Eritrea và Yemen năm 1999, cả hai quốc gia đã yêu cầu tòa giải quyết về quyền lịch sử liên quan đến đánh cá và thiết lập một khu vực chung để ngư dân của cả hai quốc gia có quyền khai thác[7]. Tương tự như vậy, trong vụ phân định biển giữa Barbados và Trinidad và Tobago, Barbados cũng đã yêu cầu quyền lịch sử về đánh cá trong vùng đặc quyền kinh tế của Trinidad và Tobago[8]. Gần đây nhất là vụ tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc kể từ năm 2013 ở Biển Đông. Trung Quốc đã yêu sách quyền lịch sử đối với các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật trong khu vực “đường 9 đoạn” ở Biển Đông, vượt quá những vùng biển mà Trung Quốc được hưởng theo UNCLOS[9].

Như vậy, quyền lịch sử qua hoạt động khai thác, sử dụng biển và thực tiễn tranh chấp giữa các quốc gia tồn tại rất hạn chế qua yêu sách biển của một vài quốc gia, chỉ được thiết lập ở quyền đánh cá và sau này mở rộng đến khai thác tài nguyên sinh vật hay phi sinh vật biển dựa trên lập luận lịch sử sử dụng biển lâu dài của quốc gia ven biển.

Nguồn gốc của quyền lịch sử gắn liền với hoạt động đánh bắt cá của con người. Đây là một hoạt động có tính lịch sử ra đời cách đây hơn bốn mươi ngàn năm, đặc biệt gắn liền với đời sống và mưu sinh của ngư dân các quốc gia ven biển ở nhiều vùng biển trên thế giới. Hoạt động đánh bắt cá này phản ánh các yếu tố mang tính văn hóa và xã hội, và thường được xếp loại là hoạt động mang quy mô nhỏ, tạo nên hoạt động ngư nghiệp mang tính truyền thống của cộng đồng[10]. Thực tiễn hoạt động đánh cá truyền thống này thường được giới hạn trong những vùng nước gần bờ và mang tính địa phương vì những hạn chế về mặt kỹ thuật bao gồm khả năng không thể đánh bắt xa bờ của cộng đồng ngư dân, cũng như những phương thức đánh bắt hạn chế để bảo vệ nguồn cá của họ[11]. Các hoạt động ngư trường truyền thống rõ ràng đã diễn ra trước khi con người có mong muốn thiết lập các quy định chung mang tính quốc tế để điều chỉnh quyền lợi giữa các quốc gia đối với việc khai thác và sử dụng biển tại các Hội nghị luật biển quốc tế trong thế kỷ 20[12]. Vì vậy, khi các quy định của các công ước quốc tế về luật biển ra đời, các quốc gia vẫn muốn bảo vệ các yêu sách của mình liên quan đến hoạt động đánh cá truyền thống[13].

Tại các hội nghị pháp điển hóa Luật Biển quốc tế lần thứ nhất và lần thứ hai, thất bại chủ yếu của các quốc gia là sự không thống nhất trong việc xác định chiều rộng lãnh hải, và giới hạn chủ quyền của quốc gia ven biển đối với nguồn tài nguyên, khi đó chủ yếu là vùng đánh cá trong vùng nước gần bờ biển của quốc gia ven biển[14]. Ví dụ Công ước Luật Biển năm 1958 sau hội nghị lần đầu tiên chỉ quy định chủ quyền và quyền chủ quyền giới hạn đến vùng tiếp giáp lãnh hải, phần còn lại của đại dương là biển cả - nơi các quốc gia đều có quyền bình đẳng trong việc khai thác tài nguyên thiên nhiên. Giai đoạn này cũng chứng kiến quá trình đấu tranh giành độc lập thoát khỏi chủ nghĩa thuộc địa của các quốc gia đang phát triển, và nhiều quốc gia mới ra đời muốn đảm bảo sự kiểm soát lớn hơn đối với vùng nước gần bờ biển của mình[15]. Việc thiếu vắng một hiệp định quốc tế và sự phát triển khả năng đánh bắt cá xa bờ của các quốc gia phát triển đã dẫn đến việc nhiều quốc gia đưa ra các tuyên bố đơn phương về vùng đánh cá riêng biệt với bề rộng rất khác nhau. Trên thực tế một số quốc gia có tiềm lực khai thác và đánh bắt cá đều tuyên bố mở rộng vùng đánh bắt cá tiềm năng đến phạm vi 200 hải lý[16], và không muốn chia sẻ nguồn lợi này cho các quốc gia khác. Vì vậy, các quốc gia này đã sử dụng yêu sách quyền lịch sử để lập luận mở rộng quyền đánh cá ở phạm vi này. Những tuyên bố như thế này, trong đó có các tuyên bố vùng đánh cá ưu tiên của Iceland trong các vụ Ngư trường cá giữa Anh - Iceland, hay Đức - Iceland[17], đã vấp phải sự phản đối của các quốc gia ven biển truyền thống mong muốn tìm kiếm giới hạn của chủ quyền quốc gia trên biển[18].

Tuy nhiên, khi Công ước UNCLOS năm 1982 ra đời, quy định vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý trong đó các quốc gia ven biển có đặc quyền đối với các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật của vùng nước, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thì nhu cầu về quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên của các quốc gia ven biển đã được đáp ứng. Do vậy, hầu hết các quốc gia không còn đưa ra yêu sách dựa trên quyền lịch sử, ngoài việc sử dụng để lập luận về hoàn cảnh hữu quan trong phân định các vùng biển chồng lấn, tuy nhiên Tòa án không công nhận các lập luận dựa này[19].

Như vậy, cùng với sự phát triển ngày càng rõ ràng của các quy chế vùng biển nêu ra trong Công ước Luật Biển năm 1982, các quốc gia đã được đảm bảo quyền lợi và chia sẻ lợi ích khai thác biển với nhau. Điều này đã giúp hạn chế rất nhiều các yêu sách mở rộng vùng biển dựa trên những căn cứ không còn phù hợp với Công ước Luật Biển năm 1982, tập quán quốc tế và nguyên tắc chung của luật quốc tế, trong đó yêu sách quyền lịch sử đã bị xem là lỗi thời, chỉ được hạn hữu chấp nhận trong những vụ liên quan đến quyền đánh cá truyền thống trước khi Công ước Luật Biển năm 1982 ra đời.
  1. Đặc điểm quyền lịch sử qua thực tiễn các phán quyết của Tòa án quốc tế
Theo nghiên cứu của Ủy ban Luật Quốc tế của Liên Hiệp Quốc vào năm 1962 về chế độ pháp lý đối với vùng nước lịch sử, bao gồm vịnh lịch sử, việc hình thành danh nghĩa lịch sử là quá trình thụ đắc quyền lịch sử, trong đó nêu rõ các yếu tố để xác định có tồn tại danh nghĩa đối với vùng nước lịch sử hay không dựa vào: (i) Quốc gia thực thi chủ quyền đối với vùng biển quốc gia yêu sách là vùng nước lịch sử; (ii) Việc liên tục thực thi chủ quyền đó;(iii) Sự công nhận của các quốc gia khác[20]. Trong phán quyết phân định biển giữa Tunisia và Libya năm 1982, Tòa án Công lý Quốc tế đã lập luận về điều kiện hình thành “quyền hay vùng nước lịch sử” dựa trên thụ đắc rằng điều kiện hình thành quyền lịch sử cũng phải thỏa mãn các điều kiện về thụ đắc của vùng nước lịch sử[21], hoàn toàn giống như nghiên cứu nói trên của Ủy ban Luật Quốc tế của Liên Hiệp Quốc. Nghiên cứu Ủy ban Luật Quốc tế của Liên Hiệp Quốc cũng được nhắc lại trong phán quyết Tòa trọng tài trong vụ tranh chấp biển giữa Philippines và Trung Quốc năm 2013, Tòa khẳng định việc vùng nước lịch sử chỉ là một dạng yêu sách của quyền lịch sử, và quá trình hình thành chủ quyền đối với vùng nước lịch sử cũng tương tự các yêu sách quyền chủ quyền khác của quyền lịch sử[22]. Như vậy, đối với quyền lịch sử hay vùng nước lịch sử, “các quyền này về cơ bản phải thỏa mãn các điều kiện giống, hoặc tương tự như các điều kiện về lịch sử sử dụng lâu dài hay là quá trình thực thi quyền yêu sách bởi quốc gia trong thời gian liên tục và sự công nhận của các quốc gia khác”[23].

Đặc điểm tính lịch sử sử dụng biển lâu dài và liên tục được phản ánh qua yêu sách của các quốc gia trong thực tiễn như: Yêu sách về đặc quyền đánh cá và săn cá voi được Na Uy dựa trên lịch sử của quyền này từ thế kỷ 17[24], yêu sách về quyền đánh cá ưu tiên của Iceland dựa trên thực tiễn được công nhận trong gần hai thế kỷ[25], yêu sách về quyền lịch sử của Tunisia dựa trên danh nghĩa lịch sử được thiết lập qua hàng thế kỷ[26] hay yêu sách quyền đánh cá thủ công truyền thống của Barbados kéo dài trong một thế kỷ[27].

Đối với yêu sách về quyền lịch sử của Trung Quốc trong khu vực “đường chín đoạn”, Tòa mở rộng việc xem xét các bằng chứng mang tính lịch sử để xác định liệu Trung Quốc thực sự có quyền lịch sử này hay không trước khi Trung Quốc gia nhập Công ước. Và kết luận quan trọng của Tòa khẳng định, Trung Quốc không có bằng chứng để chứng minh rằng Trung Quốc có quyền kiểm soát đối với các vùng nước và tài nguyên trong vùng biển nằm trong “đường chín đoạn”. Tòa cho rằng, Trung Quốc đã đưa ra các bằng chứng về lịch sử sử dụng các đảo ở Biển Đông, chứ không phải vùng nước trong khu vực “đường chín đoạn”, vì vậy Tòa không công nhận bằng chứng để thiết lập quyền lịch sử đối với vùng nước trong khu vực yêu sách. Đồng thời Tòa cũng cho rằng, việc quốc gia tự do thực thi các quyền được cho phép bởi luật pháp quốc tế cũng không thể dẫn đến việc yêu sách quyền lịch sử, và cũng không thể thỏa mãn điều kiện thiết lập quyền lịch sử liên quan đến yếu tố sự công nhận của các quốc gia khác[28]. Cụ thể Tòa cho rằng, việc Trung Quốc thực hiện tự do hàng hải, tự do thương mại và đánh cá vượt quá vùng lãnh hải theo Công ước là thể hiện quyền tự do biển cả, mà những hành động này được luật pháp quốc tế cho phép mọi quốc gia, kể cả Philippines và những quốc gia ven biển khác trong khu vực Biển Đông. Trước chiến tranh thế giới thứ hai, việc sử dụng đáy biển, vượt quá giới hạn lãnh hải, được xem là quyền tự do mở rộng cho bất kì quốc gia nào có thể khai thác tới, mặc dù trên thực tế, do sự phát triển về kỹ thuật, việc tiến hành khai thác mới chỉ nổi lên trong thời gian gần đây[29]. Vì vậy, nếu Trung Quốc muốn thiết lập yêu sách quyền lịch sử đối với tài nguyên sinh vật và phi sinh vật trong vùng nước ở Biển Đông, Trung Quốc cần nêu ra bằng chứng Trung Quốc đã thực hiện các hành động không được cho phép trong phạm vi quyền tự do biển cả và các quốc gia khác đều công nhận và cho phép việc Trung Quốc thực hiện các hành động đó, cụ thể có hai điều kiện được Tòa nêu ra: (i) Trung Quốc đã nỗ lực để ngăn chặn hoặc giới hạn việc khai thác các nguồn tài nguyên này bởi công dân của những quốc gia khác trong lịch sử; (ii) Các quốc gia khác chấp nhận sự hạn chế không cho khai thác này của Trung Quốc[30]. Và Tòa kết luận đã không tìm thấy bằng chứng để cho rằng, Trung Quốc trong lịch sử đã kiểm soát việc đánh cá ở Biển Đông, vượt quá giới hạn lãnh hải của Trung Quốc, cũng như việc khai thác đối với tài nguyên phi sinh vật dưới đáy biển. Việc khai thác đáy biển chỉ mới xuất hiện khi Ủy ban về đáy biển bắt đầu đàm phán những nội dung trong Công ước năm 1982, và việc khai thác chiết tách dầu đang trong giai đoạn sơ khai, chỉ được khai thác ở vùng nước sâu trong thời gian gần đây trong khi Tập đoàn dầu khí quốc gia Trung Quốc mới chỉ được thành lập năm 1982, cùng năm mà Trung Quốc ký Công ước. Vì vậy, Tòa cho rằng Trung Quốc trong lịch sử hoàn toàn không có những hành động kiểm soát hay ngăn chặn việc khai thác tài nguyên ở vùng đáy biển, để làm cơ sở cho yêu sách quyền lịch sử đối với các tài nguyên phi sinh vật dưới đáy biển[31].

Tòa tiếp tục xem xét kể từ khi Công ước có hiệu lực vào năm 1996, liệu có sự công nhận của các quốc gia khác đối với yêu sách của Trung Quốc hay không. Tòa nhận thấy, Tuyên bố 05/2009 của Trung Quốc lần đầu tiên nêu rõ bản đồ đường 9 đoạn gởi lên Liên Hiệp Quốc cùng với việc làm rõ các quyền yêu sách, tuyên bố này đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ bởi các quốc gia khác. Như vậy, theo quan điểm của Tòa, Trung Quốc không thể có được sự công nhận từ các quốc gia khác đối với yêu sách lịch sử của mình[32].

Như vậy, trong vụ kiện này, quyền lịch sử không phải là một cơ sở pháp lý để Trung Quốc yêu sách các vùng biển trong Biển Đông. Ý nghĩa quan trọng của phán quyết này là sự khẳng định tính phi lý của “đường chín đoạn”, và bác bỏ hoàn toàn yêu sách quyền lịch sử đối với vùng nước phía trong “đường chín đoạn”, nằm hoàn toàn bên ngoài giới hạn của các vùng biển mà Trung Quốc được hưởng theo Công ước.

Cùng với sự phát triển của luật biển quốc tế, đa số các quyền lịch sử hiện nay đã được thay thế bởi quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển trong vùng đặc quyền kinh tế. Quyền lịch sử của các quốc gia khác nếu có được thiết lập cũng phải nhường hiệu lực cho quyền chủ quyền và quyền tài phán mà Công ước Luật Biển năm 1982 quy định là đặc quyền cho các quốc gia ven biển. Tòa cũng phân tích rằng yêu sách về quyền lịch sử có thể có hiệu lực ở chừng mực mà các quyền lợi của quốc gia nêu ra trong yêu sách này phù hợp với hệ thống các vùng biển theo quy định của Công ước. Kể từ khi Công ước Luật Biển năm 1982 ra đời, quyền lịch sử đã được thay thế bởi quyền chủ quyền và quyền tài phán tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo quy định của Công ước. Lý do chính là, UNCLOS đã đáp ứng được tất cả các yêu sách hợp lý của các quốc gia ven biển, nên hầu hết các quốc gia không còn đưa ra yêu sách biển dựa trên quyền lịch sử. Trong quá trình đàm phán của Hội nghị luật biển lần thứ ba của Liên Hiệp Quốc, các quốc gia đã thống nhất loại bỏ nội dung vùng nước lịch sử và các quyền liên quan, cũng như loại bỏ quyền ưu tiên hay quyền lịch sử đánh bắt cá trong vùng đặc quyền kinh tế… trong Công ước Luật Biển năm 1982[33]. Trong vụ phân định biển giữa Tunisia và Libya năm 1982, Tòa Công lý Quốc tế đã khẳng định rằng việc viện dẫn quyền lịch sử không thể xâm phạm đến quyền chủ quyền và quyền tài phán đương nhiên tại thềm lục địa của một quốc gia khác[34]. Trong vụ tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc, Tòa cũng lập lại quan điểm trên khi bác bỏ những yêu sách quyền lịch sử của Trung Quốc vì đã xâm phạm vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Philippines[35].

3. Kết luận

Con người từ thời xa xưa đã biết tận dụng và khai thác đại dương cho giao thông hàng hải và đánh bắt cá. Nhằm mục đích bảo tồn hoạt động khai thác biển và tối đa hóa lợi ích quốc gia, một số quốc gia, trong đó có Trung Quốc đã sử dụng quyền lịch sử để mở rộng yêu sách trên biển. Từ thực tiễn các quốc gia và số ít các án lệ của Tòa án quốc tế về quyền lịch sử, để thỏa mãn yêu sách về quyền lịch sử, các quốc gia cần phải thực thi quyền lịch sử trong thời gian dài, liên tục và đạt được sự công nhận của các quốc gia khác. Tuy nhiên, đến nay khái niệm quyền lịch sử bị coi là lỗi thời, và đã bị các quốc gia đồng ý xóa bỏ khi Công ước Luật Biển năm 1982 về luật biển ra đời, bị thay thế bởi quyền chủ quyền và quyền tài phán trong Công ước tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Trong vụ tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc, yêu sách về quyền lịch sử mà Trung Quốc đưa ra đối với các tài nguyên ở Biển Đông trong khu vực “đường chín đoạn”, chiếm đến hơn 80% diện tích của vùng biển này mà không dựa trên các cơ sở pháp lý, không được thừa nhận bởi các quốc gia hữu quan, chồng lấn vào vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia ven biển là sự đi ngược lại các quy định của pháp luật quốc tế. Vì vậy, yêu sách phi lý này đã bị Tòa trọng tài bác bỏ trong vụ kiện trên.

ThS. Bạch Thị Nhã Nam
Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh


[1] Dựa theo Thông cáo báo chí của Tòa Trọng tài thường trực tại La Hague, Hà Lan được công bố trên website chính thức của tổ chức

[2] Trước khi Công ước Luật Biển năm 1982 có hiệu lực, Tòa án ICJ đã công nhận yêu sách quyền lịch sử của các quốc gia qua hai vụ việc: Vụ Ngư trường Na Uy năm 1951, và vụ phân định biển giữa Tunisia và Libya năm 1982. Tuy nhiên, trong các vụ tranh chấp sau đó, phán quyết của Tòa đã bác bỏ quyền lịch sử như một cơ sở pháp lý để các bên đưa ra yêu sách.

[3] Xem Clive Clive R. Symmons, Historic Waters in the Law of the Sea: A Modern Re-Appraisal (Vùng nước lịch sử trong luật biển: Một góc nhìn đánh giá lại mang tính hiện đại), Martinus Nijhoff Publisher, Leiden, Boston 2008, tr.2.

[4] Xem yêu sách của Iceland trong vụ ngư trường giữa Đức và Iceland, Báo cáo của Tòa án công lý quốc tế (“ICJ”), 1974

[5] “Những quyền này đã được trao cho Thiếu tá Hải quân Erich Lorch trên cơ sở một số giấy phép…và những ngư trường có liên quan được coi là nằm hoàn toàn trong chủ quyền của Na Uy.”, xem phán quyết ICJ Vụ Ngư trường Na Uy 1951, tr. 30

[6] Vụ phân định biển giữa Tunisia và Libya, Phán quyết của ICJ, 1982, đoạn 97 - 98, tr.57-58.

[7]Phán quyết của trọng tài trong vụ phân định biển giữa Eritrea và Yemen 1999 giai đoạn 2, đoạn 89 - 90

[8]Phán quyết của Tòa trọng tài trong vụ phân định biển giữa Barbados v. Trinidad và Tobago, 2006, đoạn 98

[9] Phán quyết Tòa trọng tài vụ tranh chấp biển giữa Philippines và Trung Quốc 2016, được công bố ngày 12/07/2016

[10] Xem thêm Food and Agriculture Organization (FAO). 2005-2010. Types of Fisheries. Topics Fact Sheets. Text by Andrew Smith

[11] Xem thêm Campbell and Wilson, “The Politics of Exclusion: Indonesian Fishing in the Australian Fishing Zone”, Indian Ocean Centre for Peace Studies, No. 5. Australia. 1993, p. 5, truy cập ngày 09/08/2016.

[12]Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1919), vào năm 1930, Hội Quốc Liên, tiền thân của Liên Hiệp Quốc đã triệu tập Hội nghị quốc tế về Luật Biển tại Thành phố La Haye của Hà Lan. Hội nghị này đã thừa nhận chủ quyền của quốc gia ven biển đối với lãnh hải và quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải, nhưng không thống nhất được chiều rộng lãnh hải. Tiếp đến, Hội nghị quốc tế về Luật Biển lần thứ nhất tại Genève 1958, do Liên Hiệp Quốc triệu tập, có 86 nước tham dự, đã thông qua được 4 công ước quốc tế về luật biển: Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải; Công ước về đánh cá và bảo tồn tài nguyên sinh vật; Công ước về thềm lục địa; Công ước về biển cả. Tuy nhiên, một số nội dung quan trọng chưa được giải quyết: Chiều rộng lãnh hải, quyền đi qua eo biển quốc tế, giới hạn vùng đánh cá, ranh giới ngoài của thềm lục địa. Năm 1960, cũng tại Genève, Liên Hiệp Quốc triệu tập Hội nghị Luật Biển lần thứ hai để giải quyết những tồn tại nói trên, nhưng hội nghị này cũng không đạt được kết quả. Năm 1973, Liên Hiệp Quốc triệu tập Hội nghị quốc tế về Luật Biển lần thứ ba để tiếp tục thảo luận và thông qua công ước Luật Biển mới, và kết quả đánh dấu sự ra đời của UNCLOS 1982.

[13]TS. Nguyễn Thị Lan Anh, “Tại sao Quyền lịch sử bị Công ước luật biển 1982 đưa vào lịch sử?”, Tìm kiếm Giải pháp vì Hòa bình và Công lý ở Biển Đông, TS. Đặng Đình Quý (chủ biên), Nxb. Thế giới, 2015, tr.326.

[14] Phán quyết Tòa trọng tài vụ tranh chấp biển giữa Philippines và Trung Quốc 2016, đoạn 248, tr.104.

[15] Đã dẫn.

[16]Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 (1939 - 1945), Hoa Kỳ khẳng định quyền bảo vệ nghề cá ở ngoài lãnh hải, đặc biệt là Tuyên bố Truman (1945) đã khẳng định chủ quyền đối với tài nguyên thiên nhiên của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc thềm lục địa của mình mà theo quan niệm lúc bấy giờ thì giới hạn của thềm lục địa kết thúc ở nơi có độ sâu 200m nước. Một số nước Nam Mỹ như Peru, Chile, Ecuador, (không có thềm lục địa tự nhiên), Panama, Brazil, El Salvador, Argentina, Nicaragua, cũng như một số nước Ả Rập và Caribbean cho rằng vùng đánh cá có thể mở rộng đến phạm vi 200 hải lý, nên đã đòi hỏi mở rộng một vùng biển rộng đến 200 hải lý trong quá trình thảo luận luật biển lần thứ ba. Xem thêm tại Nandan “The exclusive Economic zone: A Historacal Perspective”, The Law of the Sea, Essays in Memory of Jean Caroz, 1987.

[17] Vụ ngư trường giữa Anh - Iceland, Phán quyết, Báo cáo ICJ năm 1974, đoạn 47, tr.22; Vụ Ngư trường cá giữa Đức - Iceland, Phán quyết, Báo cáo ICJ năm 1974, đoạn 55, tr.25.

[18] Phán quyết Tòa trọng tài vụ tranh chấp biển giữa Philippines và Trung Quốc năm 2016, đoạn 248, tr.104.

[19] Vụ phân định biển giữa Qatar và Bahrain, Phán quyết, Báo cáo của năm ICJ, 2001, đoạn 236, tr.76-77, xem tại http://www.icj-cij.org/docket/files/87/7027.pdf. Trong vụ phân định biển này, Bahrain đã viện dẫn các hoạt động khai thác ngọc trai truyền thống như một hoàn cảnh hữu quan, nhưng Tòa Công lý quốc tế đã không chấp nhận lập luận này.

[20] Liên Hiệp Quốc, Chế độ pháp lý đối với vùng nước lịch sử, bao gồm vịnh lịch sử, Tài liệu Liên Hiệp Quốc UN doc.A/CN.4.143, đoạn 185 (9/03/1962).

[21] Vụ Phân định biển giữa Tunisia và Libya, Phán quyết, báo cáo ICJ, 1982, đoạn 100.

[22]Xem phán quyết Tòa trọng tài Vụ tranh chấp biển giữa Philippines và Trung Quốc 2016, đoạn 265, tr.113.

[23] Xem Clive Clive R. Symmons, Historic Waters in the Law of the Sea: A Modern Re-Appraisal (Vùng nước lịch sử trong luật biển: Một góc nhìn đánh giá lại mang tính hiện đại), Martinus Nijhoff Publisher, Leiden, Boston 2008, tr.4.

[24]Đã dẫn, Xem phán quyết ICJ Vụ Ngư trường Na Uy 1951, tr.142.

[25] Chính phủ Iceland đã lập luận về các quy định quyền ưu tiên tại Luật năm 1948 rằng: “Trước đây, khi các thiết bị đánh cá không hiệu quả như ngày nay, vấn đề nảy sinh trong một bối cảnh khác và việc Iceland trao đặc quyền đánh bắt cá trong các vùng biển lân cận nước này được mở rộng hơn so với thực tiễn thông thường được chấp nhận từ năm 1900”. Phán quyết vụ ngư trường Anh - Iceland, đoạn 20 và Vụ ngư trường Đức - Iceland, đoạn 21.

[26] Phán quyết vụ phân định biển giữa Tunisia và Libya, 1982, đoạn 99.

[27] Phán quyết vụ phân định biển giữa Barbados và Trinitrad & Tobago, 2006, đoạn 266.

[28] Xem phán quyết Tòa trọng tài Vụ tranh chấp biển giữa Philippines và Trung Quốc 2016, đoạn 268, tr.113. Tòa cũng nhấn mạnh lại quan điểm tương tự nêu trong vụ phân định vịnh Maine giữa Mỹ và Canada 1984, đoạn 270, tr.114.

[29] Đã dẫn, đoạn 269, tr.114.

[30] Đã dẫn, đoạn 270, tr.114.

[31] Đã dẫn, đoạn 270, tr.114 - tr.115.

[32] Đã dẫn, đoạn 275, tr.116.

[33] TS. Nguyễn Thị Lan Anh, “Tại sao Quyền lịch sử bị Công ước luật biển 1982 đưa vào lịch sử?”, Tìm kiếm Giải pháp vì Hòa bình và Công lý ở Biển Đông, TS. Đặng Đình Quý (chủ biên), Nxb. Thế giới, 2015, tr.334.

[34] Vụ phân định biển giữa Tunisia và Libya 1982, Phán quyết, Báo cáo ICJ, 1982, đoạn 100.

[35] Xem phán quyết Tòa trọng tài Vụ tranh chấp biển giữa Philippines và Trung Quốc 2016, đoạn 278, tr.117.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: