Thứ năm 16/04/2026 19:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về sự tương thích giữa pháp luật và thực tiễn phân cấp quản lý kinh tế tại Việt Nam

Hoạt động giám sát ngân sách nhà nước là việc xem xét, đánh giá các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thực hiện các quy định của Hiến pháp, pháp luật về tài chính - ngân sách trong toàn bộ các khâu của chu trình ngân sách. Điều này góp phần làm tăng sự minh bạch và hiệu quả trong quản lý ngân sách nhà nước, hơn nữa còn làm tăng lòng tin của người dân với cơ quan đại diện của nhân dân và với Nhà nước.

Tóm tắt: Trên cơ sở nghiên cứu, xác định mức độ phân chia quyền lực giữa trung ương và địa phương, bài viết liên hệ đến phân cấp, phân quyền tại Việt Nam và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

Abstract: On the basis of research and determination of the degree of power pision between the central and local governments, the article relates to decentralization and power devolution in Vietnam and makes some recommendations to improve the law on this issue.

1. Các mức độ phân chia quyền lực giữa trung ương và địa phương
Khi đề cập đến sự phân chia quyền lực giữa trung ương và địa phương nói chung cũng như trong quản lý kinh tế nói riêng, có khá nhiều quan điểm bàn về các mức độ phân chia này. Có thể tóm tắt một số quan điểm của các học giả trong nước như sau:
- Mức độ phân chia quyền lực trung ương và địa phương là biểu thị mức độ phát triển của yếu tố dân chủ từ thấp đến cao trong tổ chức quản lý theo lãnh thổ là: “Tập quyền, tản quyền, phân cấp quản lý, phân quyền, tự quản địa phương. Cũng có thể nói tự quản địa phương là hình thức phân cấp quản lý triệt để nhất”[1].
- Phân cấp hành chính bao gồm ba nhóm là: Phi tập trung (deconcentralization), ủy quyền (delegation) và phân quyền (devolution). Trong đó, “phân quyền là cấp độ phân cấp hành chính cao nhất...”[2].
- Quá trình phân cấp quản lý nhà nước về kinh tế có thể bao gồm các hình thức như: Tản quyền/ủy thác nhiệm vụ, ủy quyền và phân quyền[3]. Cùng quan điểm này, tuy thứ tự liệt kê có khác nhau nhưng một tác giả khác cho rằng: “Có ba thể loại về phân cấp hành chính là tản quyền, phân quyền và ủy quyền”[4].
- Tập trung hóa bao gồm tập quyền và tản quyền, còn phân quyền chính là phi tập trung hóa[5]. Khi nói về mức độ tự do trong việc ra quyết định tăng dần của tự quản địa phương, tác giả này cũng cho rằng có bốn cấp độ, gồm: Tự quản, tự chủ, tự quyết và tự trị.
Đối với các học giả nước ngoài, mỗi phát biểu sau được nghiên cứu về một khía cạnh của vấn đề. Theo đó:
- Phân cấp thường được chia nhỏ thành ba quy trình khác nhau nhưng có liên quan với nhau, đó là: Giảm tập trung (deconcentration), ủy quyền (delegation) và phân quyền (devolution). Các loại phân cấp (deconcentration) sau đó được phân thành ba loại là: Phân cấp chính trị (political decentralization), phân cấp hành chính (administrative decentralization) và phân cấp tài khóa (fiscal decentralization)[6].
- Phân cấp có thể được phân thành bốn loại là: Giảm tập trung, ủy quyền, phân quyền và tư nhân hóa. “Một số Chính phủ đã sử dụng cả bốn loại, đồng thời hoặc vào các thời điểm khác nhau. Một số bắt đầu với một cách tiếp cận và sau đó chuyển sang cách tiếp cận khác sau khi đánh giá kết quả ban đầu. Các Chính phủ khác đã sử dụng kết hợp cả bốn loại khác nhau”[7].
- “Phân cấp quản lý có thể được phân loại thêm thành giảm tập trung, ủy quyền và phân quyền”. Trong đó, “giảm tập trung cũng có thể được gọi là phân cấp hành chính”[8].
Đến đây, ta thấy quan điểm về phân cấp với các hình thức (hay các loại), các cấp độ phân cấp rất đa dạng và khó hình dung.
2. Nhận xét về các mức độ phân chia quyền lực giữa trung ương - địa phương và liên hệ đến phân cấp, phân quyền tại Việt Nam
Qua việc tổng hợp của tác giả, có thể nhận xét rằng:
- Phân cấp có năm mức độ phân chia quyền lực giữa trung ương và địa phương, từ thấp đến cao là: Tập quyền, tản quyền, phân cấp quản lý, phân quyền và tự quản địa phương. Trong đó, tập quyền và tản quyền là hai cấp độ biểu hiện quyền lực tập trung (hay “tập trung hóa”), còn phân quyền là biểu hiện quyền lực phi tập trung (hay “phi tập trung hóa”). Việt Nam đang ở mức thứ ba là phân cấp quản lý.
- Ở mức thứ ba, phân cấp quản lý có bốn cấp độ theo thứ tự tăng dần là: Giảm tập trung (tản quyền), ủy quyền, phân quyền và tư nhân hóa. Do vậy, cần phân biệt được “phân quyền” trong cấp độ này với “phân quyền” trong các mức độ phân chia quyền lực giữa trung ương và địa phương.
- Ở mức thứ tư, phân quyền có ba cấp độ tăng dần là: Giảm tập trung, chuyển giao quyền lực và ủy quyền. Do vậy, khi sử dụng thuật ngữ “ủy quyền” tại Việt Nam, ta hiểu đó là cấp độ thứ hai trong phân cấp quản lý (tức là ủy quyền trong phân cấp quản lý) chứ không phải cấp độ cao nhất trong phân quyền.
- Ở mức thứ năm - tự quản địa phương - mức cao nhất của sự phân chia quyền lực, có bốn mức độ tự do trong việc ra quyết định theo hướng tăng dần là: Tự quản, tự chủ, tự quyết và tự trị. Vì thế, cũng là tự quản địa phương nhưng tùy vào mức độ được trao quyền và tùy vào quốc gia/vùng lãnh thổ mà quyền tự do của các chính quyền tự quản ở đó khác nhau.
Trong số những nhận xét này, điểm đáng lưu ý nhất là chúng ta đang ở mức độ phân chia quyền lực thứ ba. Đây được xem là “một nấc thang”[9] trung gian giữa hai thái cực tập trung hóa và phi tập trung hóa, đang hướng đến phân quyền nhưng vẫn bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ. Nguyên tắc này được chủ trương từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI[10] cho đến nay vẫn chưa thay đổi. Nghị quyết mới nhất của Đại hội Đảng[11] vẫn xem phân cấp, phân quyền là chính sách hàng đầu cần phải quan tâm. Do vậy, vấn đề “đẩy mạnh phân cấp, phân quyền hợp lý, hiệu quả, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực bằng hệ thống pháp luật” thuộc đột phá chiến lược thứ nhất trong ba đột phá chiến lược phát triển đất nước được đặt ra tại Nghị quyết này.
Theo phân tích trên, tác giả cho rằng, “phân quyền” trong chủ trương của Đảng cần được hiểu đây là cấp độ cao nhất của phân cấp quản lý (phân quyền trong phân cấp quản lý), không phải phân quyền trong các mức độ phân chia quyền lực trung ương cho địa phương, tức là không phải ở mức phân quyền tiệm cận với tự quản địa phương. Do vậy, Hiến pháp năm 2013 cũng như các văn bản pháp luật hiện hành cần làm sáng tỏ vấn đề này để có sự tương thích giữa quy định của pháp luật với thực tiễn thi hành. Bởi lẽ, nếu không làm sáng tỏ vấn đề này thì “giới phân tích” có quyền đánh giá rằng, đây là một kiểu phân quyền không triệt để, hay là phân quyền hình thức.
Chẳng hạn, các quy định sau đây dù phù hợp với Việt Nam nhưng không phù hợp với bản chất của phân quyền:
Một là, quy định chức danh Chủ tịch Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp trên phê chuẩn (đối với cấp tỉnh thì do Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn)[12]. Quy định này phù hợp với Việt Nam hiện nay vì chúng ta chưa thể tự chủ đến mức địa phương có toàn quyền quyết định về nhân sự trong đơn vị hành chính của mình. Trong khoa học pháp lý cũng có nhiều ý kiến đề xuất pháp luật nên thay đổi theo hướng chức danh Chủ tịch Ủy ban nhân dân do cử tri bầu ra và không cần sự phê chuẩn của cấp trên.
Hai là, quy định “cơ quan nhà nước cấp trên trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền cho các cấp chính quyền địa phương”[13]. Tác giả cho rằng, quy định này cũng hợp lý vì việc thanh tra, kiểm tra của cấp trên trong trường hợp này là rất quan trọng. Câu từ của Luật cũng đã rất cẩn trọng khi quy định cấp trên “trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình” và phạm vi thanh tra, kiểm tra chỉ là “tính hợp hiến, hợp pháp”.
Như vậy, có thể nói, cả hai quy định trên đều phù hợp với Việt Nam trong giai đoạn phân cấp quản lý như hiện nay. Thế nhưng, nếu hiểu chúng ta đang trong giai đoạn phân quyền thì quy định trên trở nên bất cập. Bởi lẽ, đúng bản chất của phân quyền thì trách nhiệm của các “quan chức” dân cử được đề cao. Khi quyền ra quyết định được trao cho địa phương thì cơ quan hành chính phải giải trình trước cơ quan dân cử, còn “các quan chức dân cử sẽ chịu trách nhiệm giải trình trước cử tri chứ không phải là trước chính quyền các cấp cao hơn”[14].
Tuy nhiên, cũng cần nói thêm rằng, sự phù hợp ở đây không có nghĩa là pháp luật về phân cấp quản lý không cần thay đổi, hoàn thiện hay bổ sung. Bởi lẽ, Việt Nam không thể là trường hợp ngoại lệ về quản trị theo xu hướng phân quyền hiện nay trên thế giới. Chúng ta phải từng bước tiến tới giai đoạn thứ tư - giai đoạn phân quyền (phi tập trung) nên phải cải cách để sớm đạt cấp độ cao nhất trong phân cấp quản lý.
3. Kiến nghị
Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng, Việt Nam đã vượt qua giai đoạn tập quyền và tản quyền, đang thúc đẩy phân cấp quản lý. Mặc dù Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận thuật ngữ “phân quyền” nhưng đây chưa phải là cấp độ phân cấp thứ tư (phi tập trung) mà đang còn là “phân quyền” trong “phân cấp quản lý”. Xu hướng quốc tế hiện đại là các quốc gia trao quyền tự quản cho chính quyền địa phương. Do vậy, Việt Nam cần thúc đẩy phân quyền và tịnh tiến dần đến tự quản địa phương để bắt kịp với sự phát triển của xã hội đương đại.
Tuy nhiên, cần phải xác định rằng, hiện tại, chúng ta vẫn đang còn là “phân cấp quản lý”. Từ “phân quyền” đang được sử dụng trong Hiến pháp và pháp luật nước ta dễ gây sự nhầm lẫn với cấp độ phân quyền thứ tư (phi tập trung). Vì lẽ đó, các nhà làm luật cần phải thể hiện rõ ý đồ của mình thông qua các quy phạm liên quan đến phân cấp, phân quyền. Không nên sử dụng thuật ngữ chuyên môn “phân cấp, phân quyền” như hiện nay mà không giải thích trong đạo luật. Điều này là không phù hợp với Nghị quyết số 351/2017/UBTVQH14 ngày 14/3/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, theo đó, “trong văn bản có từ ngữ chuyên môn cần phải làm rõ nội dung thì từ ngữ đó phải được giải thích” (khoản 3 Điều 18).
Nghiên cứu về vị trí thứ bậc các mức độ phân chia quyền lực giữa trung ương và địa phương và các hình thức phân cấp, phân quyền, tác giả kiến nghị cần phải định hình và chọn một trong hai hướng đi sau:
Một là, nếu xác định Việt Nam đang trong giai đoạn “phân cấp quản lý” thì Luật Tổ chức chính quyền địa phương hiện hành cần cơ cấu thêm điều luật giải thích từ ngữ để làm sáng tỏ các thuật ngữ chuyên môn, trong đó có từ “phân cấp”, “phân quyền”. Bên cạnh đó, cần bổ sung các quy phạm pháp luật về mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc phân cấp quản lý; hệ thống các ngành, lĩnh vực phân cấp; các chủ thể phân cấp và được phân cấp; quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể…, để sớm đạt cấp độ cao nhất trong phân cấp quản lý. Nếu không sửa đổi Luật Tổ chức Chính phủ hiện hành và Luật Tổ chức chính quyền địa phương hiện hành thì một đạo luật phân cấp ra đời trong lúc này cũng là một giải pháp. Điều này nhằm làm rõ chúng ta đang “phân quyền” trong “phân cấp quản lý” nên việc tồn tại các quy định liên quan đến cơ chế phân cấp quản lý tập trung dân chủ như hiện nay là phù hợp, đồng thời thể hiện sự phân cấp từng bước của quản lý nhà nước, vì rõ ràng chúng ta chưa thật sự “chín” với “phân cấp quản lý” thì chưa thể vội bước sang giai đoạn “phân quyền” - mức độ thứ tư của phân chia quyền lực. Theo hướng này, từ “phân quyền” cần được sử dụng rõ nghĩa hơn (như phân tích nêu trên) trong các chủ trương, chính sách của Đảng cũng như pháp luật của Nhà nước.
Hai là, nếu xác định chúng ta đã vượt qua giai đoạn “phân cấp quản lý” và đang ở mức độ “phân quyền” (phi tập trung) thì còn nhiều vấn đề cần bàn về “pháp luật phân quyền ở Việt Nam”. Bởi lẽ, hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này còn quá mỏng, chưa thể thực thi chính sách này ngay trong hiện tại. Các giải pháp đề xuất cho hướng đi này không được đề cập trong phạm vi bài viết, nhưng có lẽ sự thay đổi cơ chế quản lý đối với chính quyền địa phương là một trong những vấn đề cần nhất. Đơn cử trong số đó có việc hình thành chức danh lãnh đạo hành chính địa phương. Theo đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp do Hội đồng nhân dân hoặc do cử tri địa phương bầu ra mà không cần sự phê chuẩn của cấp trên. Một thực tế cần thừa nhận rằng, bước đi này là quá sớm và có thể nói là chưa thể thực thi được trong giai đoạn hiện nay.
Thiết nghĩ, trong xu thế phát triển chung của thế giới cũng như diễn biến phức tạp của tình hình dịch bệnh, cần chú trọng việc kiện toàn hệ thống pháp luật nhằm cải cách, nâng cấp (chứ không chỉ đơn thuần là “thúc đẩy”) phân cấp quản lý để quá trình này thực sự chín muồi trước khi chuyển sang giai đoạn phân quyền. Song song đó, cần chú trọng công tác lập pháp sao cho hai quá trình này tương thích với nhau.

ThS. Trần Thị Mai Phước
Khoa Luật, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh



[1]. Nguyễn Cửu Việt, Trương Đắc Linh, 2011, “Sửa đổi Hiến pháp: Nhìn từ chiến lược phân cấp quản lý”, Tạp chí Khoa học pháp lý, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, số 3/2011.
[2]. Vũ Thành Tự Anh, 2012, Phân cấp quản lý kinh tế ở Việt Nam nhìn từ góc độ thể chế, Kỷ yếu Diễn đàn Kinh tế mùa Thu - Kinh tế Việt Nam 2012, triển vọng 2013: Đổi mới phân cấp trong cải cách thể chế.
[3]. Lê Xuân Bá, 2012, Phân cấp kinh tế tại Việt Nam: Cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp, Kỷ yếu Diễn đàn Kinh tế mùa Thu - Kinh tế Việt Nam 2012, triển vọng 2013: Đổi mới phân cấp trong cải cách thể chế.
[4]. Nguyễn Đăng Dung, 2010, Các hình thức phân cấp, phân quyền, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học 26 (2010) 207-213, tr. 209.
[5]. Bùi Đức Kháng, 2006, Phân cấp quản lý trong hệ thống hành chính nhà nước của chính quyền địa phương, Nxb. Tư pháp, tr. 30.
[6]. Stacey White, 2011, Government decentralization in the 21st century, A report of the CSIS program on crisis, conflicts, and cooperation, Washington, DC: Centre for Strategic and International Studies, tr. 2.
[7]. Dennis A.Rondinelli, John R. Nellis & G. Shabbir Cheema, 1983, Decentralization in developing countries, tr. 14.
[8]. Alex Brillantes JR, 2004, “Decentralization imperatives: Lessons from some Asian countries”, Journal of International Cooperation Studies, 12(1), tr. 4.
[9]. Từ dùng của Bùi Đức Kháng, 2006, Phân cấp quản lý trong hệ thống hành chính nhà nước của chính quyền địa phương, Nxb. Tư pháp, tr. 11 - 12.
[10]. Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) chủ trương: “… phải kiên quyết thực hiện phân cấp quản lý theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Việc phân cấp quản lý phải bảo đảm quyền làm chủ của ba cấp…”.
[11]. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII (năm 2021).
[12]. Điều 83 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và Điều 28 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).
[13]. Khoản 3 Điều 12 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).
[14]. Vũ Thành Tự Anh, 2012, Phân cấp quản lý kinh tế ở Việt Nam nhìn từ góc độ thể chế, Kỷ yếu Diễn đàn Kinh tế mùa Thu - Kinh tế Việt Nam 2012, triển vọng 2013: Đổi mới phân cấp trong cải cách thể chế.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: