Thứ bảy 27/06/2026 01:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Bàn về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Tóm tắt: Bài viết phân tích một số bất cập quy định trong tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, qua đó, tác giả đưa ra một số đề xuất nhằm hướng tới việc hoàn thiện quy định này.

Abstract: The article analyzes a number of inadequacies in the provisions of the crime of intentionally causing injury or harming the health of others, through which, the author makes some suggestions towards the improvement of this regulation.

1. Đặt vấn đề

Hiến chương của Tổ chức Y tế Thế giới năm 1946 quy định: “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội và không chỉ đơn thuần là không có triệu chứng bệnh lý hay có bệnh và việc hưởng thụ tiêu chuẩn sức khỏe cao nhất là một trong những quyền cơ bản của mỗi con người mà không có sự phân biệt chủng tộc, tôn giáo, niềm tin chính trị, điều kiện kinh tế hay xã hội. Tận hưởng quyền được chăm sóc sức khỏe là quan trọng đối với tất cả các khía cạnh khác trong cuộc sống của một người và đặc biệt quan trọng cho việc thụ hưởng các quyền con người khác”[1]. Kể từ khi Liên Hợp quốc thông qua bản Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966, thì quyền được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe đã trở thành một trong những quyền con người, quyền công dân cần được bảo vệ bằng pháp luật mà trước hết là pháp luật hình sự.

Nội luật hóa các văn kiện pháp lý quốc tế nêu trên, tất cả các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp năm 2013 của nước ta luôn dành một chương để quy định về quyền này. Điều 71 Hiến pháp năm 1992 và Điều 20 Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực hay bất kỳ hình thức nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”[2].

Thể chế hóa Điều 20 Hiến pháp năm 2013, nhiều chính sách xã hội và chính sách pháp luật đã được xây dựng và ban hành nhằm bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của con người. Đặc biệt, Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự) đã dành cả Chương 14 quy định các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người bao gồm 34 điều luật (từ Điều 123 đến Điều 156) với mục đích bảo vệ các quyền nhân thân nói trên. Trong đó, Điều 134 về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là một trong những tội được quy định nhằm bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của con người tránh khỏi sự xâm hại của hành vi phạm tội này[3].

2. Thực trạng quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại Điều 134 Bộ luật Hình sự

Nghiên cứu Điều 134 Bộ luật Hình sự và so sánh với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 thấy rằng, Điều 134 Bộ luật Hình sự có nhiều tình tiết mới được sửa đổi, bổ sung như: Dùng vũ khí, vật liệu nổ; dùng a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; phạm tội trong thời gian đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê; đối với người chữa bệnh cho mình. Bên cạnh đó, Điều 134 Bộ luật Hình sự cũng sửa đổi tình tiết “đối với trẻ em” thành “đối với người dưới 16 tuổi”, sửa đổi tình tiết “phụ nữ đang có thai” thành “phụ nữ mà biết là có thai”, sửa đổi tình tiết “để cản trở người thi hành công vụ” thành “đối với người thi hành công vụ”; loại bỏ các tình tiết “gây cố tật nhẹ cho nạn nhân; phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người; tái phạm nguy hiểm”. Đây là những tình tiết định tội trong trường hợp gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% (khoản 1 Điều 134). Ngoài ra, nhiều tình tiết tăng nặng định khung hình phạt của tội này đã được bổ sung như: “Phạm tội hai lần trở lên; tái phạm nguy hiểm” (khoản 2 Điều 134); “gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên” (khoản 4 Điều 134). Bên cạnh đó, khoản 5 Điều 134 Bộ luật Hình sự đã cụ thể hóa các tình tiết “dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác” quy định tại khoản 4 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 thành “làm chết hai người trở lên” và thành “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”…

Nhìn chung, những sửa đổi, bổ sung trong Điều 134 Bộ luật Hình sự là hết sức quan trọng, vì đã khắc phục được một số hạn chế của Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuy nhiên, khi nghiên cứu quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại Điều 134 Bộ luật Hình sự cho thấy vẫn còn một số vấn đề cần được tiếp tục thảo luận để làm rõ. Cụ thể:

Thứ nhất, về quy định một số tình tiết định lượng:

Một số tình tiết định lượng quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự cho thấy, những tình tiết này quy định còn chung chung, chưa cụ thể về số lượng người bị gây thương tích hoặc bị gây tổn hại cho sức khỏe hoặc số người chết do hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe gây ra cho bị hại mà lỗi đối với hậu quả chết người này là lỗi vô ý. Ví dụ tình tiết: Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của “người khác” được quy định tại các điểm a, đ khoản 2; a, c khoản 3; b, d khoản 4 hoặc “làm chết người” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Việc quy định chung chung như trên đã gây ra sự hiểu nhầm, hiểu không thống nhất về số người bị cố ý gây thương tích hoặc bị gây tổn hại cho sức khỏe, hoặc số người chết do hành vi cố ý gây thương tích hoặc bị gây tổn hại cho sức khỏe gây ra trong một số trường hợp. Hơn nữa cách quy định như đã nói ở trên cũng không tương thích, không thống nhất về mặt kỹ thuật lập pháp khi quy định những tình tiết tăng nặng định khung khác của Điều luật này. Ví dụ: Điểm b khoản 2; điểm b, d khoản 3; điểm c, đ khoản 4; điểm b khoản 5 Điều 134 quy định: “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên…” hoặc điểm a khoản 5 Điều 134 quy định: “Làm chết 02 người trở lên”. Bên cạnh đó, cách quy định này cũng không tương thích, không thống nhất với kỹ thuật lập pháp của một số điều luật khác trong Bộ luật Hình sự (các điều 260, 261, 262). Ví dụ: Điểm b khoản 1 Điều 260 về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định: “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người…” hoặc điểm đ khoản 2 Điều 260 quy định: “Làm chết 02 người”; điểm a khoản 3 Điều 260 quy định: “Làm chết 03 người trở lên”.

Thứ hai, về quy định hành vi chuẩn bị phạm tội tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự:

Điều 14 Bộ luật Hình sự quy định: “Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này”. Như vậy, về mặt luật định, khái niệm về chuẩn bị phạm tội tại Điều 14 đã được các nhà làm luật quy định vừa có tính khái quát, vừa cụ thể với những dấu hiệu đặc trưng, điển hình của mọi trường hợp chuẩn bị phạm tội. Việc một người “chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm” không chỉ là những “biểu hiện” cụ thể của hành vi chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại khoản 6 Điều 134, mà còn có thể là những “biểu hiện” cụ thể của hành vi chuẩn bị phạm tội của rất nhiều tội khác đã được liệt kê tại khoản 2 Điều 14. Ví dụ như, chuẩn bị phạm tội của Tội bạo loạn (Điều 112); Tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 114); Tội giết người (Điều 123); Tội cướp tài sản (Điều 168); Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169) … Bộ luật Hình sự. Do đó, khi quy định về hành vi chuẩn bị phạm tội của những tội này (24 tội danh còn lại ngoại trừ tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại khoản 2 Điều 14 Bộ luật Hình sự), nhà làm luật đã không quy định theo cách mô tả những “biểu hiện” cụ thể, riêng biệt của hành vi chuẩn bị phạm tội như khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự, mà chỉ quy định một cách khái quát: “Người chuẩn bị phạm tội này thì bị phạt tù từ … năm đến … năm”. Như vậy, về kỹ thuật lập pháp thì ở các điều luật khác (không phải Điều 134) của Bộ luật Hình sự không giới hạn phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của hành vi chuẩn bị phạm tội tương ứng[4]. Từ sự phân tích trên cho thấy, việc quy định theo cách mô tả những “biểu hiện” cụ thể của hành vi chuẩn bị phạm tội tại khoản 6 Điều 134 trong sự so sánh với 24 tội danh còn lại có quy định hành vi chuẩn bị phạm tội là không thống nhất, không có sự tương thích, đồng thời sẽ gặp phải một số khó khăn khi áp dụng pháp luật trong một số trường hợp.

Thứ ba, về tình tiết “dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm”:

Đây là tình tiết định tội được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự và cũng là tình tiết định khung tăng nặng quy định tại các điểm đ khoản 2; điểm c khoản 3 và điểm d khoản 4 của Điều này. Tuy nhiên, nội dung của tình tiết nêu trên cần phải hiểu thế nào là chính xác theo tinh thần mà Điều luật này đã quy định là một vấn đề quan trọng cần phải đặt ra để giải thích. Cụ thể, danh mục những loại a-xít, hóa chất được quy định trong văn bản nào; người phạm tội sử dụng với hàm lượng bao nhiêu để gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì mới được coi là dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm; nếu phải căn cứ vào hàm lượng a-xít hoặc hàm lượng hóa chất mà người phạm tội đã sử dụng để gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, qua đó mới có thể xác định được tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội này đã đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự chưa thì hàm lượng a-xít hoặc hàm lượng hóa chất là bao nhiêu… hay chỉ cần người phạm tội dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm với bất kỳ hàm lượng nào để gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại phù hợp với quy định của điều luật thì người này phải chịu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt tương ứng. Tất cả những vấn đề này cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời, chưa được các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn, giải thích. Điều đó đã gây ra sự không thống nhất trong nhận thức cũng như khó khăn khi áp dụng tình tiết này trong thực tiễn.

3. Đề xuất hoàn thiện Điều 134 Bộ luật Hình sự

Thứ nhất, cần sửa đổi một số tình tiết định lượng về số lượng người bị gây thương tích hoặc bị gây tổn hại cho sức khỏe hoặc số người chết do hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác gây ra mà lỗi của người phạm tội đối với hậu quả chết người này là lỗi vô ý trong một số trường hợp. Một mặt để tránh sự nhận thức khác nhau về cùng một tình tiết qua đó mà áp dụng pháp luật được thống nhất trong thực tiễn, mặt khác còn tạo ra sự tương thích, thống nhất với những tình tiết tăng nặng định khung khác của Điều luật này. Cụ thể, sửa đổi cụm từ “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” quy định tại khoản 1; điểm a khoản 2; điểm a, c khoản 3; điểm b, d khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự thành “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người” hoặc sửa đổi cụm từ “gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của 01 người”; “làm chết người” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự thành “làm chết 01 người”.

Thứ hai, cần sửa đổi, bổ sung một số tình tiết tăng nặng định khung trong trường hợp vụ án có từ 02 người trở lên bị gây thương tích hoặc bị gây tổn hại cho sức khỏe. Với trường hợp này thì nên quy định theo hướng: Xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này là tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của họ, thay cho cách quy định như hiện nay nhằm khắc phục trường hợp 02 người trở lên bị gây thương tích hoặc bị gây tổn hại cho sức khỏe nhưng với tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này là rất khác nhau, vì vậy, tình tiết này được quy định ở các khung hình phạt khác nhau. Với những trường hợp như trên đã gây ra không ít khó khăn cho Tòa án khi lựa chọn khung hình phạt để áp dụng đối với người phạm tội. Về vấn đề này, khi nghiên cứu kỹ thuật lập pháp như cách mà nhà làm luật đã thực hiện đối với một số tội trong Bộ luật Hình sự, cụ thể: Tội vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260); Tội cản trở giao thông đường bộ (Điều 261); Tội đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không bảo đảmn toàn (Điều 262)… trong trường hợp vụ án có từ 02 người trở lên bị gây thương tích hoặc bị gây tổn hại cho sức khỏe thì các tội danh trên đều quy định cách xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể. Ví dụ: Điểm c khoản 1 Điều 260 quy định, “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%”; điểm b khoản 3 Điều 262 quy định, “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%”… Theo tác giả, nếu sửa đổi một số tình tiết xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của 02 người trở lên là tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của họ như kỹ thuật lập pháp mà các nhà làm luật đã thực hiện khi xây dựng các điều 260, 261, 262… Bộ luật Hình sự thì sẽ khắc phục được một số vướng mắc như đã phân tích ở trên.

Thứ ba, cần sửa đổi khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự theo hướng khái quát hơn như cách mà nhà làm luật đã quy định về chuẩn bị phạm tội đối với 24 tội danh (ngoại trừ Điều 134) quy định tại khoản 2 Điều 14 Bộ luật Hình sự. Nếu trên thực tế người phạm tội có hành vi chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm… để thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà hành vi chuẩn bị này lại có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm của một tội danh độc lập khác được quy định trong Bộ luật Hình sự, thì về nguyên tắc, người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội danh độc lập này ngoài việc phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Ví dụ: Một người chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm… để thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì người này ngoài việc phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự, đồng thời họ còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng (Điều 304) hoặc tội tàng trữ trái phép vật liệu nổ (Điều 305) Bộ luật Hình sự nếu có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm của một tội danh độc lập này. Đây là cách xử lý phổ biến đã được áp dụng trong nhiều năm qua (trước khi có Bộ luật Hình sự), không khó khăn và cũng không mâu thuẫn với lý luận khoa học luật hình sự về vấn đề định tội danh. Như vậy, khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự cần sửa đổi theo hướng: “... 6. Người chuẩn bị phạm tội này thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”.

Thứ tư, giải thích và hướng dẫn một số nội dung của Điều 134 Bộ luật Hình sự: Các cơ quan có thẩm quyền có thể căn cứ vào Luật Hóa chất năm 2007 để hướng dẫn, giải thích một cách chi tiết tình tiết “hóa chất nguy hiểm” là gì[5]. Tuy nhiên, về tình tiết “a-xít nguy hiểm” thì hiện nay vẫn chưa có quy định rõ ràng và hướng dẫn cụ thể. Thế nào là a-xít nguy hiểm, có bao nhiêu loại a-xít nguy hiểm, a-xít được sử dụng với hàm lượng bao nhiêu được coi là a-xít nguy hiểm...? Như vậy, để giải quyết các vướng mắc nói trên, các cơ quan có trách nhiệm cần nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm của các nhà khoa học có chuyên môn sâu về lĩnh vực này để hướng dẫn, giải thích một cách chính thức, cụ thể tình tiết này, qua đó giúp cho việc áp dụng tình tiết “a-xít nguy hiểm” được thống nhất và hiệu quả trong thực tiễn.

PGS.TS. Trương Quang Vinh

Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Xem: Hiến chương của Tổ chức Y tế Thế giới năm 1946.

[2]. Điều 71 Hiến pháp năm 1992 và Điều 20 Hiến pháp 2013.

[3]. Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Chương 14. Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người.

[4] .TS. Nguyễn Mai Bộ và Vũ Thị Hà, Quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự không phải là một cấu thành tội phạm độc lập, https://tapchitoaan.vn/quy-dinh-tai-khoan-6-dieu-134-blhs-khong-phai-la-mot-cau-thanh-toi-pham-doc-lap6677.html, truy cập 25/5/2023.

[5]. Xem: Khoản 4 Điều 4 Luật Hóa chất năm 2007.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 382), tháng 6/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: