Thứ sáu 16/01/2026 01:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Bàn về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Tóm tắt: Bài viết phân tích một số bất cập quy định trong tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, qua đó, tác giả đưa ra một số đề xuất nhằm hướng tới việc hoàn thiện quy định này.

Abstract: The article analyzes a number of inadequacies in the provisions of the crime of intentionally causing injury or harming the health of others, through which, the author makes some suggestions towards the improvement of this regulation.

1. Đặt vấn đề

Hiến chương của Tổ chức Y tế Thế giới năm 1946 quy định: “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội và không chỉ đơn thuần là không có triệu chứng bệnh lý hay có bệnh và việc hưởng thụ tiêu chuẩn sức khỏe cao nhất là một trong những quyền cơ bản của mỗi con người mà không có sự phân biệt chủng tộc, tôn giáo, niềm tin chính trị, điều kiện kinh tế hay xã hội. Tận hưởng quyền được chăm sóc sức khỏe là quan trọng đối với tất cả các khía cạnh khác trong cuộc sống của một người và đặc biệt quan trọng cho việc thụ hưởng các quyền con người khác”[1]. Kể từ khi Liên Hợp quốc thông qua bản Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966, thì quyền được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe đã trở thành một trong những quyền con người, quyền công dân cần được bảo vệ bằng pháp luật mà trước hết là pháp luật hình sự.

Nội luật hóa các văn kiện pháp lý quốc tế nêu trên, tất cả các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp năm 2013 của nước ta luôn dành một chương để quy định về quyền này. Điều 71 Hiến pháp năm 1992 và Điều 20 Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực hay bất kỳ hình thức nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”[2].

Thể chế hóa Điều 20 Hiến pháp năm 2013, nhiều chính sách xã hội và chính sách pháp luật đã được xây dựng và ban hành nhằm bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của con người. Đặc biệt, Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự) đã dành cả Chương 14 quy định các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người bao gồm 34 điều luật (từ Điều 123 đến Điều 156) với mục đích bảo vệ các quyền nhân thân nói trên. Trong đó, Điều 134 về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là một trong những tội được quy định nhằm bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của con người tránh khỏi sự xâm hại của hành vi phạm tội này[3].

2. Thực trạng quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại Điều 134 Bộ luật Hình sự

Nghiên cứu Điều 134 Bộ luật Hình sự và so sánh với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 thấy rằng, Điều 134 Bộ luật Hình sự có nhiều tình tiết mới được sửa đổi, bổ sung như: Dùng vũ khí, vật liệu nổ; dùng a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; phạm tội trong thời gian đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê; đối với người chữa bệnh cho mình. Bên cạnh đó, Điều 134 Bộ luật Hình sự cũng sửa đổi tình tiết “đối với trẻ em” thành “đối với người dưới 16 tuổi”, sửa đổi tình tiết “phụ nữ đang có thai” thành “phụ nữ mà biết là có thai”, sửa đổi tình tiết “để cản trở người thi hành công vụ” thành “đối với người thi hành công vụ”; loại bỏ các tình tiết “gây cố tật nhẹ cho nạn nhân; phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người; tái phạm nguy hiểm”. Đây là những tình tiết định tội trong trường hợp gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% (khoản 1 Điều 134). Ngoài ra, nhiều tình tiết tăng nặng định khung hình phạt của tội này đã được bổ sung như: “Phạm tội hai lần trở lên; tái phạm nguy hiểm” (khoản 2 Điều 134); “gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên” (khoản 4 Điều 134). Bên cạnh đó, khoản 5 Điều 134 Bộ luật Hình sự đã cụ thể hóa các tình tiết “dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác” quy định tại khoản 4 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 thành “làm chết hai người trở lên” và thành “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”…

Nhìn chung, những sửa đổi, bổ sung trong Điều 134 Bộ luật Hình sự là hết sức quan trọng, vì đã khắc phục được một số hạn chế của Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuy nhiên, khi nghiên cứu quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại Điều 134 Bộ luật Hình sự cho thấy vẫn còn một số vấn đề cần được tiếp tục thảo luận để làm rõ. Cụ thể:

Thứ nhất, về quy định một số tình tiết định lượng:

Một số tình tiết định lượng quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự cho thấy, những tình tiết này quy định còn chung chung, chưa cụ thể về số lượng người bị gây thương tích hoặc bị gây tổn hại cho sức khỏe hoặc số người chết do hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe gây ra cho bị hại mà lỗi đối với hậu quả chết người này là lỗi vô ý. Ví dụ tình tiết: Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của “người khác” được quy định tại các điểm a, đ khoản 2; a, c khoản 3; b, d khoản 4 hoặc “làm chết người” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Việc quy định chung chung như trên đã gây ra sự hiểu nhầm, hiểu không thống nhất về số người bị cố ý gây thương tích hoặc bị gây tổn hại cho sức khỏe, hoặc số người chết do hành vi cố ý gây thương tích hoặc bị gây tổn hại cho sức khỏe gây ra trong một số trường hợp. Hơn nữa cách quy định như đã nói ở trên cũng không tương thích, không thống nhất về mặt kỹ thuật lập pháp khi quy định những tình tiết tăng nặng định khung khác của Điều luật này. Ví dụ: Điểm b khoản 2; điểm b, d khoản 3; điểm c, đ khoản 4; điểm b khoản 5 Điều 134 quy định: “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên…” hoặc điểm a khoản 5 Điều 134 quy định: “Làm chết 02 người trở lên”. Bên cạnh đó, cách quy định này cũng không tương thích, không thống nhất với kỹ thuật lập pháp của một số điều luật khác trong Bộ luật Hình sự (các điều 260, 261, 262). Ví dụ: Điểm b khoản 1 Điều 260 về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định: “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người…” hoặc điểm đ khoản 2 Điều 260 quy định: “Làm chết 02 người”; điểm a khoản 3 Điều 260 quy định: “Làm chết 03 người trở lên”.

Thứ hai, về quy định hành vi chuẩn bị phạm tội tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự:

Điều 14 Bộ luật Hình sự quy định: “Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này”. Như vậy, về mặt luật định, khái niệm về chuẩn bị phạm tội tại Điều 14 đã được các nhà làm luật quy định vừa có tính khái quát, vừa cụ thể với những dấu hiệu đặc trưng, điển hình của mọi trường hợp chuẩn bị phạm tội. Việc một người “chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm” không chỉ là những “biểu hiện” cụ thể của hành vi chuẩn bị phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại khoản 6 Điều 134, mà còn có thể là những “biểu hiện” cụ thể của hành vi chuẩn bị phạm tội của rất nhiều tội khác đã được liệt kê tại khoản 2 Điều 14. Ví dụ như, chuẩn bị phạm tội của Tội bạo loạn (Điều 112); Tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 114); Tội giết người (Điều 123); Tội cướp tài sản (Điều 168); Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169) … Bộ luật Hình sự. Do đó, khi quy định về hành vi chuẩn bị phạm tội của những tội này (24 tội danh còn lại ngoại trừ tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác quy định tại khoản 2 Điều 14 Bộ luật Hình sự), nhà làm luật đã không quy định theo cách mô tả những “biểu hiện” cụ thể, riêng biệt của hành vi chuẩn bị phạm tội như khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự, mà chỉ quy định một cách khái quát: “Người chuẩn bị phạm tội này thì bị phạt tù từ … năm đến … năm”. Như vậy, về kỹ thuật lập pháp thì ở các điều luật khác (không phải Điều 134) của Bộ luật Hình sự không giới hạn phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của hành vi chuẩn bị phạm tội tương ứng[4]. Từ sự phân tích trên cho thấy, việc quy định theo cách mô tả những “biểu hiện” cụ thể của hành vi chuẩn bị phạm tội tại khoản 6 Điều 134 trong sự so sánh với 24 tội danh còn lại có quy định hành vi chuẩn bị phạm tội là không thống nhất, không có sự tương thích, đồng thời sẽ gặp phải một số khó khăn khi áp dụng pháp luật trong một số trường hợp.

Thứ ba, về tình tiết “dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm”:

Đây là tình tiết định tội được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự và cũng là tình tiết định khung tăng nặng quy định tại các điểm đ khoản 2; điểm c khoản 3 và điểm d khoản 4 của Điều này. Tuy nhiên, nội dung của tình tiết nêu trên cần phải hiểu thế nào là chính xác theo tinh thần mà Điều luật này đã quy định là một vấn đề quan trọng cần phải đặt ra để giải thích. Cụ thể, danh mục những loại a-xít, hóa chất được quy định trong văn bản nào; người phạm tội sử dụng với hàm lượng bao nhiêu để gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì mới được coi là dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm; nếu phải căn cứ vào hàm lượng a-xít hoặc hàm lượng hóa chất mà người phạm tội đã sử dụng để gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, qua đó mới có thể xác định được tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội này đã đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự chưa thì hàm lượng a-xít hoặc hàm lượng hóa chất là bao nhiêu… hay chỉ cần người phạm tội dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm với bất kỳ hàm lượng nào để gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại phù hợp với quy định của điều luật thì người này phải chịu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt tương ứng. Tất cả những vấn đề này cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời, chưa được các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn, giải thích. Điều đó đã gây ra sự không thống nhất trong nhận thức cũng như khó khăn khi áp dụng tình tiết này trong thực tiễn.

3. Đề xuất hoàn thiện Điều 134 Bộ luật Hình sự

Thứ nhất, cần sửa đổi một số tình tiết định lượng về số lượng người bị gây thương tích hoặc bị gây tổn hại cho sức khỏe hoặc số người chết do hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác gây ra mà lỗi của người phạm tội đối với hậu quả chết người này là lỗi vô ý trong một số trường hợp. Một mặt để tránh sự nhận thức khác nhau về cùng một tình tiết qua đó mà áp dụng pháp luật được thống nhất trong thực tiễn, mặt khác còn tạo ra sự tương thích, thống nhất với những tình tiết tăng nặng định khung khác của Điều luật này. Cụ thể, sửa đổi cụm từ “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” quy định tại khoản 1; điểm a khoản 2; điểm a, c khoản 3; điểm b, d khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự thành “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người” hoặc sửa đổi cụm từ “gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của 01 người”; “làm chết người” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự thành “làm chết 01 người”.

Thứ hai, cần sửa đổi, bổ sung một số tình tiết tăng nặng định khung trong trường hợp vụ án có từ 02 người trở lên bị gây thương tích hoặc bị gây tổn hại cho sức khỏe. Với trường hợp này thì nên quy định theo hướng: Xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này là tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của họ, thay cho cách quy định như hiện nay nhằm khắc phục trường hợp 02 người trở lên bị gây thương tích hoặc bị gây tổn hại cho sức khỏe nhưng với tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này là rất khác nhau, vì vậy, tình tiết này được quy định ở các khung hình phạt khác nhau. Với những trường hợp như trên đã gây ra không ít khó khăn cho Tòa án khi lựa chọn khung hình phạt để áp dụng đối với người phạm tội. Về vấn đề này, khi nghiên cứu kỹ thuật lập pháp như cách mà nhà làm luật đã thực hiện đối với một số tội trong Bộ luật Hình sự, cụ thể: Tội vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260); Tội cản trở giao thông đường bộ (Điều 261); Tội đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không bảo đảmn toàn (Điều 262)… trong trường hợp vụ án có từ 02 người trở lên bị gây thương tích hoặc bị gây tổn hại cho sức khỏe thì các tội danh trên đều quy định cách xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể. Ví dụ: Điểm c khoản 1 Điều 260 quy định, “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%”; điểm b khoản 3 Điều 262 quy định, “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%”… Theo tác giả, nếu sửa đổi một số tình tiết xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của 02 người trở lên là tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của họ như kỹ thuật lập pháp mà các nhà làm luật đã thực hiện khi xây dựng các điều 260, 261, 262… Bộ luật Hình sự thì sẽ khắc phục được một số vướng mắc như đã phân tích ở trên.

Thứ ba, cần sửa đổi khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự theo hướng khái quát hơn như cách mà nhà làm luật đã quy định về chuẩn bị phạm tội đối với 24 tội danh (ngoại trừ Điều 134) quy định tại khoản 2 Điều 14 Bộ luật Hình sự. Nếu trên thực tế người phạm tội có hành vi chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm… để thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà hành vi chuẩn bị này lại có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm của một tội danh độc lập khác được quy định trong Bộ luật Hình sự, thì về nguyên tắc, người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội danh độc lập này ngoài việc phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Ví dụ: Một người chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm… để thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì người này ngoài việc phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự, đồng thời họ còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng (Điều 304) hoặc tội tàng trữ trái phép vật liệu nổ (Điều 305) Bộ luật Hình sự nếu có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm của một tội danh độc lập này. Đây là cách xử lý phổ biến đã được áp dụng trong nhiều năm qua (trước khi có Bộ luật Hình sự), không khó khăn và cũng không mâu thuẫn với lý luận khoa học luật hình sự về vấn đề định tội danh. Như vậy, khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự cần sửa đổi theo hướng: “... 6. Người chuẩn bị phạm tội này thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”.

Thứ tư, giải thích và hướng dẫn một số nội dung của Điều 134 Bộ luật Hình sự: Các cơ quan có thẩm quyền có thể căn cứ vào Luật Hóa chất năm 2007 để hướng dẫn, giải thích một cách chi tiết tình tiết “hóa chất nguy hiểm” là gì[5]. Tuy nhiên, về tình tiết “a-xít nguy hiểm” thì hiện nay vẫn chưa có quy định rõ ràng và hướng dẫn cụ thể. Thế nào là a-xít nguy hiểm, có bao nhiêu loại a-xít nguy hiểm, a-xít được sử dụng với hàm lượng bao nhiêu được coi là a-xít nguy hiểm...? Như vậy, để giải quyết các vướng mắc nói trên, các cơ quan có trách nhiệm cần nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm của các nhà khoa học có chuyên môn sâu về lĩnh vực này để hướng dẫn, giải thích một cách chính thức, cụ thể tình tiết này, qua đó giúp cho việc áp dụng tình tiết “a-xít nguy hiểm” được thống nhất và hiệu quả trong thực tiễn.

PGS.TS. Trương Quang Vinh

Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Xem: Hiến chương của Tổ chức Y tế Thế giới năm 1946.

[2]. Điều 71 Hiến pháp năm 1992 và Điều 20 Hiến pháp 2013.

[3]. Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Chương 14. Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người.

[4] .TS. Nguyễn Mai Bộ và Vũ Thị Hà, Quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự không phải là một cấu thành tội phạm độc lập, https://tapchitoaan.vn/quy-dinh-tai-khoan-6-dieu-134-blhs-khong-phai-la-mot-cau-thanh-toi-pham-doc-lap6677.html, truy cập 25/5/2023.

[5]. Xem: Khoản 4 Điều 4 Luật Hóa chất năm 2007.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 382), tháng 6/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: