Thứ ba 13/01/2026 12:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về trách nhiệm của người thi công trong bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra

Tóm tắt: Bài viết bàn luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra, so sánh quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam với quy định của Bộ luật Dân sự một số nước về vấn đề này và đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

Abstract: The paper discusses the compensation liability for damages of work executer in the liability of compensation for damages caused by house, other construction works in comparison of regulations of the Vietnamese Civil Code with the Civil Codes of some countries regarding this issue and makes proposals for law completion.

Quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công là một quy định hoàn toàn mới của Bộ luật Dân sự năm 2015. Mặc dù pháp luật không định nghĩa khái niệm “người thi công”, tuy nhiên, theo cách hiểu thông thường, “thi công” là “tiến hành xây dựng công trình theo thiết kế”[1]. Dưới góc độ pháp lý, “thi công xây dựng công trình gồm xây dựng và lắp đặt thiết bị đối với công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi; phá dỡ công trình; bảo hành, bảo trì công trình xây dựng”[2]. Vậy “người thi công” được hiểu là người tiến hành các hoạt động xây dựng, lắp đặt thiết bị đối với công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi; phá dỡ công trình; bảo hành, bảo trì công trình xây dựng theo thiết kế. Nghiên cứu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công, nhận thấy có một số vấn đề như sau:

Thứ nhất, về bản chất trách nhiệm

Xét về bản chất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra là một loại trách nhiệm bồi thường do tài sản gây thiệt hại. Để được bồi thường, nguyên đơn chỉ cần chứng minh ba điều kiện: (i) Có thiệt hại; (ii) Thiệt hại xảy ra do sự tác động của nhà cửa, công trình xây dựng; (iii) Có mối quan hệ nhân quả giữa tác động của nhà cửa, công trình xây dựng và thiệt hại, mà không cần chứng minh lỗi của bị đơn. Trong trường hợp này, thiệt hại lại do sự tự thân tác động của nhà cửa, công trình xây dựng gây ra - không phải do hành vi của con người - do đó không cần xem xét đến điều kiện lỗi.

Khoản 1 Điều 605 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã khẳng định chính xác bản chất của trách nhiệm này khi quy định: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác”. Để được bồi thường, nguyên đơn chỉ cần chứng minh thiệt hại là “do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra” mà không cần chứng minh lỗi của chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng. Đây được đánh giá là điểm tiến bộ của Bộ luật Dân sự năm 2015, bởi lẽ, trước đây, Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 1995 và Điều 627 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định, chủ sở hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng phải bồi thường thiệt hại nếu “để nhà cửa, công trình xây dựng… gây thiệt hại”. Việc sử dụng từ “để” cho phép suy đoán rằng, sở dĩ, nhà cửa, công trình xây dựng bị “sụp đổ, hư hỏng, sụt lở” là do chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng đã biết nhà cửa, công trình xây dựng có khả năng gây ra thiệt hại nhưng vẫn không có hành động ngăn chặn mà lại để mặc cho thiệt hại xảy ra. Nói cách khác, để được bồi thường thiệt hại, nguyên đơn phải chứng minh rằng: Thiệt hại xảy ra là do lỗi của chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng đã “để” mặc, không quan tâm sửa chữa, tu bổ hoặc kịp thời phá dỡ…, khiến nhà cửa, công trình xây dựng bị “sụp đổ, hư hỏng, sụt lở” gây thiệt hại. Điều này đồng nghĩa với việc đây không phải là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra mà là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật, có lỗi của chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng gây ra.

Khắc phục những điểm hạn chế trên, để đưa trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra trở về đúng bản chất là trách nhiệm bồi thường do tài sản gây thiệt hại, Điều 605 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã sửa cụm từ “để nhà cửa, công trình xây dựng… sụp đổ, hư hỏng, sụt lở... gây thiệt hại” thành “do nhà cửa, công trình xây dựng… gây thiệt hại”. Điều này giúp thống nhất cách hiểu là trong mọi trường hợp, chỉ cần thiệt hại là “do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra” thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ phát sinh mà không cần nguyên đơn phải chứng minh lỗi của chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng. Sự sửa đổi này đã thể hiện đúng bản chất của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra là một loại trách nhiệm bồi thường do tài sản gây thiệt hại, phát sinh không cần yếu tố lỗi.

Tuy nhiên, khoản 2 Điều 605 Bộ luật Dân sự năm 2015 lại quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công: “Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường”. Theo quy định này, người thi công sẽ phải bồi thường thiệt hại nếu “có lỗi” trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại”. Điều này đồng nghĩa với việc để được bồi thường nguyên đơn phải chứng minh được lỗi của người thi công. Như vậy, về bản chất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật, có lỗi gây ra chứ không phải trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra. Quy định này dường như chưa phản ánh đúng bản chất của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra - là một loại trách nhiệm bồi thường do tài sản gây thiệt hại, chứ không phải do hành vi trái pháp luật của con người; đồng thời, cũng hoàn toàn không tương thích với tên của điều luật là “Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra”.

Thứ hai, về nội dung của trách nhiệm

Điều 605 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định trách nhiệm của người thi công là “trách nhiệm liên đới”. Nếu có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại thì người thi công phải liên đới cùng chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng bồi thường thiệt hại. Quy định này không công bằng với chủ sở hữu, đặc biệt trong trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người thi công. Ví dụ: Người thi công không thi công đúng thiết kế, tự ý cắt giảm, thay thế nguyên vật liệu khiến nhà cửa, công trình xây dựng không đảm bảo chất lượng, bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở... gây thiệt hại. Trong trường hợp này, chủ sở hữu không có lỗi. Bản thân chủ sở hữu cũng là người bị thiệt hại (do nhà cửa, công trình xây dựng thuộc sở hữu bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở)... nhưng chủ sở hữu lại phải liên đới chịu trách nhiệm cùng người thi công để bồi thường thiệt hại. Điều này là không công bằng đối với chủ sở hữu, không phù hợp với bản chất của trách nhiệm liên đới. Đáng lẽ trong trường hợp này, người thi công phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho cả chủ sở hữu (trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng thi công) và người thứ ba bị thiệt hại (trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra theo Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Đối với người thi công, việc chỉ quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công mà không quy định trách nhiệm của người khảo sát, thiết kế, giám sát… cũng là không công bằng với người thi công. Nhà cửa, công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của nhiều người với nhiều khâu, nhiều công đoạn khác nhau. Trong đó, kết quả của công đoạn trước có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của công đoạn sau. Nếu kết quả khảo sát không đúng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng bản thiết kế, nếu bản thiết kế không đúng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của quá trình thi công… Một công trình xây dựng kém chất lượng là kết quả từ nhiều khâu không đảm bảo, chứ không chỉ riêng một mình khâu thi công. Nhưng Bộ luật Dân sự hiện hành lại “bỏ qua” cho tất cả các chủ thể khác, mà chỉ quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người thi công là không công bằng đối với họ.

Nghiên cứu pháp luật dân sự của một số quốc gia cho thấy, họ cũng có quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công, song trách nhiệm này thường được tách riêng thành một điều luật độc lập với những quy định chặt chẽ cả về điều kiện phát sinh và chủ thể phải chịu trách nhiệm. Theo Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp, bên cạnh Điều 1386 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu do sự sụp đổ của một tòa nhà, thì Điều 1792 quy định: “Người xây dựng công trình (bao gồm kiến trúc sư, nhà thầu, kỹ thuật viên hoặc người khác có quan hệ hợp đồng thuê dịch vụ với chủ công trình; người bán công trình mà họ đã xây dựng hoặc đã thuê xây dựng xong; người đã thực hiện một nhiệm vụ được coi như nhiệm vụ của người cung ứng dịch vụ, mặc dù đã hành động với tư cách người được ủy quyền của chủ công trình[3]) phải chịu trách nhiệm đối với chủ công trình hoặc người mua công trình về mọi thiệt hại, kể cả những thiệt hại do khuyết tật của nền đất gây ra, làm cho công trình không vững chắc hoặc thiệt hại gây ra cho một bộ phận cấu thành hoặc một phần thiết bị của công trình làm cho công trình không sử dụng được đúng mục đích”[4]. Thời hạn phải chịu trách nhiệm của người xây dựng công trình là 10 năm kể từ ngày nghiệm thu công trình[5]. Trong thời hạn 10 năm này, nếu nhà cửa, công trình xây dựng bị sụp đổ, gây thiệt hại do những khiếm khuyết trong xây dựng thì chủ sở hữu vẫn phải bồi thường cho người bị thiệt hại nhưng sau đó có quyền kiện yêu cầu người xây dựng công trình phải bồi thường lại cho mình. Hết thời hạn 10 năm, chủ sở hữu sẽ mất quyền này. Khi đó, cho dù thiệt hại xảy ra là do lỗi từ hơn 10 năm trước của người xây dựng công trình (người thi công) thì chủ sở hữu cũng vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường.

Theo Bộ luật Dân sự Tây Ban Nha, song song với Điều 1907 quy định trách nhiệm bồi thường của chủ sở hữu trong trường hợp nhà cửa, công trình xây dựng bị sụp đổ do “thiếu sự sửa chữa cần thiết”[6], thì Điều 1909 cũng quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của “kiến trúc sư hoặc nhà thầu xây dựng”[7]. Theo đó, trong khoảng thời gian 10 năm kể từ ngày được hoàn thành, nếu nhà cửa, công trình xây dựng bị sụp đổ do “khiếm khuyết trong xây dựng” thì “nhà thầu xây dựng” phải chịu trách nhiệm bồi thường; còn nếu sự sụp đổ là do “khiếm khuyết của nền đất” hoặc do lỗi của kiến trúc sư trong quản lý, thì kiến trúc sư phải chịu trách nhiệm bồi thường. Đặc biệt, nếu sự sụp đổ do lỗi của nhà thầu xây dựng, thì nhà thầu xây dựng phải chịu trách nhiệm trong khoảng thời gian 15 năm kể từ ngày công trình được hoàn thành[8].

Tương tự, theo Bộ luật Dân sự Philippine, bên cạnh Điều 2190 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu trong trường hợp nhà cửa, công trình xây dựng bị sụp đổ do “thiếu sự sửa chữa cần thiết”, thì Điều 2192 cũng quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của “kiến trúc sư, kỹ sư hoặc nhà thầu” trong trường hợp thiệt hại xảy ra là “kết quả của những khiếm khuyết trong xây dựng”[9]. Cụ thể, kiến trúc sư, kỹ sư, người thiết kế, chỉ đạo kỹ thuật xây dựng… phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu trong thời hạn 15 năm kể từ ngày hoàn thành công trình, công trình bị sụp đổ do “khiếm khuyết trong thiết kế hoặc trong việc tính toán các số liệu kỹ thuật hoặc do khuyết tật của nền đất”. Nhà thầu cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu trong thời gian 15 năm công trình xây dựng bị sụp đổ do khuyết tật trong xây dựng hoặc do sử dụng các nguyên vật liệu có chất lượng kém do chính người thi công cung cấp hoặc do bất kỳ vi phạm nào về các điều khoản của hợp đồng. Kỹ sư, kiến trúc sư giám sát việc xây dựng phải chịu trách nhiệm liên đới với nhà thầu (Điều 1723)[10].

Tại Trung Quốc, Điều 86 Luật Trách nhiệm xâm hại quyền lợi của Trung Quốc có điểm tương đồng với Bộ luật Dân sự của Việt Nam khi quy định trách nhiệm liên đới giữa chủ công trình xây dựng và nhà thầu. Tuy nhiên, một điểm khác biệt cơ bản là Điều 86 Luật Trách nhiệm xâm hại quyền lợi của Trung Quốc được xây dựng dựa trên học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt - trách nhiệm phát sinh không phụ thuộc vào yếu tố lỗi - nên chủ công trình xây dựng và nhà thầu cho dù có chứng minh được là mình không có lỗi vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường. Chủ công trình xây dựng và nhà thầu chỉ được miễn trách nhiệm nếu chứng minh được thiệt hại xảy ra do lỗi của người khác[11].

Từ những phân tích trên có thể đưa ra nhận xét rằng, việc quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công là cần thiết, đáp ứng được yêu cầu thực tế. Tuy nhiên, cách Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công và trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng trong cùng một điều luật như hiện nay là chưa phù hợp cả về lý luận và thực tiễn. Tác giả cho rằng, nên tách trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công thành một điều luật riêng biệt, trong đó, về bản chất phải quy định trách nhiệm của người thi công là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật, có lỗi gây thiệt hại; về nội dung, người thi công có thể phải chịu trách nhiệm độc lập (nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người thi công hoặc giữa bên thi công và chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng đã có thỏa thuận) hoặc trách nhiệm liên đới. Tuy nhiên, chủ thể cùng chịu trách nhiệm liên đới với bên thi công có thể chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng hoặc có thể là bên thiết kế, bên khảo sát, bên giám sát…, nếu những chủ thể này cũng có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng gây ra thiệt hại.

ThS. Vũ Thị Lan Hương

Đại học Lao động – Xã hội Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1]. Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, tr. 936.

[2]. Khoản 38 Điều 3 Luật Xây dựng năm 2014.

[3]. Điều 1792 -1 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp.

[4]. Điều 1792 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp.

[5]. Điều 2270 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp.

[6]. Điều 1907 Bộ luật Dân sự Tây Ban Nha: “The owner of a building is liable for damages resulting from the collapse of all or part thereof, if such collapse should occur as a result of a failure to make the necessary repairs”, nguồn: http://landwise.resourceequity.org/record/1080, truy cập ngày 17/7/2016.

[7]. Điều 1909 Bộ luật Dân sự Tây Ban Nha: “If the damage mentioned in the two preceding articles should result from a construction defect, the third party who suffers it may only claim against the architect or, as the case may be, the builder, within the requisite legal period”, nguồn: http://landwise.resourceequity.org/record/1080, truy cập ngày 17/7/2016.

[8]. Điều 1591 Bộ luật Dân sự Tây Ban Nha: “The contractor of a building which should collapse as a result of defects in its construction shall be liable for any damages if such collapse should take place within ten years, counting from completion of construction; the architect who manages the building works shall have the same liability for the same term if the collapse should result from a defect in the land or from his management

If the cause should be the fault of the contractor, the action to claim for damages shall last fifteen years”, nguồn: http://landwise.resourceequity.org/record/1080, truy cập ngày 17/7/2016.

[9]. Điều 2192 Bộ luật Dân sự Philippine: “If damage referred to in the two preceding articles should be the result of any defect in the construction mentioned in Article 1723, the third person suffering damages may proceed only against the engineer or architect or contractor in accordance with said article, within the period therein fixed. (1909)”, nguồn: http://www.wipo.int/edocs/lexdocs/laws/en/ph/ph021en.pdf.

[10]. Điều 1723 Bộ luật Dân sự Philippine: The engineer or architect who drew up the plans and specifications for a building is liable for damages if within fifteen years from the completion of the structure, the same should collapse by reason of a defect in those plans and specifications, or due to the defects in the ground. The contractor is likewise responsible for the damages if the edifice falls, within the same period, on account of defects in the construction or the use of materials of inferior quality furnished by him, or due to any violation of the terms of the contract. If the engineer or architect supervises the construction, he shall be solidarily liable with the contractor, nguồn: http://www.wipo.int/edocs/lexdocs/laws/en/ph/ph021en.pdf.

[11]. Điều 86 Luật Trách nhiệm xâm hại quyền lợi của Trung Quốc năm 2009: “Where any building, structure or facility collapses, causing any harm to another person, the construction employer and contractor shall be liable jointly and severally. After making compensation, the construction employer or contractor shall be entitled to be reimbursed by other liable persons if any.

Where the collapse of any building, structure or facility, which causes any harm to another person, is attributed to any other liable person, the other liable person shall assume the tort liability”, nguồn: http://english.mofcom.gov.cn/ article/policyrelease/Businessregulations/201312/20131200432451.shtml.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: