Chủ nhật 28/06/2026 06:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về trách nhiệm của người thi công trong bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra

Tóm tắt: Bài viết bàn luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra, so sánh quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam với quy định của Bộ luật Dân sự một số nước về vấn đề này và đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

Abstract: The paper discusses the compensation liability for damages of work executer in the liability of compensation for damages caused by house, other construction works in comparison of regulations of the Vietnamese Civil Code with the Civil Codes of some countries regarding this issue and makes proposals for law completion.

Quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công là một quy định hoàn toàn mới của Bộ luật Dân sự năm 2015. Mặc dù pháp luật không định nghĩa khái niệm “người thi công”, tuy nhiên, theo cách hiểu thông thường, “thi công” là “tiến hành xây dựng công trình theo thiết kế”[1]. Dưới góc độ pháp lý, “thi công xây dựng công trình gồm xây dựng và lắp đặt thiết bị đối với công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi; phá dỡ công trình; bảo hành, bảo trì công trình xây dựng”[2]. Vậy “người thi công” được hiểu là người tiến hành các hoạt động xây dựng, lắp đặt thiết bị đối với công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi; phá dỡ công trình; bảo hành, bảo trì công trình xây dựng theo thiết kế. Nghiên cứu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công, nhận thấy có một số vấn đề như sau:

Thứ nhất, về bản chất trách nhiệm

Xét về bản chất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra là một loại trách nhiệm bồi thường do tài sản gây thiệt hại. Để được bồi thường, nguyên đơn chỉ cần chứng minh ba điều kiện: (i) Có thiệt hại; (ii) Thiệt hại xảy ra do sự tác động của nhà cửa, công trình xây dựng; (iii) Có mối quan hệ nhân quả giữa tác động của nhà cửa, công trình xây dựng và thiệt hại, mà không cần chứng minh lỗi của bị đơn. Trong trường hợp này, thiệt hại lại do sự tự thân tác động của nhà cửa, công trình xây dựng gây ra - không phải do hành vi của con người - do đó không cần xem xét đến điều kiện lỗi.

Khoản 1 Điều 605 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã khẳng định chính xác bản chất của trách nhiệm này khi quy định: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác”. Để được bồi thường, nguyên đơn chỉ cần chứng minh thiệt hại là “do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra” mà không cần chứng minh lỗi của chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng. Đây được đánh giá là điểm tiến bộ của Bộ luật Dân sự năm 2015, bởi lẽ, trước đây, Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 1995 và Điều 627 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định, chủ sở hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng phải bồi thường thiệt hại nếu “để nhà cửa, công trình xây dựng… gây thiệt hại”. Việc sử dụng từ “để” cho phép suy đoán rằng, sở dĩ, nhà cửa, công trình xây dựng bị “sụp đổ, hư hỏng, sụt lở” là do chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng đã biết nhà cửa, công trình xây dựng có khả năng gây ra thiệt hại nhưng vẫn không có hành động ngăn chặn mà lại để mặc cho thiệt hại xảy ra. Nói cách khác, để được bồi thường thiệt hại, nguyên đơn phải chứng minh rằng: Thiệt hại xảy ra là do lỗi của chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng đã “để” mặc, không quan tâm sửa chữa, tu bổ hoặc kịp thời phá dỡ…, khiến nhà cửa, công trình xây dựng bị “sụp đổ, hư hỏng, sụt lở” gây thiệt hại. Điều này đồng nghĩa với việc đây không phải là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra mà là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật, có lỗi của chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng gây ra.

Khắc phục những điểm hạn chế trên, để đưa trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra trở về đúng bản chất là trách nhiệm bồi thường do tài sản gây thiệt hại, Điều 605 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã sửa cụm từ “để nhà cửa, công trình xây dựng… sụp đổ, hư hỏng, sụt lở... gây thiệt hại” thành “do nhà cửa, công trình xây dựng… gây thiệt hại”. Điều này giúp thống nhất cách hiểu là trong mọi trường hợp, chỉ cần thiệt hại là “do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra” thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ phát sinh mà không cần nguyên đơn phải chứng minh lỗi của chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng. Sự sửa đổi này đã thể hiện đúng bản chất của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra là một loại trách nhiệm bồi thường do tài sản gây thiệt hại, phát sinh không cần yếu tố lỗi.

Tuy nhiên, khoản 2 Điều 605 Bộ luật Dân sự năm 2015 lại quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công: “Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường”. Theo quy định này, người thi công sẽ phải bồi thường thiệt hại nếu “có lỗi” trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại”. Điều này đồng nghĩa với việc để được bồi thường nguyên đơn phải chứng minh được lỗi của người thi công. Như vậy, về bản chất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật, có lỗi gây ra chứ không phải trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra. Quy định này dường như chưa phản ánh đúng bản chất của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra - là một loại trách nhiệm bồi thường do tài sản gây thiệt hại, chứ không phải do hành vi trái pháp luật của con người; đồng thời, cũng hoàn toàn không tương thích với tên của điều luật là “Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra”.

Thứ hai, về nội dung của trách nhiệm

Điều 605 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định trách nhiệm của người thi công là “trách nhiệm liên đới”. Nếu có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại thì người thi công phải liên đới cùng chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng bồi thường thiệt hại. Quy định này không công bằng với chủ sở hữu, đặc biệt trong trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người thi công. Ví dụ: Người thi công không thi công đúng thiết kế, tự ý cắt giảm, thay thế nguyên vật liệu khiến nhà cửa, công trình xây dựng không đảm bảo chất lượng, bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở... gây thiệt hại. Trong trường hợp này, chủ sở hữu không có lỗi. Bản thân chủ sở hữu cũng là người bị thiệt hại (do nhà cửa, công trình xây dựng thuộc sở hữu bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở)... nhưng chủ sở hữu lại phải liên đới chịu trách nhiệm cùng người thi công để bồi thường thiệt hại. Điều này là không công bằng đối với chủ sở hữu, không phù hợp với bản chất của trách nhiệm liên đới. Đáng lẽ trong trường hợp này, người thi công phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho cả chủ sở hữu (trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng thi công) và người thứ ba bị thiệt hại (trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra theo Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Đối với người thi công, việc chỉ quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công mà không quy định trách nhiệm của người khảo sát, thiết kế, giám sát… cũng là không công bằng với người thi công. Nhà cửa, công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của nhiều người với nhiều khâu, nhiều công đoạn khác nhau. Trong đó, kết quả của công đoạn trước có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của công đoạn sau. Nếu kết quả khảo sát không đúng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng bản thiết kế, nếu bản thiết kế không đúng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của quá trình thi công… Một công trình xây dựng kém chất lượng là kết quả từ nhiều khâu không đảm bảo, chứ không chỉ riêng một mình khâu thi công. Nhưng Bộ luật Dân sự hiện hành lại “bỏ qua” cho tất cả các chủ thể khác, mà chỉ quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người thi công là không công bằng đối với họ.

Nghiên cứu pháp luật dân sự của một số quốc gia cho thấy, họ cũng có quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công, song trách nhiệm này thường được tách riêng thành một điều luật độc lập với những quy định chặt chẽ cả về điều kiện phát sinh và chủ thể phải chịu trách nhiệm. Theo Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp, bên cạnh Điều 1386 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu do sự sụp đổ của một tòa nhà, thì Điều 1792 quy định: “Người xây dựng công trình (bao gồm kiến trúc sư, nhà thầu, kỹ thuật viên hoặc người khác có quan hệ hợp đồng thuê dịch vụ với chủ công trình; người bán công trình mà họ đã xây dựng hoặc đã thuê xây dựng xong; người đã thực hiện một nhiệm vụ được coi như nhiệm vụ của người cung ứng dịch vụ, mặc dù đã hành động với tư cách người được ủy quyền của chủ công trình[3]) phải chịu trách nhiệm đối với chủ công trình hoặc người mua công trình về mọi thiệt hại, kể cả những thiệt hại do khuyết tật của nền đất gây ra, làm cho công trình không vững chắc hoặc thiệt hại gây ra cho một bộ phận cấu thành hoặc một phần thiết bị của công trình làm cho công trình không sử dụng được đúng mục đích”[4]. Thời hạn phải chịu trách nhiệm của người xây dựng công trình là 10 năm kể từ ngày nghiệm thu công trình[5]. Trong thời hạn 10 năm này, nếu nhà cửa, công trình xây dựng bị sụp đổ, gây thiệt hại do những khiếm khuyết trong xây dựng thì chủ sở hữu vẫn phải bồi thường cho người bị thiệt hại nhưng sau đó có quyền kiện yêu cầu người xây dựng công trình phải bồi thường lại cho mình. Hết thời hạn 10 năm, chủ sở hữu sẽ mất quyền này. Khi đó, cho dù thiệt hại xảy ra là do lỗi từ hơn 10 năm trước của người xây dựng công trình (người thi công) thì chủ sở hữu cũng vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường.

Theo Bộ luật Dân sự Tây Ban Nha, song song với Điều 1907 quy định trách nhiệm bồi thường của chủ sở hữu trong trường hợp nhà cửa, công trình xây dựng bị sụp đổ do “thiếu sự sửa chữa cần thiết”[6], thì Điều 1909 cũng quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của “kiến trúc sư hoặc nhà thầu xây dựng”[7]. Theo đó, trong khoảng thời gian 10 năm kể từ ngày được hoàn thành, nếu nhà cửa, công trình xây dựng bị sụp đổ do “khiếm khuyết trong xây dựng” thì “nhà thầu xây dựng” phải chịu trách nhiệm bồi thường; còn nếu sự sụp đổ là do “khiếm khuyết của nền đất” hoặc do lỗi của kiến trúc sư trong quản lý, thì kiến trúc sư phải chịu trách nhiệm bồi thường. Đặc biệt, nếu sự sụp đổ do lỗi của nhà thầu xây dựng, thì nhà thầu xây dựng phải chịu trách nhiệm trong khoảng thời gian 15 năm kể từ ngày công trình được hoàn thành[8].

Tương tự, theo Bộ luật Dân sự Philippine, bên cạnh Điều 2190 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu trong trường hợp nhà cửa, công trình xây dựng bị sụp đổ do “thiếu sự sửa chữa cần thiết”, thì Điều 2192 cũng quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của “kiến trúc sư, kỹ sư hoặc nhà thầu” trong trường hợp thiệt hại xảy ra là “kết quả của những khiếm khuyết trong xây dựng”[9]. Cụ thể, kiến trúc sư, kỹ sư, người thiết kế, chỉ đạo kỹ thuật xây dựng… phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu trong thời hạn 15 năm kể từ ngày hoàn thành công trình, công trình bị sụp đổ do “khiếm khuyết trong thiết kế hoặc trong việc tính toán các số liệu kỹ thuật hoặc do khuyết tật của nền đất”. Nhà thầu cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu trong thời gian 15 năm công trình xây dựng bị sụp đổ do khuyết tật trong xây dựng hoặc do sử dụng các nguyên vật liệu có chất lượng kém do chính người thi công cung cấp hoặc do bất kỳ vi phạm nào về các điều khoản của hợp đồng. Kỹ sư, kiến trúc sư giám sát việc xây dựng phải chịu trách nhiệm liên đới với nhà thầu (Điều 1723)[10].

Tại Trung Quốc, Điều 86 Luật Trách nhiệm xâm hại quyền lợi của Trung Quốc có điểm tương đồng với Bộ luật Dân sự của Việt Nam khi quy định trách nhiệm liên đới giữa chủ công trình xây dựng và nhà thầu. Tuy nhiên, một điểm khác biệt cơ bản là Điều 86 Luật Trách nhiệm xâm hại quyền lợi của Trung Quốc được xây dựng dựa trên học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt - trách nhiệm phát sinh không phụ thuộc vào yếu tố lỗi - nên chủ công trình xây dựng và nhà thầu cho dù có chứng minh được là mình không có lỗi vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường. Chủ công trình xây dựng và nhà thầu chỉ được miễn trách nhiệm nếu chứng minh được thiệt hại xảy ra do lỗi của người khác[11].

Từ những phân tích trên có thể đưa ra nhận xét rằng, việc quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công là cần thiết, đáp ứng được yêu cầu thực tế. Tuy nhiên, cách Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công và trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng trong cùng một điều luật như hiện nay là chưa phù hợp cả về lý luận và thực tiễn. Tác giả cho rằng, nên tách trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người thi công thành một điều luật riêng biệt, trong đó, về bản chất phải quy định trách nhiệm của người thi công là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật, có lỗi gây thiệt hại; về nội dung, người thi công có thể phải chịu trách nhiệm độc lập (nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người thi công hoặc giữa bên thi công và chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng đã có thỏa thuận) hoặc trách nhiệm liên đới. Tuy nhiên, chủ thể cùng chịu trách nhiệm liên đới với bên thi công có thể chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng hoặc có thể là bên thiết kế, bên khảo sát, bên giám sát…, nếu những chủ thể này cũng có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng gây ra thiệt hại.

ThS. Vũ Thị Lan Hương

Đại học Lao động – Xã hội Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1]. Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, tr. 936.

[2]. Khoản 38 Điều 3 Luật Xây dựng năm 2014.

[3]. Điều 1792 -1 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp.

[4]. Điều 1792 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp.

[5]. Điều 2270 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp.

[6]. Điều 1907 Bộ luật Dân sự Tây Ban Nha: “The owner of a building is liable for damages resulting from the collapse of all or part thereof, if such collapse should occur as a result of a failure to make the necessary repairs”, nguồn: http://landwise.resourceequity.org/record/1080, truy cập ngày 17/7/2016.

[7]. Điều 1909 Bộ luật Dân sự Tây Ban Nha: “If the damage mentioned in the two preceding articles should result from a construction defect, the third party who suffers it may only claim against the architect or, as the case may be, the builder, within the requisite legal period”, nguồn: http://landwise.resourceequity.org/record/1080, truy cập ngày 17/7/2016.

[8]. Điều 1591 Bộ luật Dân sự Tây Ban Nha: “The contractor of a building which should collapse as a result of defects in its construction shall be liable for any damages if such collapse should take place within ten years, counting from completion of construction; the architect who manages the building works shall have the same liability for the same term if the collapse should result from a defect in the land or from his management

If the cause should be the fault of the contractor, the action to claim for damages shall last fifteen years”, nguồn: http://landwise.resourceequity.org/record/1080, truy cập ngày 17/7/2016.

[9]. Điều 2192 Bộ luật Dân sự Philippine: “If damage referred to in the two preceding articles should be the result of any defect in the construction mentioned in Article 1723, the third person suffering damages may proceed only against the engineer or architect or contractor in accordance with said article, within the period therein fixed. (1909)”, nguồn: http://www.wipo.int/edocs/lexdocs/laws/en/ph/ph021en.pdf.

[10]. Điều 1723 Bộ luật Dân sự Philippine: The engineer or architect who drew up the plans and specifications for a building is liable for damages if within fifteen years from the completion of the structure, the same should collapse by reason of a defect in those plans and specifications, or due to the defects in the ground. The contractor is likewise responsible for the damages if the edifice falls, within the same period, on account of defects in the construction or the use of materials of inferior quality furnished by him, or due to any violation of the terms of the contract. If the engineer or architect supervises the construction, he shall be solidarily liable with the contractor, nguồn: http://www.wipo.int/edocs/lexdocs/laws/en/ph/ph021en.pdf.

[11]. Điều 86 Luật Trách nhiệm xâm hại quyền lợi của Trung Quốc năm 2009: “Where any building, structure or facility collapses, causing any harm to another person, the construction employer and contractor shall be liable jointly and severally. After making compensation, the construction employer or contractor shall be entitled to be reimbursed by other liable persons if any.

Where the collapse of any building, structure or facility, which causes any harm to another person, is attributed to any other liable person, the other liable person shall assume the tort liability”, nguồn: http://english.mofcom.gov.cn/ article/policyrelease/Businessregulations/201312/20131200432451.shtml.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: