Chủ nhật 26/07/2026 09:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản

Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Đây được xem là một giải pháp hữu hiệu góp phần bảo đảm hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật. Trong bài viết này, tác giả phân tích các yếu tố bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản, trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này.

1. Các yếu tố bảo đảm hiệu lực, hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản

1.1. Mức độ hoàn thiện pháp luật về bán đấu giá tài sản và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản

Yếu tố này ảnh hưởng rất nhiều tới việc xử phạt vi phạm hành chính (XPVPHC) trong lĩnh vực đấu giá tài sản (ĐGTS). Khi quy định chi tiết các văn bản đã ban hành cần đảm bảo tính toàn diện, đồng bộ của hệ thống pháp luật, trong những trường hợp cần có sự quy định chi tiết, để khi văn bản pháp luật có hiệu lực thì nó cũng đã có đủ các điều kiện để có thể được tổ chức thực hiện ngay trên thực tế. Về lâu dài, nghiên cứu hoàn thiện hệ thống pháp luật theo phương án nâng tầm cơ quan quản lý nhà nước về ĐGTS ở trung ương và địa phương, tương xứng với yêu cầu của thực tiễn. Xây dựng pháp luật về XPVPHC trong lĩnh vực ĐGTS ở Việt Nam cần nằm trong tổng thể các chính sách, định hướng mang tính quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; sửa đổi, bổ sung các văn bản hiện hành để khắc phục tính thiếu nhất quán, không cụ thể, không rõ ràng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực ĐGTS.

1.2. Yếu tố về tổ chức, nhân sự bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản

Tổ chức và năng lực của cơ quan quản lý nhà nước về ĐGTS và XPVPHC trong lĩnh vực ĐGTS từ trung ương đến địa phương ảnh hưởng nhiều đến XPVPHC trong ĐGTS. Trên cơ sở các đợt rà soát, cần phân định rõ chức năng, nhiệm vụ quản lý, sắp xếp tổ chức bộ máy, tăng cường năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý hoạt động ĐGTS các cấp, nhất là ở các địa phương, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, xuyên suốt từ trung ương đến cơ sở. Xây dựng cơ chế tham vấn, phối hợp trong công tác bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng lãnh đạo cơ quan chuyên môn quản lý hoạt động ĐGTS ở địa phương. Kiện toàn tổ chức và tăng cường năng lực cho các cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động ĐGTS tại địa phương; chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tuyển chọn cán bộ có chuyên môn phù hợp với yêu cầu của công tác quản lý ĐGTS. Tăng cường năng lực điều phối, thống nhất quản lý nhà nước về ĐGTS trên phạm vi cả nước của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về ĐGTS.

1.3. Yếu tố về kinh tế - xã hội

Nói đến yếu tố kinh tế - xã hội là nói đến tổng thể các điều kiện, hoàn cảnh về kinh tế - xã hội, hệ thống pháp luật về các chính sách xã hội và tình hình triển khai thực hiện, áp dụng hệ thống pháp luật đó vào trong thực tiễn. Yếu tố kinh tế là nền tảng chính của sự nhận thức về quyền lợi, lợi nhuận của các chủ thể tham gia khai thác, sử dụng các dịch vụ ĐGTS, từ đó, tăng cường hiểu biết pháp luật và thực hiện pháp luật nên có tác động mạnh mẽ tới hoạt động thực hiện pháp luật về XPVPHC trong lĩnh vực ĐGTS của các chủ thể pháp luật. Hiện nay, nền kinh tế chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với những mặt tích cực sẽ tạo ra tư duy sáng tạo, coi trọng uy tín, chất lượng, hiệu quả của hoạt động kinh tế; từ đó, sẽ tác động tích cực hơn tới ý thức pháp luật và hành vi thực hiện pháp luật của các chủ thể trong đó có chủ thể thực hiện pháp luật về XPVPHC trong lĩnh vực ĐGTS. Tuy nhiên, mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng đang tạo ra nhiều mặt tiêu cực, trong đó, đáng quan ngại nhất là ý thức coi trọng đồng tiền mà bất chấp các giá trị đạo đức xã hội, các quy định của pháp luật dẫn đến sẽ tạo ra những quan niệm, hành vi sai lệch trong thực hiện pháp luật về XPVPHC trong lĩnh vực ĐGTS. Đây là nguyên nhân phát sinh các hành vi trái pháp luật, là môi trường cho các loại vi phạm nảy sinh và phát triển có tác động tiêu cực đến ĐGTS... Ngoài ra, yếu tố kinh tế còn phải kể đến như là các điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật và kinh phí cho công tác XPVPHC trong lĩnh vực ĐGTS. Đây là yếu tố bảo đảm có vai trò quan trọng, mang tính quyết định đến việc tổ chức thực hiện có hiệu quả chính sách pháp luật. Việc thực hiện chính sách xã hội, đảm bảo các nguyên tắc của công bằng xã hội cũng là điều kiện cần thiết cho sự ổn định chính trị, tăng cường pháp chế và đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội; tăng thêm thái độ tích cực của cộng đồng xã hội đối với hoạt động ĐGTS.

1.4. Yếu tố tâm lý

Nhiều công trình khoa học đã chứng minh, người Việt Nam có truyền thống “duy tình hơn duy lý”. Đây là một truyền thống được tạo nên từ lối sống, từ tập tính sinh hoạt, sản xuất có từ ngàn đời. Chính nhờ truyền thống này mà quan hệ làng xã, gia đình có tính bền vững, giúp tạo nên sức mạnh tổng lực trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm và vượt qua sự khắc nghiệt của thiên nhiên trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc. Tuy nhiên, bên cạnh đó, chính tâm lý duy tình đã ảnh hưởng không tốt đến ý thức thực hiện pháp luật nói chung và thực hiện pháp luật về XPVPHC trong lĩnh vực ĐGTS nói riêng của người dân Việt Nam. Do vậy, để pháp luật về ĐGTS có thể phát huy được hiệu quả trong thực tiễn, chúng ta cần lưu ý lựa chọn cách thức hữu hiệu để pháp luật gắn với đời sống sinh hoạt, tâm lý của người dân.

1.5. Một số yếu tố khác

Việt Nam đang trong giai đoạn đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ ĐGTS, nên các cơ chế, chính sách khuyến khích cá nhân, tổ chức, cộng đồng tham gia vào việc phát hiện và XPVPHC trong việc vi phạm pháp luật về ĐGTS. Tăng cường sự giám sát của cộng đồng, các đoàn thể nhân dân đối với ĐGTS của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân. Mỗi người dân cần nâng cao nhận thức và ý thức trong việc thực hiện pháp luật về ĐGTS, nhất là trong việc chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Mỗi tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp cần phát huy tinh thần tự giác, ý thức cao trong hoạt động ĐGTS nói chung và thực hiện pháp luật về XPVPHC trong lĩnh vực ĐGTS nói riêng, không vì lợi ích trước mắt mà gây ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động ĐGTS. Các cơ quan chức năng cần đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, vận động để quần chúng nhân dân hiểu và nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với thực hiện pháp luật về XPVPHC trong lĩnh vực ĐGTS; tăng cường sự giám sát của các tổ chức dân cử, tổ chức xã hội và nhân dân đối với thực hiện pháp luật về XPVPHC trong lĩnh vực ĐGTS.

Về kinh phí bảo đảm cho việc tổ chức triển khai XPVPHC trong lĩnh vực ĐGTS Việt Nam đang trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, việc bảo đảm cho các hoạt động về XPVPHC trong lĩnh vực ĐGTS cần phải được quan tâm nhiều hơn. Trên tinh thần đó, Nhà nước quan tâm tăng tỷ lệ chi ngân sách cho hoạt động thực hiện pháp luật về ĐGTS nói chung và XPVPHC trong lĩnh vực ĐGTS nói riêng nhằm bảo đảm yêu cầu trong giai đoạn mới, đặc biệt là có cơ chế phù hợp và tăng chi ngân sách cho các hoạt động quản lý nhà nước về ĐGTS, trong đó có công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với hoạt động ĐGTS.

2. Một số giải pháp bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản hiện nay

2.1. Hoàn thiện pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản

Một là, hoàn thiện quy định về hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả

Cần có quy định cụ thể, chặt chẽ trên cơ sở thực hiện nguyên tắc mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật. Việc XPVPHC được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật; việc XPVPHC phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng để làm cơ sở phân định mức xử phạt phù hợp đối với tính chất, mức độ của từng hành vi vi phạm. Nghiên cứu sự tác động của tình hình kinh tế đất nước, các yếu tố thị trường, mối quan hệ giữa chi phí và lợi ích trong việc vi phạm hành chính về ĐGTS và lợi ích kinh tế thu được để xây dựng cơ sở quy định mức phạt tiền, nhằm bảo đảm sự ổn định của các văn bản về xử phạt và không lạc hậu so với thực tế. Muốn vậy, cần xác định lại tính chất và cách áp dụng của các hình thức xử phạt. Đối với việc xác định đây có phải là vi phạm lần đầu hay không để áp dụng hình phạt cảnh cáo thì cơ quan chức năng có thẩm quyền phải thiết lập cơ sở dữ liệu một cách công khai, minh bạch về những trường hợp vi phạm hành chính căn cứ vào đó, người có thẩm quyền có thể xử phạt khách quan, chính xác. Về khung phạt tiền không nên quy định khung quá rộng và cách xa nhau. Để phù hợp điều kiện kinh tế, xã hội hiện nay, tránh sự lạc hậu của quy định pháp luật, mức phạt tiền không nên quy định theo số tiền cụ thể mà nên theo một con số trên tỷ lệ nhất định so với mức lương tối thiểu hoặc tỷ lệ so với giá trị tài sản đấu giá nhằm bảo đảm quy phạm có giá trị lâu dài, không phải sửa đổi nhiều do sự thay đổi của tình hình kinh tế.

Hai là, hoàn thiện các quy định pháp luật về xác định thẩm quyền xử phạt

Pháp luật về XPVPHC cần xác định thứ tự ưu tiên các nguyên tắc. Theo đó, người thụ lý vụ việc đầu tiên có quyền áp dụng các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả là nguyên tắc ưu tiên trước để đảm bảo mọi hành vi vi phạm hành chính đều được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh. Trước hết, cần nâng mức xử phạt tiền cho các chủ thể trực tiếp thi hành công vụ. Đồng thời, cần tăng thẩm quyền cho lực lượng Thanh tra Tư pháp vì những năm qua, lực lượng Thanh tra Tư pháp đã phát hiện và xử lý nhiều vụ vi phạm pháp luật về ĐGTS, trong đó, có nhiều vụ việc gây bức xúc trong dư luận và bất bình trong nhân dân nên việc hạn chế thẩm quyền XPVPHC của lực lượng Thanh tra Tư pháp có nguy cơ bỏ lọt người, bỏ lọt hành vi vi phạm.

Ba là, sửa đổi, bổ sung các quy định trong các luật chuyên ngành cho phù hợp, đồng bộ với Luật Đấu giá tài sản

Sửa đổi Luật Phá sản năm 2014 theo hướng không giới hạn phạm vi hoạt động của tổ chức ĐGTS trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ với Luật Đấu giá tài sản; sửa đổi khoản 3 Điều 118 Luật Đất đai năm 2013 theo hướng bỏ trường hợp “không có người tham gia” để tránh trùng lặp với trường hợp “đấu giá ít nhất là 02 lần nhưng không thành”.

2.2. Xây dựng và thực hiện quy chế phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong công tác thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản

Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực ĐGTS có tính chất phức tạp và phạm vi khá rộng, phức tạp nên liên quan đến rất nhiều bộ, ngành và địa phương. Để phát hiện hành vi vi phạm và xử lý được kịp thời, giữa thanh tra các bộ, sở, ngành có liên quan thuộc lĩnh vực ĐGTS cần có sự phối hợp chặt chẽ với nhau về công tác chuyên môn, cùng phân tích, đánh giá tính chất, mức độ vi phạm trong lĩnh vực mình quản lý. Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác này, cần thực hiện chế độ báo cáo kết quả công tác thanh tra, kiểm tra theo quy định; thực hiện việc nắm bắt, trao đổi, cung cấp thông tin về đối tượng thanh tra khi được yêu cầu, đảm bảo chính xác, kịp thời, từng bước tăng cường sự phối hợp trong công tác thanh tra, kiểm tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo; khắc phục tình trạng chồng chéo trong kế hoạch thanh tra, kiểm tra; nâng cao hiệu quả và vai trò của công tác thanh tra, kiểm tra về lĩnh vực ĐGTS; bảo đảm theo dõi, kiểm tra, phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi vi phạm hành chính về ĐGTS. Xây dựng cơ chế đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất giữa các cơ quan trung ương và địa phương trong việc xử lý dứt điểm các vụ việc khiếu nại kéo dài, hết thẩm quyền, đúng quy định.

Sự phối hợp giữa các cơ quan trong XPVPHC trong lĩnh vực ĐGTS phải bảo đảm vừa phối hợp với nhau nhưng đồng thời có sự phân công rõ ràng, cụ thể. Chẳng hạn, đối với Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban Quản lý khu kinh tế công nghiệp, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố, Công an nhân dân các cấp và các đơn vị có thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt, tăng cường công tác giám sát việc triển khai các biện pháp khắc phục, xác nhận đã khắc phục xong hậu quả vi phạm hành chính trong lĩnh vực ĐGTS mà tài sản đấu giá là tài sản công, quyền sử dụng đất, quyền khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh; Sở Tư pháp phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp huyện trong triển khai công tác kiểm tra, phát hiện và XPVPHC trong lĩnh vực đấu giá quyền sử dụng đất của Nhà nước.

2.3. Hoàn thiện về tổ chức bộ máy cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản

Không thể phủ nhận rằng thiết lập hệ thống cơ quan có thẩm quyền thanh tra, phát hiện vi phạm và XPVPHC trong lĩnh vực ĐGTS như hiện nay đã mang lại những hiệu quả tích cực. Việc tiếp tục duy trì hệ thống cơ quan nói trên để giải quyết các vụ việc vi phạm pháp luật về ĐGTS và xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực này là cần thiết và phù hợp. Cần phải bổ sung biên chế, đảm bảo ít nhất từ 05 biên chế trở lên thì Sở Tư pháp mới đủ sức hoàn thành nhiệm vụ thanh tra các lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của mình.

2.4. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức được giao thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản

Bên cạnh việc kiện toàn cơ cấu tổ chức, cần quan tâm, coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp thực hiện các nhiệm vụ trong lĩnh vực ĐGTS nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý từ trung ương đến địa phương. Tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Ngoài ra, thông qua các chương trình, đề án, dự án hợp tác với nước ngoài, cử cán bộ, công chức, viên chức đi đào tạo, bồi dưỡng ở ngoài nước, tiếp cận với phương pháp quản lý, khoa học công nghệ của các nước tiên tiến trên thế giới.

2.5. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về đấu giá tài sản và pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản

Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm về chấp hành pháp luật ĐGTS và XPVPHC trong lĩnh vực ĐGTS của người dân và cộng đồng. Hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực ĐGTS góp phần phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội. Cần lồng ghép nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật về ĐGTS trong Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật của bộ, ngành; các địa phương xây dựng kế hoạch và tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật, đồng thời, phối hợp với các cơ quan thông tin, đại chúng như báo, đài phát thanh, truyền hình để thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về ĐGTS. Các Sở Tư pháp cần chủ động phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan như Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Ban Tuyên giáo tỉnh ủy, Ban Dân vận, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam… Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức pháp luật và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, công dân trong phòng ngừa, đấu tranh chống các vi phạm pháp luật về ĐGTS. Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, phổ biến chính sách, chủ trương, pháp luật, các thông tin về môi trường và phát triển bền vững cho nhân dân; tạo dư luận xã hội, lên án nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm pháp luật về ĐGTS đi đôi với việc áp dụng các chế tài, xử phạt nghiêm minh có tác dụng răn đe, ngăn ngừa vi phạm.

2.6. Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ phát hiện và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản

Phát hiện, xử lý hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực ĐGTS không thể thiếu được các trang thiết bị, máy móc để thu thập chứng cứ theo quy định. Hoạt động thanh tra, kiểm tra, XPVPHC trong lĩnh vực ĐGTS phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, do phạm vi ảnh hưởng rộng, hiện trường vi phạm thường bị biến dạng vì tính chất “động” của các thành phần tham gia đấu giá… Điều này đòi hỏi phải có sự trợ giúp của nhiều công cụ, phương tiện kỹ thuật, như hệ thống máy ghi âm, ghi hình cuộc ĐGTS, nhận dạng chữ ký của những người tham gia đấu giá… Vì vậy, trang bị đầy đủ các công cụ, phương tiện trợ giúp cho lực lượng cán bộ, công chức có thẩm quyền XPVPHC trong lĩnh vực ĐGTS là giải pháp quan trọng góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả XPVPHC trong lĩnh vực ĐGTS.

2.7. Tăng cường sự tham gia và giám sát của cơ quan dân cử, các tổ chức xã hội và nhân dân đối với thực hiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản

Tăng cường sự tham gia của cơ quan dân cử, các tổ chức xã hội, đoàn thể và cộng đồng dân cư trong việc tham gia quản lý, tổ chức thực hiện và giám sát đối với hoạt động ĐGTS, XPVPHC trong lĩnh vực ĐGTS. Chính quyền các cấp cần phối hợp và hỗ trợ về mọi mặt để phát huy tối đa vai trò công tác xã hội, đa dạng hóa các hoạt động XPVPHC trong lĩnh vực ĐGTS, có cơ chế khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân, thành phần kinh tế tham gia hoạt động ĐGTS và tuân thủ các quy định của pháp luật về XPVPHC đối với các hành vi vi phạm về ĐGTS. Nội dung của việc xã hội hóa dịch vụ ĐGTS nhằm huy động ở mức cao nhất sự tham gia của xã hội vào công tác công tác quản lý nhà nước ĐGTS; xác lập các cơ chế khuyến khích, các chế tài hành chính, hình sự và thực hiện một cách công bằng, hợp lý đối với tất cả các Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các doanh nghiệp đấu giá tài sản khi tham gia hoạt động ĐGTS và tuân thủ các quy định của pháp luật về XPVPHC trong lĩnh vực ĐGTS.

Xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình giám sát chuyên đề về ĐGTS nói chung và XPVPHC trong lĩnh vực ĐGTS nói riêng đối với các tài sản đấu giá là tài sản nhà nước, dự án phát triển quỹ đất ở. Đồng thời, tại địa phương, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thực hiện Chương trình giám sát chuyên đề về ĐGTS đối với tài sản là quyền khai thác khoáng sản, quyền sử dụng đất mà Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất thông qua hình thức đấu giá. Bên cạnh đó, cần tạo lập cơ chế thuận lợi để khuyến khích cộng đồng phối hợp và giúp cơ quan có thẩm quyền trong việc phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về ĐGTS.

2.8. Tăng cường thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đấu giá tài sản đã có hiệu lực pháp luật

Thẩm quyền và trách nhiệm thi hành quyết định XPVPHC trong lĩnh vực ĐGTS đã có hiệu lực pháp luật thuộc về các cơ quan nhà nước, gồm: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực ĐGTS. Cơ chế thi hành này có nhiều điểm tích cực nhưng cũng còn những hạn chế dẫn đến việc nhiều quyết định XPVPHC đã có hiệu lực pháp luật, thấu tình, đạt lý nhưng vẫn không được thi hành trên thực tế. Để tăng cường hiệu quả của công tác này, trước hết, các cơ quan hành chính nhà nước cần tăng cường công tác kiểm tra, theo dõi và xử lý đối với các tổ chức, cá nhân cố tình trốn tránh, “chây ỳ” không thực hiện các quyết định XPVPHC có hiệu lực pháp luật, kiên quyết yêu cầu cá nhân, tổ chức bị xử phạt phải thi hành thực hiện nghĩa vụ của mình, trường hợp cố ý không chấp hành quyết định XPVPHC thì tổ chức cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật… Chính quyền các cấp cũng cần ban hành và tăng cường thực hiện Quy chế phối hợp giữa các cơ quan hành chính nhà nước và các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội... để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả thi hành các quyết định XPVPHC trong lĩnh vực ĐGTS đã có hiệu lực pháp luật.

ThS. Đoàn Văn Hường
Thanh tra Bộ Tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: