Thứ bảy 27/06/2026 07:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm quyền con người, quyền công dân của đương sự trong thủ tục giải quyết việc dân sự

Tóm tắt: Bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng dân sự là vấn đề có ý nghĩa quan trọng về chính trị, xã hội trong điều kiện hiện nay. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định nhằm cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân của đương sự trong giải quyết việc dân sự. Bài viết này phân tích, đánh giá các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về bảo đảm quyền con người, quyền công dân của đương sự trong thủ tục chuẩn bị xét xử sơ thẩm tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm, tái thẩm giải quyết việc dân sự.

Abstract: Ensuring human rights and rights of citizens is a political, social important issue at present. The Civil Procedural Code of 2015 has amended and supplemented many regulations on concretizing the Constitution of 2013 with respect to better guaranty of human rights and rights of citizens of interested parties in civil case settlement. This paper analyzes, assesses regulations of the Civil Procedural Code of 2015 concerning guaranty of human rights and rights of citizens of interested parties in procedures of trial in first instance, appeal, cassation and retrial of civil cases.

1. Bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong giai đoạn chuẩn bị và phiên họp giải quyết việc dân sự

Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã có bước tiến dài trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Đối với thủ tục giải quyết việc dân sự, do tính chất của việc dân sự thường đơn giản hơn so với vụ án dân sự, nên thời hạn giải quyết việc dân sự ngắn hơn thời hạn thủ tục giải quyết vụ án dân sự. Việc giải quyết nhanh chóng các việc dân sự không chỉ tiết kiệm về chi phí tố tụng cho đương sự và Nhà nước mà còn góp phần bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân. Điểm mới quan trọng của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 so với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) là đã quy định thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu chung cho các việc dân sự là 01 tháng, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu. Quy định này đã khắc phục được hạn chế của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) chỉ quy định về thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu đối với một số việc dân sự[1], không quy định về thời hạn giải quyết đối với các loại việc về hôn nhân và gia đình - những việc chiếm phần lớn các việc về dân sự trong thực tế giải quyết việc dân sự tại Tòa án, dẫn đến việc áp dụng không thống nhất giữa các Tòa án. Bên cạnh đó, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 còn quy định về thời hạn chuẩn bị xét yêu cầu đối với một số loại việc dân sự đặc thù[2]. Đồng thời, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 còn bổ sung quy định về các công việc mà Tòa án tiến hành trong giai đoạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu đối với các loại việc dân sự nói chung như: Yêu cầu đương sự bổ sung tài liệu, chứng cứ trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án; thẩm phán ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ; triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá tài sản nếu xét thấy cần thiết hoặc đương sự có yêu cầu; quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu và trả lại đơn yêu cầu, tài liệu, chứng cứ kèm theo nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu. Các quy định này cho thấy quyền con người, quyền công dân của đương sự trong giải quyết việc dân sự đã được Nhà nước tôn trọng hơn.

Riêng đối với từng loại việc đặc thù, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 còn quy định thêm các công việc cụ thể[3]. Đối với yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết. Đây là quy định mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhằm bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân của người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết cũng như bảo đảm cho việc giải quyết việc dân sự này được chính xác hơn. Đối với yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, trước khi tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, khi xét thấy cần thiết, thẩm phán có thể tham khảo ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và nguyện vọng của vợ, chồng, con có liên quan đến vụ việc. Quy định cụ thể này đã hóa giải quan điểm thuận tình ly hôn thì không hòa giải, đồng thời bảo đảm cho việc công nhận thuận tình ly hôn được thấu tình, đạt lý.

Để đảm bảo quyền con người, quyền công dân, phiên họp được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự, trừ trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ, thì Tòa án có thể xét xử kín. Để bảo đảm cho đương sự có quyền trình bày yêu cầu và chứng cứ chứng minh yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại phiên họp, Tòa án phải triệu tập người yêu cầu hoặc người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ phải tham gia phiên họp theo giấy triệu tập của Tòa án. Điểm mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là bổ sung người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong thành phần những người tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự. Quy định này đã giúp cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được tốt hơn. Như vậy, các quy định về phiên họp giải quyết việc dân sự của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân thông qua các quy định về xét xử công khai, bảo đảm quyền được có mặt tại phiên họp, quyền đưa ra và trình bày về yêu cầu và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình. Tuy nhiên, vẫn còn có một số quy định chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ tốt quyền con người và quyền công dân. Cụ thể:

Bảo đảm quyền con người, quyền công dân của đương sự còn thể hiện ở việc các đương sự có quyền thỏa thuận với nhau về giải quyết việc dân sự. Song hiện nay, ngoại trừ việc giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, phạm vi những loại việc dân sự mà Tòa án có trách nhiệm hòa giải trước khi mở phiên họp giải quyết việc dân sự chưa được pháp luật quy định cụ thể. Hiện nay, các quy định về hòa giải trong tố tụng dân sự không có quy định về những việc dân sự không được hòa giải. Điều này dẫn đến sự lúng túng trong thực tiễn áp dụng khi hòa giải đối với việc dân sự. Theo tác giả, những trường hợp yêu cầu giải quyết việc dân sự liên quan đến việc xác định một sự kiện pháp lý mà việc xác định sự kiện đó chỉ liên quan đến quyền và nghĩa vụ “tư” của các đương sự thì Tòa án vẫn tiến hành hòa giải. Những trường hợp yêu cầu giải quyết việc dân sự liên quan đến việc xác định một sự kiện pháp lý thì Tòa án không được hòa giải.

Bảo đảm quyền con người, quyền công dân còn thể hiện thông qua các quy định về thủ tục tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết việc dân sự và áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu và trả lại đơn yêu cầu, tài liệu, chứng cứ kèm theo nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu mà không quy định riêng về tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết việc dân sự. Theo nguyên tắc tại Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án có thể áp dụng tương tự các quy định tại Điều 214, Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để ra quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết việc dân sự. Tuy nhiên, do tính chất của vụ án dân sự khác với việc dân sự nên không phải tất cả các căn cứ tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đều có thể áp dụng cho việc dân sự. Do đó, cần có điều luật riêng quy định về tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết việc dân sự.

Cũng giống như Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chỉ quy định về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Điều này có thể lý giải bởi thông thường các việc dân sự là việc xác định các sự kiện pháp lý hoặc các bên đương sự không có tranh chấp với nhau nên không cần thiết phải áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Song tác giả cho rằng, trong một số trường hợp đặc biệt, việc áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với giải quyết việc dân sự là cần thiết như biện pháp giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục khi giải quyết yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật; biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản hoặc cấm thay đổi hiện trạng tài sản khi giải quyết các yêu cầu về thông báo tìm kiếm người vắng mặt hoặc tuyên bố một người là mất tích hoặc đã chết... Do đó, cần bổ sung quy định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình giải quyết việc dân sự.

2. Bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong thủ tục triệu tập đương sự tham gia phiên họp và thủ tục tiến hành phiên họp

Các quy định về thủ tục tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự, về cơ bản đã bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân của đương sự. Tuy nhiên, đối với một số loại việc đặc thù như yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, yêu cầu tuyên bố một người là mất tích hoặc đã chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi dân sự, Tòa án có phải triệu tập người bị thông báo tìm kiếm, bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc đã chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi dân sự hay không? Về nguyên tắc, họ là những người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự nên phải được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp, bởi trước thời điểm quyết định giải quyết việc dân sự có hiệu lực pháp luật thì họ vẫn là những người có năng lực hành vi dân sự bình thường. Song, đối với người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, bị yêu cầu tuyên bố là mất tích hoặc đã chết là những người vắng mặt tại nơi cư trú, nên nếu Tòa án vẫn áp dụng thủ tục triệu tập họ như những trường hợp thông thường sẽ làm kéo dài thời gian giải quyết, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu. Đối với người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi dân sự là những chủ thể mặc dù chưa bị tuyên bố là mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi nhưng trên thực tế họ đã là người có kết luận giám định của cơ quan có thẩm quyền là mắc các bệnh dẫn đến không có hoặc có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, vì vậy, việc triệu tập họ tham gia tố tụng là không cần thiết, gây phức tạp về thủ tục tố tụng. Tuy nhiên, để áp dụng thống nhất, Tòa án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn cụ thể về những trường hợp này.

Quyền bình đẳng của đương sự trong tố tụng dân sự không chỉ dừng lại ở việc pháp luật quy định cho họ các quyền và nghĩa vụ tố tụng bình đẳng với nhau mà còn cần thiết quy định cho họ có các cơ hội như nhau khi tham gia vào quá trình tố tụng dân sự. Đối với việc giải quyết vụ án dân sự, Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa. Như vậy, việc có hoãn hay không hoãn phiên tòa trong trường hợp này phụ thuộc vào đánh giá của Hội đồng xét xử. Thông thường trên thực tế, nếu tài liệu, chứng cứ chưa đầy đủ hoặc chưa được làm rõ hoặc sự có mặt của đương sự là cần thiết cho việc giải quyết vụ án dân sự thì Hội đồng xét xử sẽ hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, đối với giải quyết việc dân sự, trường hợp người yêu cầu đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ yêu cầu và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự. Có thể thấy, quy định của khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chưa thực sự bảo đảm quyền bình đẳng giữa đương sự trong giải quyết việc dân sự với đương sự trong giải quyết vụ án dân sự. Vì vậy, cần sửa khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về những người tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự theo hướng: Trường hợp người yêu cầu đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì bị coi là từ bỏ yêu cầu và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự; trong trường hợp này, quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự đó theo thủ tục do Bộ luật này quy định vẫn được bảo đảm.

Ngoài ra, Bộ luật năm 2015 không quy định về quyền được đặt câu hỏi và trình bày quan điểm về giải quyết việc dân sự của đương sự và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự là chưa thực sự bảo vệ quyền con người, quyền công dân của đương sự trong giải quyết việc dân sự[4]. Vì vậy, cần sửa khoản 19 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 theo hướng: Đương sự có quyền đưa ra câu hỏi với người khác về vấn đề liên quan đến “vụ việc” hoặc đề xuất với Tòa án những vấn đề cần hỏi người khác; được đối chất với nhau hoặc với người làm chứng.

3. Bảo đảm quyền con người, quyền công dân của đương sự trong thủ tục phúc thẩm việc dân sự

Để bảo đảm quyền con người, quyền công dân của đương sự trong giải quyết việc dân sự, Bộ luật năm 2015 đã ghi nhận quyền kháng cáo của đương sự, kháng nghị của Viện kiểm sát đối với đa số quyết định giải quyết việc dân sự[5]. Quy định này nhằm bảo đảm cho đương sự, Viện kiểm sát có quyền được yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xem xét lại quyết định giải quyết việc dân sự khi họ cho rằng quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là chưa thỏa đáng. Mặt khác, để bảo đảm cho việc giải quyết việc dân sự được chính xác, khách quan, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về thủ tục phúc thẩm việc dân sự[6]. Các quy định về thủ tục phúc thẩm việc dân sự về cơ bản đã bảo đảm được quyền con người, quyền công dân của đương sự thông qua quy định về quyền kháng cáo, thủ tục giải quyết kháng cáo đối với các quyết định giải quyết việc dân sự. Tuy nhiên, đối với người bị yêu cầu tuyên bố là mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, người bị yêu cầu tuyên bố là mất tích hoặc đã chết là người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ việc đó, nhưng do pháp luật không quy định cụ thể quyền kháng cáo của các chủ thể này dẫn đến thực tiễn các quyết định của Tòa án thường không tuyên quyền kháng cáo cho những người này làm ảnh hưởng đến quyền con người, quyền công dân của họ. Vì vậy, Tòa án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn cụ thể.

4. Bảo đảm quyền con người, quyền công dân của đương sự trong thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm việc dân sự

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật về giải quyết vụ án dân sự có thể bị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là cơ chế hữu hiệu nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân của đương sự ngay cả khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 lại không quy định cụ thể về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với đa số các quyết định giải quyết việc dân sự. Riêng đối với việc giải quyết yêu cầu công nhận hoặc không công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài có đặc trưng cơ bản là Tòa án Việt Nam không xem xét lại nội dung của vụ việc, mà chỉ kiểm tra, đối chiếu bản án, quyết định dân sự của Tòa án, trọng tài nước ngoài, các giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu với các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các quy định khác của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có liên quan để quyết định có công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án, trọng tài nước ngoài hay không. Tuy nhiên, việc giải quyết việc dân sự trong trường hợp này vẫn có thể có sai lầm hoặc có tình tiết mới xuất hiện nên Điều 443 và Điều 465 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định và có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật này. Đây là điểm mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhằm bảo vệ tốt hơn quyền con người và quyền công dân của đương sự.

Đối với việc giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết mà trở về hoặc người bị tuyên bố mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự trở lại trạng thái nhận thức bình thường thì chính Tòa án đã ra quyết định có quyền hủy quyết định của mình theo thủ tục sơ thẩm thông thường. Tác giả cho rằng, quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là hợp lý, bởi chính Tòa án đã ra quyết định là Tòa án có điều kiện tốt nhất để xem xét việc hủy quyết định giải quyết việc dân sự. Với cách quy định này có thể hiểu, quyết định giải quyết việc dân sự trong những trường hợp này không bị xem xét lại theo thủ tục tái thẩm dân sự.

Đối với việc giải quyết yêu cầu hủy quyết định trọng tài, theo quy định của các điều, từ Điều 68 đến Điều 71 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 thì quyết định của Tòa án về xem xét hủy quyết định trọng tài thậm chí còn không bị kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm. Như vậy, quyết định của Tòa án về xem xét hủy quyết định trọng tài là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành. Song, nếu quyết định giải quyết yêu cầu hủy quyết định trọng tài đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện ra vi phạm pháp luật hoặc tình tiết mới thì có được giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hay không cũng cần có hướng dẫn cụ thể.

Đối với những việc dân sự còn lại, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không quy định về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự. Theo nguyên tắc áp dụng pháp luật tại Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đối với các quyết định giải quyết việc dân sự đó vẫn có thể bị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm khi có kháng nghị của người có thẩm quyền. Tuy nhiên, để thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật thì cần có hướng dẫn cụ thể về những loại việc dân sự không bị giám đốc thẩm, tái thẩm và những việc dân sự còn lại có thể được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự theo nguyên tắc áp dụng pháp luật tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

TS. Bùi Thị Huyền

Đại học Luật Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1]. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) chỉ quy định về thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, tuyên bố một người là mất tích hoặc đã chết, tuyên bố một người bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự của cá nhân là 20 ngày hoặc 30 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu.

[2]. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định thời hạn chuẩn bị giải quyết đơn yêu cầu xét tính hợp pháp của cuộc đình công là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn yêu cầu. Thời hạn chuẩn bị xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu là 10 ngày, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu là 15 ngày, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu. Thời hạn chuẩn bị giải quyết việc dân sự liên quan đến hoạt động trọng tài thương mại Việt Nam thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được thực hiện theo quy định của Luật Trọng tài thương mại. Đây là những loại việc đặc thù, cần phải giải quyết nhanh nên quy định về thời hạn chuẩn bị giải quyết việc dân sự như nêu trên là hợp lý.

[3]. Chẳng hạn, đối với yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, theo đề nghị của người yêu cầu, Tòa án có thể trưng cầu giám định sức khỏe, bệnh tật của người bị yêu cầu tuyên bố bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc giám định pháp y tâm thần đối với người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Trong trường hợp này, khi nhận được kết luận giám định, Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu cầu. Đối với yêu cầu tuyên bố một người mất tích, trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích.

[4]. Khoản 19 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định đương sự có quyền đưa ra câu hỏi với người khác về vấn đề liên quan đến “vụ án” hoặc đề xuất với Tòa án những vấn đề cần hỏi người khác, được đối chất với nhau hoặc với người làm chứng.

[5]. Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[6]. Từ Điều 373 đến Điều 375 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: