Chủ nhật 24/05/2026 22:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù

Thi hành án phạt tù là việc Nhà nước đưa người phạm tội bị kết án đi chấp hành hình phạt tại các cơ sở thi hành án nhằm giáo dục, cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên, đây cũng là lĩnh vực tác động trực tiếp, toàn diện đến các quyền con người và cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ xâm phạm quyền con người của phạm nhân. Bài viết này phân tích thực trạng bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù ở Việt Nam, từ đó, kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của việc bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù.


1. Bảo đảm pháp lý - yếu tố quan trọng để bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù

Bảo đảm quyền con người nói chung và quyền con người trong thi hành án hình sự nói riêng được thể hiện qua nhiều phương diện như bảo đảm kinh tế, bảo đảm chính trị, bảo đảm xã hội và bảo đảm pháp lý, tuy nhiên, bảo đảm pháp lý là yếu tố quan trọng nhất để bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù. Bảo đảm pháp lý là bảo đảm thực hiện quyền con người bằng pháp luật, trên phương diện pháp luật. Đây là phương thức hiệu quả nhất, có quy mô trên toàn xã hội, đồng thời, nó chính là sự thể chế các bảo đảm về chính trị, kinh tế, xã hội... thành các chuẩn mực có tính bắt buộc đối với mọi chủ thể trong xã hội phải tuân thủ và thực hiện.

Bảo đảm pháp lý về quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù được thể hiện ở hai khía cạnh: (i) Bảo đảm về an ninh cá nhân cho phạm nhân trước khả năng bị xâm hại bởi chính những bạn tù của họ và các cơ quan thi hành án, cán bộ quản lý trại giam; (ii) Bảo đảm những điều kiện cần thiết để phạm nhân có thể hưởng thụ đầy đủ các quyền con người khác của họ theo quy định của pháp luật. Để thực hiện được những bảo đảm pháp lý về quyền con người trong thi hành án phạt tù, Nhà nước cần ban hành các quy định pháp luật ghi nhận các quyền con người cơ bản của phạm nhân và sau đó là xây dựng cơ chế và chuẩn bị những nguồn lực vật chất (phòng giam, trang thiết bị, ngân sách, cán bộ...) để các quyền con người được tổ chức thực hiện một cách nghiêm minh và hiệu quả trên thực tế ở các trại giam. Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật, qua đó có thể bảo vệ, ngăn chặn nguy cơ vi phạm quyền con người, giúp cho các hoạt động thực thi pháp luật được thực hiện theo đúng quy định, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của phạm nhân.

Trước hết, cần xác lập cơ chế xây dựng pháp luật. Để bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù, pháp luật thi hành án phạt tù phải ghi nhận được các quyền con người của người chấp hành án, thể hiện thông qua việc thể chế hóa các quyền tự do cơ bản của người chấp hành án trong hệ thống pháp luật quốc gia, xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người trong thi hành án phạt tù. Đồng thời, pháp luật thi hành án phạt tù quy định cách thức, biện pháp thực hiện các quyền đó một cách khả thi, cụ thể và trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể thực thi; trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể giải quyết các trường hợp vi phạm... Việc ghi nhận các quyền và cơ chế bảo đảm thực thi quyền trong hệ thống pháp luật sẽ tạo điều kiện để các quyền được thực hiện, đồng thời, ngăn chặn và hạn chế được sự xâm hại quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù.

Thứ hai, phải hình thành cơ chế thực thi pháp luật hiệu quả. Đây là một nội dung quan trọng bởi các quy định pháp luật về bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù chỉ phát huy vai trò khi được thực thi đầy đủ và nghiêm minh trong thực tiễn. Thực thi pháp luật được tiến hành thông qua việc áp dụng pháp luật của các cơ quan và cá nhân trong hoạt động thi hành án phạt tù; thiết lập cơ chế để các cá nhân, tổ chức thực hiện các quy định về giáo dục, cải tạo đối với phạm nhân tại các cơ sở giam giữ, hỗ trợ họ thụ hưởng đầy đủ đến mức cao nhất có thể các quyền con người trừ những quyền không bị tước hoặc hạn chế. Hiệu quả của việc áp dụng pháp luật phụ thuộc nhiều yếu tố có thể kể đến như chất lượng đội ngũ cán bộ; sự tham gia, phối hợp của các chủ thể khác; các thiết chế hỗ trợ quá trình thực thi pháp luật; cơ sở vật chất trang thiết bị...

Thứ ba, cần có cơ chế bảo vệ các quyền đã được pháp luật ghi nhận. Có nghĩa là khi quyền con người bị xâm phạm hay có nguy cơ bị xâm phạm, thì phải có các biện pháp ngăn chặn, đồng thời đưa ra những biện pháp, xây dựng cơ chế phòng ngừa, xử lý những hành vi vi phạm[1]. Trong lĩnh vực thi hành án phạt tù, quyền con người được bảo vệ bằng các hình thức như: Cấm các hành vi xâm hại quyền con người, ngăn chặn sự vi phạm từ phía các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có liên quan trọng hoạt động giám sát, giáo dục người chấp hành án; xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm quyền con người. Việc đặt ra chế tài xử lý là yếu tố quan trọng bảo đảm thực thi có hiệu quả các quyền con người được ghi nhận, tạo ra các cơ sở pháp lý để người chấp hành án tự bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bản thân phạm nhân cũng cần phải nắm được quyền của mình, đồng thời, ý thức về trách nhiệm của mình để có thể đấu tranh bảo vệ khi các quyền của đó bị xâm phạm. Vì vậy, ngoài việc quy định các nội dung là công cụ để phạm nhân tự bảo vệ mình thì các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nâng cao nhận thức về quyền con người cũng thuộc phạm trù bảo vệ quyền con người.

Thứ tư, có cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật. Giám sát giúp cho các hoạt động thực thi pháp luật được thực hiện theo đúng quy định, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của phạm nhân. Cơ chế giám sát được vận hành trên cơ sở sự phối hợp hoạt động cùng giám sát của những chủ thể trực tiếp liên quan đến việc quản lý giáo dục người chấp hành án phạt tù. Thực hiện kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định về trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động thi hành án sẽ giúp hạn chế đến mức tối thiểu các vi phạm ảnh hưởng đến việc thụ hưởng quyền của phạm nhân trên thực tế. Cơ chế giám sát được vận hành trên cơ sở phối hợp hoạt động cùng giám sát của những chủ thể trực tiếp liên quan đến việc quản lý giáo dục người chấp hành án phạt tù. Thực hiện kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định về trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động thi hành án, hạn chế các vi phạm ảnh hưởng đến việc thụ hưởng quyền của phạm nhân. Trong thi hành án phạt tù, Viện kiểm sát là cơ quan tố tụng có chức năng giám sát trực tiếp hoạt động tố tụng nói chung và hoạt động thi hành án phạt tù nói riêng. Việc kiểm soát chặt chẽ đảm bảo tính khách quan, công bằng, đảm bảo việc tuân thủ pháp luật của cơ quan thi hành án trong công tác giáo dục, quản lý phạm nhân. Song song với việc bảo đảm sự độc lập, kiểm soát giữa các chủ thể có liên quan trực tiếp trong hoạt động thi hành án phạt tù thì cơ chế giám sát ngoài cũng cần được chú trọng. Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước thông qua hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp đối với việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan, tổ chức trong hoạt động thi hành án phạt tù. Ngoài ra, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là các cơ quan đại diện cho nhân dân cũng được xem như một kênh kiểm soát hữu hiệu. Tuy nhiên, để hoạt động của các cơ quan này có hiệu quả như mong muốn cần quy định một cơ chế giám sát phù hợp, xác định rõ phạm vi, hình thức, cách thức thực hiện giám sát cũng như hiệu quả của hoạt động giám sát trong thi hành án phạt tù.

2. Thực trạng và giải pháp tăng cường bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù ở Việt Nam

2.1. Thực trạng công tác thi hành án phạt tù ở Việt Nam hiện nay

Xuất phát từ yêu cầu về công tác quản lý giam giữ phạm nhân, thời gian qua các cơ quan có thẩm quyền đã kịp thời chỉ đạo và có các động thái tích cực, nghiêm chỉnh thực hiện đúng các quy định pháp luật thi hành án phạt tù về chế độ giam giữ, tăng cường thực thi các quy định về giám sát, giáo dục, đồng thời ngăn chặn các hành vi vi phạm quyền con người. Với những chính sách linh hoạt, nâng cao về chất lượng và đổi mới về phương pháp, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và tình hình mới, công tác tác quản lý phạm nhân đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng vào việc giáo dục, hoàn lương đối tượng phạm tội trở thành người có ích cho xã hội. Qua việc cảm hóa, giáo dục thuyết phục, phạm nhân có nhiều chuyển biến về tư tưởng, nhận thức được lỗi lầm do mình gây ra, từ đó, chấp hành tốt các nội quy, quy định của trại giam.

Công tác quản lý giam giữ được thực hiện theo đúng quy định pháp luật, đạt được kết quả nhất định trong việc bảo đảm an ninh, an toàn cho trại giam. Các chế độ ăn, mặc ở của phạm nhân được thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đảm bảo đúng các tiêu chuẩn định lượng nhằm đảm bảo sức khỏe trong quá trình chấp hành án. Phạm nhân được tổ chức lao động, học tập phù hợp và đáp ứng yêu cầu về quản lý, giáo dục. Các chương trình giáo dục cho phạm nhân luôn được đổi mới về hình thức và cải tiến về nội dung. Các trại giam đều xác định rõ nhiệm vụ của mình là giáo dục cải tạo, làm thay đổi nhận thức, thái độ, lối sống của phạm nhân theo hướng tích cực, giúp họ sớm trở thành người có ích cho xã hội. Đồng thời, các cán bộ trại giam đều thực hiện tốt trách nhiệm của mình trong việc ứng xử với phạm nhân, hạn chế tối đa các hành vi tiêu cực, không để xảy ra các trường hợp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, hay trường hợp phạm nhân bị ốm đau, suy kiệt trong thời gian chấp hành án.

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù còn tồn tại một số hạn chế, vi phạm. Nguyên nhân xuất phát từ hạn chế của hệ thống pháp luật; cơ sở vật chất chưa đáp ứng nhu cầu; tổ chức biên chế và quyền hạn của cơ quan làm công tác thi hành án chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao; vẫn còn hiện tượng cán bộ không tuân thủ quy định, quy tắc nghề nghiệp, chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm với công tác quản lý phạm nhân; ý thức pháp luật của phạm nhân chưa cao; công tác thanh tra giám sát, xử lý vi phạm chưa thực sự hiệu quả.

2.2. Một số giải pháp tăng cường bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù ở Việt Nam

Một là, hoàn thiện quy định pháp luật về bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù. Luật Thi hành án hình sự năm 2019 ra đời thay thế Luật Thi hành án hình sự 2010 là một trong những thành tựu của công tác lập pháp. Sự bổ sung và hoàn thiện đó đã cụ thể hóa các quy định liên quan đến quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, đồng thời, khắc phục được những một số vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn thi hành. Từ việc xem xét các nhóm quyền của phạm nhân theo quy định pháp luật, không thể phủ nhận rằng, pháp luật Việt Nam đã nỗ lực rất lớn để hoàn thiện pháp luật về quyền con người nói chung, quyền con người của phạm nhân nói riêng. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam vẫn tồn tại một số hạn chế, dẫn tới sự khó khăn trong việc bảo vệ quyền trên thực tế. Việc quy định quá cụ thể của Luật Thi hành án hình sự với tư cách là luật gốc trong lĩnh vực này có thể gây rắc rối cho chính các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực thi luật. Sự thiếu sót của một số điều khoản cũng hạn chế các phạm nhân được hưởng các quyền cơ bản, việc quy định cụ thể các quyền đó lại chính là việc hạn chế quyền con người của họ. Các quy định về nội dung giới hạn quyền vô tình tạo khó khăn cho việc thực hiện các quyền công dân khác không bị hạn chế những cũng không được quy định để lấy đó làm cơ sở thực hiện trên thực tế. Vì vậy, cần bổ sung quy định: “Phạm nhân được hưởng các quyền khác của công dân nếu không bị hạn chế bởi các luật liên quan, trừ trường hợp các quyền đó không thể thực hiện được do họ đang chấp hành án tại cơ sở giam giữ”.

Hai là, cải cách chương trình, nội dung giáo dục, dạy nghề cho phạm nhân. Để tăng cường hiệu quả thực hiện công tác thi hành án phạt tù, các cơ quan thi hành án cần xem xét đổi mới hình thức giáo dục, dạy nghề cho phạm nhân, theo đó, cần đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục cảm hóa tạo được sự chủ động, giúp phạm nhân tuân thủ, chấp hành tốt quá trình cải tạo, sớm hoàn lương, tái hòa nhập cộng đồng; tăng cường xây dựng các chương trình dạy nghề thiết thực và hữu ích cho phạm nhân, chủ động tạo môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn cho phạm nhân, tập trung xây dựng các mô hình dạy nghề phù hợp với yêu cầu thực tiễn xã hội, tạo điều kiện cho phạm nhân tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành án xong; đẩy mạnh các hoạt động tạo sân chơi bổ ích cho phạm nhân, thường xuyên tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao; tiếp tục phát huy và tăng cường các chương trình xây dựng môi trường cải tạo, giáo dục lành mạnh, nhân văn, tạo môi trường thuận lợi để phạm nhân quyết tâm cải tạo để trở thành công dân tốt.

Ba là, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù. Tính đến việc xây dựng cơ sở vật chất không chỉ nhằm mục đích giám sát chặt chẽ phạm nhân mà còn làm như thế nào để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt ăn, mặc, ở, vui chơi, giải trí một cách lành mạnh, nhân văn và hiệu quả, giúp cho phạm nhân có điều kiện tốt nhất trong việc cải tạo, hoàn lương, giáo dục họ trở thành người tốt, có ích cho xã hội. Một số vấn đề cần chú trọng như quy hoạch lại các trại giam, đầu tư xây mới thêm các khu giam giữ đáp ứng đủ nhu cầu quản lý phạm nhân. Các khu giam giữ, buồng giam giữ và các công trình có liên quan cần đáp ứng đủ các tiêu chuẩn về tiện ích, vệ sinh, tạo điều kiện tốt nhất cho phạm nhân thực hiện được các quyền con người theo quy định pháp luật Việt Nam cũng như các văn kiện pháp lý quốc tế đặt ra.

Bốn là, nâng cao phẩm chất, năng lực, trình độ cho đội ngũ cán bộ làm công tác thi hành án phạt tù. Các cán bộ làm công tác thi hành án phạt tù là những người tiếp xúc trực tiếp và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của phạm nhân. Bởi vậy, những người này cần rèn luyện phẩm chất đạo đức để hạn chế đến mức tối đa những vi phạm trong công tác quản lý, giáo dục phạm nhân, thường xuyên tổ chức giáo dục tư tưởng qua các buổi nói chuyện chuyên đề, các buổi học chính trị để rèn luyện kịp thời và thường xuyên đối với cán bộ làm công tác thi hành án, giúp họ nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng và vị trí của công tác giáo dục, quản lý phạm nhân; tăng cường số lượng cán bộ trực tiếp thực hiện công tác thi hành án, thường xuyên rà soát đội ngũ hiện có để kịp thời bổ sung các cán bộ có năng lực, kinh nghiệm nhằm điều chuyển, bố trí công việc phù hợp năng lực và vị trí công tác; tăng cường tập huấn, đào tạo nâng cao chất lượng, năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ thi hành án phạt tù; triển khai các chính sách đãi ngộ, ưu tiên khuyến khích cán bộ yên tâm công tác, tích cực cống hiến.

Năm là, đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức về bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù, đặc biệt là đối với phạm nhân và đội ngũ cán bộ quản lý trại giam. Quyền con người mang tính đặc thù, được ghi nhận trong hệ thống pháp luật, song nó cũng chịu sự hạn chế nhất định tùy thuộc điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Vì vậy, để nâng cao nhận thức về quyền con người trong thi hành án phạt tù, cần quan tâm tiến hành nhiều biện pháp đồng bộ, trong đó, biện pháp hữu hiệu là tuyên truyền, giáo dục pháp luật hướng đến các đối tượng khác nhau thông qua các hình thức phong phú, sinh động.

Sáu là, tăng cường hiệu quả công tác thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm đối với hoạt động thi hành án phạt tù. Thực tiễn đã chứng minh, hoạt động thực thi quyền lực luôn có nguy cơ xâm phạm đến các quyền con người của phạm nhân nếu như không có cơ chế giám sát và chế tài xử lý khi vi phạm xảy ra. Vì vậy, nâng cao hiệu quả giám sát xử lý vi phạm trong việc thực hiện pháp luật về bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù là một yêu cầu cấp thiết và quan trọng. Công tác này cần phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, tránh bỏ lỡ cơ hội nắm bắt được các vi phạm xảy ra một cách kịp thời. Tiến hành nhiều nội dung đổi mới hoạt động, tăng cường phối hợp với các cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương để nhanh chóng phát hiện các sai phạm và kịp thời xử lý.

Tóm lại, bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù ở Việt Nam còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế trên cả phương diện nhận thức, thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật. Điều này, có thể được giải quyết thông qua việc hoàn thiện các quy định pháp luật thi hành án hình sự về bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù và tiến hành các biện pháp pháp lý mang tính đồng bộ nhằm tăng cường bảo đảm quyền con người của phạm nhân thi hành án phạt tù nói riêng và trong tư pháp hình sự nói chung.

Nguyễn Thị Thanh Trâm

Khoa Luật, Đại học Vinh



[1]. Đại học Quốc gia Hà Nội (2011), Hỏi đáp về quyền con người, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 61.

Thi hành án phạt tù là việc Nhà nước đưa người phạm tội bị kết án đi chấp hành hình phạt tại các cơ sở thi hành án nhằm giáo dục, cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên, đây cũng là lĩnh vực tác động trực tiếp, toàn diện đến các quyền con người và cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ xâm phạm quyền con người của phạm nhân. Bài viết này phân tích thực trạng bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù ở Việt Nam, từ đó, kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của việc bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù.



1. Bảo đảm pháp lý - yếu tố quan trọng để bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù

Bảo đảm quyền con người nói chung và quyền con người trong thi hành án hình sự nói riêng được thể hiện qua nhiều phương diện như bảo đảm kinh tế, bảo đảm chính trị, bảo đảm xã hội và bảo đảm pháp lý, tuy nhiên, bảo đảm pháp lý là yếu tố quan trọng nhất để bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù. Bảo đảm pháp lý là bảo đảm thực hiện quyền con người bằng pháp luật, trên phương diện pháp luật. Đây là phương thức hiệu quả nhất, có quy mô trên toàn xã hội, đồng thời, nó chính là sự thể chế các bảo đảm về chính trị, kinh tế, xã hội... thành các chuẩn mực có tính bắt buộc đối với mọi chủ thể trong xã hội phải tuân thủ và thực hiện.

Bảo đảm pháp lý về quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù được thể hiện ở hai khía cạnh: (i) Bảo đảm về an ninh cá nhân cho phạm nhân trước khả năng bị xâm hại bởi chính những bạn tù của họ và các cơ quan thi hành án, cán bộ quản lý trại giam; (ii) Bảo đảm những điều kiện cần thiết để phạm nhân có thể hưởng thụ đầy đủ các quyền con người khác của họ theo quy định của pháp luật. Để thực hiện được những bảo đảm pháp lý về quyền con người trong thi hành án phạt tù, Nhà nước cần ban hành các quy định pháp luật ghi nhận các quyền con người cơ bản của phạm nhân và sau đó là xây dựng cơ chế và chuẩn bị những nguồn lực vật chất (phòng giam, trang thiết bị, ngân sách, cán bộ...) để các quyền con người được tổ chức thực hiện một cách nghiêm minh và hiệu quả trên thực tế ở các trại giam. Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật, qua đó có thể bảo vệ, ngăn chặn nguy cơ vi phạm quyền con người, giúp cho các hoạt động thực thi pháp luật được thực hiện theo đúng quy định, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của phạm nhân.

Trước hết, cần xác lập cơ chế xây dựng pháp luật. Để bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù, pháp luật thi hành án phạt tù phải ghi nhận được các quyền con người của người chấp hành án, thể hiện thông qua việc thể chế hóa các quyền tự do cơ bản của người chấp hành án trong hệ thống pháp luật quốc gia, xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người trong thi hành án phạt tù. Đồng thời, pháp luật thi hành án phạt tù quy định cách thức, biện pháp thực hiện các quyền đó một cách khả thi, cụ thể và trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể thực thi; trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể giải quyết các trường hợp vi phạm... Việc ghi nhận các quyền và cơ chế bảo đảm thực thi quyền trong hệ thống pháp luật sẽ tạo điều kiện để các quyền được thực hiện, đồng thời, ngăn chặn và hạn chế được sự xâm hại quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù.

Thứ hai, phải hình thành cơ chế thực thi pháp luật hiệu quả. Đây là một nội dung quan trọng bởi các quy định pháp luật về bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù chỉ phát huy vai trò khi được thực thi đầy đủ và nghiêm minh trong thực tiễn. Thực thi pháp luật được tiến hành thông qua việc áp dụng pháp luật của các cơ quan và cá nhân trong hoạt động thi hành án phạt tù; thiết lập cơ chế để các cá nhân, tổ chức thực hiện các quy định về giáo dục, cải tạo đối với phạm nhân tại các cơ sở giam giữ, hỗ trợ họ thụ hưởng đầy đủ đến mức cao nhất có thể các quyền con người trừ những quyền không bị tước hoặc hạn chế. Hiệu quả của việc áp dụng pháp luật phụ thuộc nhiều yếu tố có thể kể đến như chất lượng đội ngũ cán bộ; sự tham gia, phối hợp của các chủ thể khác; các thiết chế hỗ trợ quá trình thực thi pháp luật; cơ sở vật chất trang thiết bị...

Thứ ba, cần có cơ chế bảo vệ các quyền đã được pháp luật ghi nhận. Có nghĩa là khi quyền con người bị xâm phạm hay có nguy cơ bị xâm phạm, thì phải có các biện pháp ngăn chặn, đồng thời đưa ra những biện pháp, xây dựng cơ chế phòng ngừa, xử lý những hành vi vi phạm[1]. Trong lĩnh vực thi hành án phạt tù, quyền con người được bảo vệ bằng các hình thức như: Cấm các hành vi xâm hại quyền con người, ngăn chặn sự vi phạm từ phía các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có liên quan trọng hoạt động giám sát, giáo dục người chấp hành án; xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm quyền con người. Việc đặt ra chế tài xử lý là yếu tố quan trọng bảo đảm thực thi có hiệu quả các quyền con người được ghi nhận, tạo ra các cơ sở pháp lý để người chấp hành án tự bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bản thân phạm nhân cũng cần phải nắm được quyền của mình, đồng thời, ý thức về trách nhiệm của mình để có thể đấu tranh bảo vệ khi các quyền của đó bị xâm phạm. Vì vậy, ngoài việc quy định các nội dung là công cụ để phạm nhân tự bảo vệ mình thì các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nâng cao nhận thức về quyền con người cũng thuộc phạm trù bảo vệ quyền con người.

Thứ tư, có cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật. Giám sát giúp cho các hoạt động thực thi pháp luật được thực hiện theo đúng quy định, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của phạm nhân. Cơ chế giám sát được vận hành trên cơ sở sự phối hợp hoạt động cùng giám sát của những chủ thể trực tiếp liên quan đến việc quản lý giáo dục người chấp hành án phạt tù. Thực hiện kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định về trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động thi hành án sẽ giúp hạn chế đến mức tối thiểu các vi phạm ảnh hưởng đến việc thụ hưởng quyền của phạm nhân trên thực tế. Cơ chế giám sát được vận hành trên cơ sở phối hợp hoạt động cùng giám sát của những chủ thể trực tiếp liên quan đến việc quản lý giáo dục người chấp hành án phạt tù. Thực hiện kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định về trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động thi hành án, hạn chế các vi phạm ảnh hưởng đến việc thụ hưởng quyền của phạm nhân. Trong thi hành án phạt tù, Viện kiểm sát là cơ quan tố tụng có chức năng giám sát trực tiếp hoạt động tố tụng nói chung và hoạt động thi hành án phạt tù nói riêng. Việc kiểm soát chặt chẽ đảm bảo tính khách quan, công bằng, đảm bảo việc tuân thủ pháp luật của cơ quan thi hành án trong công tác giáo dục, quản lý phạm nhân. Song song với việc bảo đảm sự độc lập, kiểm soát giữa các chủ thể có liên quan trực tiếp trong hoạt động thi hành án phạt tù thì cơ chế giám sát ngoài cũng cần được chú trọng. Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước thông qua hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp đối với việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan, tổ chức trong hoạt động thi hành án phạt tù. Ngoài ra, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là các cơ quan đại diện cho nhân dân cũng được xem như một kênh kiểm soát hữu hiệu. Tuy nhiên, để hoạt động của các cơ quan này có hiệu quả như mong muốn cần quy định một cơ chế giám sát phù hợp, xác định rõ phạm vi, hình thức, cách thức thực hiện giám sát cũng như hiệu quả của hoạt động giám sát trong thi hành án phạt tù.

2. Thực trạng và giải pháp tăng cường bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù ở Việt Nam

2.1. Thực trạng công tác thi hành án phạt tù ở Việt Nam hiện nay

Xuất phát từ yêu cầu về công tác quản lý giam giữ phạm nhân, thời gian qua các cơ quan có thẩm quyền đã kịp thời chỉ đạo và có các động thái tích cực, nghiêm chỉnh thực hiện đúng các quy định pháp luật thi hành án phạt tù về chế độ giam giữ, tăng cường thực thi các quy định về giám sát, giáo dục, đồng thời ngăn chặn các hành vi vi phạm quyền con người. Với những chính sách linh hoạt, nâng cao về chất lượng và đổi mới về phương pháp, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và tình hình mới, công tác tác quản lý phạm nhân đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng vào việc giáo dục, hoàn lương đối tượng phạm tội trở thành người có ích cho xã hội. Qua việc cảm hóa, giáo dục thuyết phục, phạm nhân có nhiều chuyển biến về tư tưởng, nhận thức được lỗi lầm do mình gây ra, từ đó, chấp hành tốt các nội quy, quy định của trại giam.

Công tác quản lý giam giữ được thực hiện theo đúng quy định pháp luật, đạt được kết quả nhất định trong việc bảo đảm an ninh, an toàn cho trại giam. Các chế độ ăn, mặc ở của phạm nhân được thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đảm bảo đúng các tiêu chuẩn định lượng nhằm đảm bảo sức khỏe trong quá trình chấp hành án. Phạm nhân được tổ chức lao động, học tập phù hợp và đáp ứng yêu cầu về quản lý, giáo dục. Các chương trình giáo dục cho phạm nhân luôn được đổi mới về hình thức và cải tiến về nội dung. Các trại giam đều xác định rõ nhiệm vụ của mình là giáo dục cải tạo, làm thay đổi nhận thức, thái độ, lối sống của phạm nhân theo hướng tích cực, giúp họ sớm trở thành người có ích cho xã hội. Đồng thời, các cán bộ trại giam đều thực hiện tốt trách nhiệm của mình trong việc ứng xử với phạm nhân, hạn chế tối đa các hành vi tiêu cực, không để xảy ra các trường hợp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, hay trường hợp phạm nhân bị ốm đau, suy kiệt trong thời gian chấp hành án.

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù còn tồn tại một số hạn chế, vi phạm. Nguyên nhân xuất phát từ hạn chế của hệ thống pháp luật; cơ sở vật chất chưa đáp ứng nhu cầu; tổ chức biên chế và quyền hạn của cơ quan làm công tác thi hành án chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao; vẫn còn hiện tượng cán bộ không tuân thủ quy định, quy tắc nghề nghiệp, chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm với công tác quản lý phạm nhân; ý thức pháp luật của phạm nhân chưa cao; công tác thanh tra giám sát, xử lý vi phạm chưa thực sự hiệu quả.

2.2. Một số giải pháp tăng cường bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù ở Việt Nam

Một là, hoàn thiện quy định pháp luật về bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù. Luật Thi hành án hình sự năm 2019 ra đời thay thế Luật Thi hành án hình sự 2010 là một trong những thành tựu của công tác lập pháp. Sự bổ sung và hoàn thiện đó đã cụ thể hóa các quy định liên quan đến quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, đồng thời, khắc phục được những một số vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn thi hành. Từ việc xem xét các nhóm quyền của phạm nhân theo quy định pháp luật, không thể phủ nhận rằng, pháp luật Việt Nam đã nỗ lực rất lớn để hoàn thiện pháp luật về quyền con người nói chung, quyền con người của phạm nhân nói riêng. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam vẫn tồn tại một số hạn chế, dẫn tới sự khó khăn trong việc bảo vệ quyền trên thực tế. Việc quy định quá cụ thể của Luật Thi hành án hình sự với tư cách là luật gốc trong lĩnh vực này có thể gây rắc rối cho chính các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực thi luật. Sự thiếu sót của một số điều khoản cũng hạn chế các phạm nhân được hưởng các quyền cơ bản, việc quy định cụ thể các quyền đó lại chính là việc hạn chế quyền con người của họ. Các quy định về nội dung giới hạn quyền vô tình tạo khó khăn cho việc thực hiện các quyền công dân khác không bị hạn chế những cũng không được quy định để lấy đó làm cơ sở thực hiện trên thực tế. Vì vậy, cần bổ sung quy định: “Phạm nhân được hưởng các quyền khác của công dân nếu không bị hạn chế bởi các luật liên quan, trừ trường hợp các quyền đó không thể thực hiện được do họ đang chấp hành án tại cơ sở giam giữ”.

Hai là, cải cách chương trình, nội dung giáo dục, dạy nghề cho phạm nhân. Để tăng cường hiệu quả thực hiện công tác thi hành án phạt tù, các cơ quan thi hành án cần xem xét đổi mới hình thức giáo dục, dạy nghề cho phạm nhân, theo đó, cần đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục cảm hóa tạo được sự chủ động, giúp phạm nhân tuân thủ, chấp hành tốt quá trình cải tạo, sớm hoàn lương, tái hòa nhập cộng đồng; tăng cường xây dựng các chương trình dạy nghề thiết thực và hữu ích cho phạm nhân, chủ động tạo môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn cho phạm nhân, tập trung xây dựng các mô hình dạy nghề phù hợp với yêu cầu thực tiễn xã hội, tạo điều kiện cho phạm nhân tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành án xong; đẩy mạnh các hoạt động tạo sân chơi bổ ích cho phạm nhân, thường xuyên tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao; tiếp tục phát huy và tăng cường các chương trình xây dựng môi trường cải tạo, giáo dục lành mạnh, nhân văn, tạo môi trường thuận lợi để phạm nhân quyết tâm cải tạo để trở thành công dân tốt.

Ba là, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù. Tính đến việc xây dựng cơ sở vật chất không chỉ nhằm mục đích giám sát chặt chẽ phạm nhân mà còn làm như thế nào để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt ăn, mặc, ở, vui chơi, giải trí một cách lành mạnh, nhân văn và hiệu quả, giúp cho phạm nhân có điều kiện tốt nhất trong việc cải tạo, hoàn lương, giáo dục họ trở thành người tốt, có ích cho xã hội. Một số vấn đề cần chú trọng như quy hoạch lại các trại giam, đầu tư xây mới thêm các khu giam giữ đáp ứng đủ nhu cầu quản lý phạm nhân. Các khu giam giữ, buồng giam giữ và các công trình có liên quan cần đáp ứng đủ các tiêu chuẩn về tiện ích, vệ sinh, tạo điều kiện tốt nhất cho phạm nhân thực hiện được các quyền con người theo quy định pháp luật Việt Nam cũng như các văn kiện pháp lý quốc tế đặt ra.

Bốn là, nâng cao phẩm chất, năng lực, trình độ cho đội ngũ cán bộ làm công tác thi hành án phạt tù. Các cán bộ làm công tác thi hành án phạt tù là những người tiếp xúc trực tiếp và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của phạm nhân. Bởi vậy, những người này cần rèn luyện phẩm chất đạo đức để hạn chế đến mức tối đa những vi phạm trong công tác quản lý, giáo dục phạm nhân, thường xuyên tổ chức giáo dục tư tưởng qua các buổi nói chuyện chuyên đề, các buổi học chính trị để rèn luyện kịp thời và thường xuyên đối với cán bộ làm công tác thi hành án, giúp họ nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng và vị trí của công tác giáo dục, quản lý phạm nhân; tăng cường số lượng cán bộ trực tiếp thực hiện công tác thi hành án, thường xuyên rà soát đội ngũ hiện có để kịp thời bổ sung các cán bộ có năng lực, kinh nghiệm nhằm điều chuyển, bố trí công việc phù hợp năng lực và vị trí công tác; tăng cường tập huấn, đào tạo nâng cao chất lượng, năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ thi hành án phạt tù; triển khai các chính sách đãi ngộ, ưu tiên khuyến khích cán bộ yên tâm công tác, tích cực cống hiến.

Năm là, đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức về bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù, đặc biệt là đối với phạm nhân và đội ngũ cán bộ quản lý trại giam. Quyền con người mang tính đặc thù, được ghi nhận trong hệ thống pháp luật, song nó cũng chịu sự hạn chế nhất định tùy thuộc điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Vì vậy, để nâng cao nhận thức về quyền con người trong thi hành án phạt tù, cần quan tâm tiến hành nhiều biện pháp đồng bộ, trong đó, biện pháp hữu hiệu là tuyên truyền, giáo dục pháp luật hướng đến các đối tượng khác nhau thông qua các hình thức phong phú, sinh động.

Sáu là, tăng cường hiệu quả công tác thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm đối với hoạt động thi hành án phạt tù. Thực tiễn đã chứng minh, hoạt động thực thi quyền lực luôn có nguy cơ xâm phạm đến các quyền con người của phạm nhân nếu như không có cơ chế giám sát và chế tài xử lý khi vi phạm xảy ra. Vì vậy, nâng cao hiệu quả giám sát xử lý vi phạm trong việc thực hiện pháp luật về bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù là một yêu cầu cấp thiết và quan trọng. Công tác này cần phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, tránh bỏ lỡ cơ hội nắm bắt được các vi phạm xảy ra một cách kịp thời. Tiến hành nhiều nội dung đổi mới hoạt động, tăng cường phối hợp với các cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương để nhanh chóng phát hiện các sai phạm và kịp thời xử lý.

Tóm lại, bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù ở Việt Nam còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế trên cả phương diện nhận thức, thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật. Điều này, có thể được giải quyết thông qua việc hoàn thiện các quy định pháp luật thi hành án hình sự về bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù và tiến hành các biện pháp pháp lý mang tính đồng bộ nhằm tăng cường bảo đảm quyền con người của phạm nhân thi hành án phạt tù nói riêng và trong tư pháp hình sự nói chung.

Nguyễn Thị Thanh Trâm
Khoa Luật, Đại học Vinh


[1]. Đại học Quốc gia Hà Nội (2011), Hỏi đáp về quyền con người, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 61.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: