Thứ bảy 17/10/2026 13:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù

Thi hành án phạt tù là việc Nhà nước đưa người phạm tội bị kết án đi chấp hành hình phạt tại các cơ sở thi hành án nhằm giáo dục, cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên, đây cũng là lĩnh vực tác động trực tiếp, toàn diện đến các quyền con người và cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ xâm phạm quyền con người của phạm nhân. Bài viết này phân tích thực trạng bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù ở Việt Nam, từ đó, kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của việc bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù.


1. Bảo đảm pháp lý - yếu tố quan trọng để bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù

Bảo đảm quyền con người nói chung và quyền con người trong thi hành án hình sự nói riêng được thể hiện qua nhiều phương diện như bảo đảm kinh tế, bảo đảm chính trị, bảo đảm xã hội và bảo đảm pháp lý, tuy nhiên, bảo đảm pháp lý là yếu tố quan trọng nhất để bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù. Bảo đảm pháp lý là bảo đảm thực hiện quyền con người bằng pháp luật, trên phương diện pháp luật. Đây là phương thức hiệu quả nhất, có quy mô trên toàn xã hội, đồng thời, nó chính là sự thể chế các bảo đảm về chính trị, kinh tế, xã hội... thành các chuẩn mực có tính bắt buộc đối với mọi chủ thể trong xã hội phải tuân thủ và thực hiện.

Bảo đảm pháp lý về quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù được thể hiện ở hai khía cạnh: (i) Bảo đảm về an ninh cá nhân cho phạm nhân trước khả năng bị xâm hại bởi chính những bạn tù của họ và các cơ quan thi hành án, cán bộ quản lý trại giam; (ii) Bảo đảm những điều kiện cần thiết để phạm nhân có thể hưởng thụ đầy đủ các quyền con người khác của họ theo quy định của pháp luật. Để thực hiện được những bảo đảm pháp lý về quyền con người trong thi hành án phạt tù, Nhà nước cần ban hành các quy định pháp luật ghi nhận các quyền con người cơ bản của phạm nhân và sau đó là xây dựng cơ chế và chuẩn bị những nguồn lực vật chất (phòng giam, trang thiết bị, ngân sách, cán bộ...) để các quyền con người được tổ chức thực hiện một cách nghiêm minh và hiệu quả trên thực tế ở các trại giam. Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật, qua đó có thể bảo vệ, ngăn chặn nguy cơ vi phạm quyền con người, giúp cho các hoạt động thực thi pháp luật được thực hiện theo đúng quy định, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của phạm nhân.

Trước hết, cần xác lập cơ chế xây dựng pháp luật. Để bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù, pháp luật thi hành án phạt tù phải ghi nhận được các quyền con người của người chấp hành án, thể hiện thông qua việc thể chế hóa các quyền tự do cơ bản của người chấp hành án trong hệ thống pháp luật quốc gia, xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người trong thi hành án phạt tù. Đồng thời, pháp luật thi hành án phạt tù quy định cách thức, biện pháp thực hiện các quyền đó một cách khả thi, cụ thể và trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể thực thi; trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể giải quyết các trường hợp vi phạm... Việc ghi nhận các quyền và cơ chế bảo đảm thực thi quyền trong hệ thống pháp luật sẽ tạo điều kiện để các quyền được thực hiện, đồng thời, ngăn chặn và hạn chế được sự xâm hại quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù.

Thứ hai, phải hình thành cơ chế thực thi pháp luật hiệu quả. Đây là một nội dung quan trọng bởi các quy định pháp luật về bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù chỉ phát huy vai trò khi được thực thi đầy đủ và nghiêm minh trong thực tiễn. Thực thi pháp luật được tiến hành thông qua việc áp dụng pháp luật của các cơ quan và cá nhân trong hoạt động thi hành án phạt tù; thiết lập cơ chế để các cá nhân, tổ chức thực hiện các quy định về giáo dục, cải tạo đối với phạm nhân tại các cơ sở giam giữ, hỗ trợ họ thụ hưởng đầy đủ đến mức cao nhất có thể các quyền con người trừ những quyền không bị tước hoặc hạn chế. Hiệu quả của việc áp dụng pháp luật phụ thuộc nhiều yếu tố có thể kể đến như chất lượng đội ngũ cán bộ; sự tham gia, phối hợp của các chủ thể khác; các thiết chế hỗ trợ quá trình thực thi pháp luật; cơ sở vật chất trang thiết bị...

Thứ ba, cần có cơ chế bảo vệ các quyền đã được pháp luật ghi nhận. Có nghĩa là khi quyền con người bị xâm phạm hay có nguy cơ bị xâm phạm, thì phải có các biện pháp ngăn chặn, đồng thời đưa ra những biện pháp, xây dựng cơ chế phòng ngừa, xử lý những hành vi vi phạm[1]. Trong lĩnh vực thi hành án phạt tù, quyền con người được bảo vệ bằng các hình thức như: Cấm các hành vi xâm hại quyền con người, ngăn chặn sự vi phạm từ phía các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có liên quan trọng hoạt động giám sát, giáo dục người chấp hành án; xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm quyền con người. Việc đặt ra chế tài xử lý là yếu tố quan trọng bảo đảm thực thi có hiệu quả các quyền con người được ghi nhận, tạo ra các cơ sở pháp lý để người chấp hành án tự bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bản thân phạm nhân cũng cần phải nắm được quyền của mình, đồng thời, ý thức về trách nhiệm của mình để có thể đấu tranh bảo vệ khi các quyền của đó bị xâm phạm. Vì vậy, ngoài việc quy định các nội dung là công cụ để phạm nhân tự bảo vệ mình thì các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nâng cao nhận thức về quyền con người cũng thuộc phạm trù bảo vệ quyền con người.

Thứ tư, có cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật. Giám sát giúp cho các hoạt động thực thi pháp luật được thực hiện theo đúng quy định, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của phạm nhân. Cơ chế giám sát được vận hành trên cơ sở sự phối hợp hoạt động cùng giám sát của những chủ thể trực tiếp liên quan đến việc quản lý giáo dục người chấp hành án phạt tù. Thực hiện kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định về trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động thi hành án sẽ giúp hạn chế đến mức tối thiểu các vi phạm ảnh hưởng đến việc thụ hưởng quyền của phạm nhân trên thực tế. Cơ chế giám sát được vận hành trên cơ sở phối hợp hoạt động cùng giám sát của những chủ thể trực tiếp liên quan đến việc quản lý giáo dục người chấp hành án phạt tù. Thực hiện kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định về trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động thi hành án, hạn chế các vi phạm ảnh hưởng đến việc thụ hưởng quyền của phạm nhân. Trong thi hành án phạt tù, Viện kiểm sát là cơ quan tố tụng có chức năng giám sát trực tiếp hoạt động tố tụng nói chung và hoạt động thi hành án phạt tù nói riêng. Việc kiểm soát chặt chẽ đảm bảo tính khách quan, công bằng, đảm bảo việc tuân thủ pháp luật của cơ quan thi hành án trong công tác giáo dục, quản lý phạm nhân. Song song với việc bảo đảm sự độc lập, kiểm soát giữa các chủ thể có liên quan trực tiếp trong hoạt động thi hành án phạt tù thì cơ chế giám sát ngoài cũng cần được chú trọng. Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước thông qua hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp đối với việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan, tổ chức trong hoạt động thi hành án phạt tù. Ngoài ra, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là các cơ quan đại diện cho nhân dân cũng được xem như một kênh kiểm soát hữu hiệu. Tuy nhiên, để hoạt động của các cơ quan này có hiệu quả như mong muốn cần quy định một cơ chế giám sát phù hợp, xác định rõ phạm vi, hình thức, cách thức thực hiện giám sát cũng như hiệu quả của hoạt động giám sát trong thi hành án phạt tù.

2. Thực trạng và giải pháp tăng cường bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù ở Việt Nam

2.1. Thực trạng công tác thi hành án phạt tù ở Việt Nam hiện nay

Xuất phát từ yêu cầu về công tác quản lý giam giữ phạm nhân, thời gian qua các cơ quan có thẩm quyền đã kịp thời chỉ đạo và có các động thái tích cực, nghiêm chỉnh thực hiện đúng các quy định pháp luật thi hành án phạt tù về chế độ giam giữ, tăng cường thực thi các quy định về giám sát, giáo dục, đồng thời ngăn chặn các hành vi vi phạm quyền con người. Với những chính sách linh hoạt, nâng cao về chất lượng và đổi mới về phương pháp, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và tình hình mới, công tác tác quản lý phạm nhân đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng vào việc giáo dục, hoàn lương đối tượng phạm tội trở thành người có ích cho xã hội. Qua việc cảm hóa, giáo dục thuyết phục, phạm nhân có nhiều chuyển biến về tư tưởng, nhận thức được lỗi lầm do mình gây ra, từ đó, chấp hành tốt các nội quy, quy định của trại giam.

Công tác quản lý giam giữ được thực hiện theo đúng quy định pháp luật, đạt được kết quả nhất định trong việc bảo đảm an ninh, an toàn cho trại giam. Các chế độ ăn, mặc ở của phạm nhân được thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đảm bảo đúng các tiêu chuẩn định lượng nhằm đảm bảo sức khỏe trong quá trình chấp hành án. Phạm nhân được tổ chức lao động, học tập phù hợp và đáp ứng yêu cầu về quản lý, giáo dục. Các chương trình giáo dục cho phạm nhân luôn được đổi mới về hình thức và cải tiến về nội dung. Các trại giam đều xác định rõ nhiệm vụ của mình là giáo dục cải tạo, làm thay đổi nhận thức, thái độ, lối sống của phạm nhân theo hướng tích cực, giúp họ sớm trở thành người có ích cho xã hội. Đồng thời, các cán bộ trại giam đều thực hiện tốt trách nhiệm của mình trong việc ứng xử với phạm nhân, hạn chế tối đa các hành vi tiêu cực, không để xảy ra các trường hợp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, hay trường hợp phạm nhân bị ốm đau, suy kiệt trong thời gian chấp hành án.

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù còn tồn tại một số hạn chế, vi phạm. Nguyên nhân xuất phát từ hạn chế của hệ thống pháp luật; cơ sở vật chất chưa đáp ứng nhu cầu; tổ chức biên chế và quyền hạn của cơ quan làm công tác thi hành án chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao; vẫn còn hiện tượng cán bộ không tuân thủ quy định, quy tắc nghề nghiệp, chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm với công tác quản lý phạm nhân; ý thức pháp luật của phạm nhân chưa cao; công tác thanh tra giám sát, xử lý vi phạm chưa thực sự hiệu quả.

2.2. Một số giải pháp tăng cường bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù ở Việt Nam

Một là, hoàn thiện quy định pháp luật về bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù. Luật Thi hành án hình sự năm 2019 ra đời thay thế Luật Thi hành án hình sự 2010 là một trong những thành tựu của công tác lập pháp. Sự bổ sung và hoàn thiện đó đã cụ thể hóa các quy định liên quan đến quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, đồng thời, khắc phục được những một số vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn thi hành. Từ việc xem xét các nhóm quyền của phạm nhân theo quy định pháp luật, không thể phủ nhận rằng, pháp luật Việt Nam đã nỗ lực rất lớn để hoàn thiện pháp luật về quyền con người nói chung, quyền con người của phạm nhân nói riêng. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam vẫn tồn tại một số hạn chế, dẫn tới sự khó khăn trong việc bảo vệ quyền trên thực tế. Việc quy định quá cụ thể của Luật Thi hành án hình sự với tư cách là luật gốc trong lĩnh vực này có thể gây rắc rối cho chính các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực thi luật. Sự thiếu sót của một số điều khoản cũng hạn chế các phạm nhân được hưởng các quyền cơ bản, việc quy định cụ thể các quyền đó lại chính là việc hạn chế quyền con người của họ. Các quy định về nội dung giới hạn quyền vô tình tạo khó khăn cho việc thực hiện các quyền công dân khác không bị hạn chế những cũng không được quy định để lấy đó làm cơ sở thực hiện trên thực tế. Vì vậy, cần bổ sung quy định: “Phạm nhân được hưởng các quyền khác của công dân nếu không bị hạn chế bởi các luật liên quan, trừ trường hợp các quyền đó không thể thực hiện được do họ đang chấp hành án tại cơ sở giam giữ”.

Hai là, cải cách chương trình, nội dung giáo dục, dạy nghề cho phạm nhân. Để tăng cường hiệu quả thực hiện công tác thi hành án phạt tù, các cơ quan thi hành án cần xem xét đổi mới hình thức giáo dục, dạy nghề cho phạm nhân, theo đó, cần đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục cảm hóa tạo được sự chủ động, giúp phạm nhân tuân thủ, chấp hành tốt quá trình cải tạo, sớm hoàn lương, tái hòa nhập cộng đồng; tăng cường xây dựng các chương trình dạy nghề thiết thực và hữu ích cho phạm nhân, chủ động tạo môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn cho phạm nhân, tập trung xây dựng các mô hình dạy nghề phù hợp với yêu cầu thực tiễn xã hội, tạo điều kiện cho phạm nhân tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành án xong; đẩy mạnh các hoạt động tạo sân chơi bổ ích cho phạm nhân, thường xuyên tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao; tiếp tục phát huy và tăng cường các chương trình xây dựng môi trường cải tạo, giáo dục lành mạnh, nhân văn, tạo môi trường thuận lợi để phạm nhân quyết tâm cải tạo để trở thành công dân tốt.

Ba là, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù. Tính đến việc xây dựng cơ sở vật chất không chỉ nhằm mục đích giám sát chặt chẽ phạm nhân mà còn làm như thế nào để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt ăn, mặc, ở, vui chơi, giải trí một cách lành mạnh, nhân văn và hiệu quả, giúp cho phạm nhân có điều kiện tốt nhất trong việc cải tạo, hoàn lương, giáo dục họ trở thành người tốt, có ích cho xã hội. Một số vấn đề cần chú trọng như quy hoạch lại các trại giam, đầu tư xây mới thêm các khu giam giữ đáp ứng đủ nhu cầu quản lý phạm nhân. Các khu giam giữ, buồng giam giữ và các công trình có liên quan cần đáp ứng đủ các tiêu chuẩn về tiện ích, vệ sinh, tạo điều kiện tốt nhất cho phạm nhân thực hiện được các quyền con người theo quy định pháp luật Việt Nam cũng như các văn kiện pháp lý quốc tế đặt ra.

Bốn là, nâng cao phẩm chất, năng lực, trình độ cho đội ngũ cán bộ làm công tác thi hành án phạt tù. Các cán bộ làm công tác thi hành án phạt tù là những người tiếp xúc trực tiếp và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của phạm nhân. Bởi vậy, những người này cần rèn luyện phẩm chất đạo đức để hạn chế đến mức tối đa những vi phạm trong công tác quản lý, giáo dục phạm nhân, thường xuyên tổ chức giáo dục tư tưởng qua các buổi nói chuyện chuyên đề, các buổi học chính trị để rèn luyện kịp thời và thường xuyên đối với cán bộ làm công tác thi hành án, giúp họ nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng và vị trí của công tác giáo dục, quản lý phạm nhân; tăng cường số lượng cán bộ trực tiếp thực hiện công tác thi hành án, thường xuyên rà soát đội ngũ hiện có để kịp thời bổ sung các cán bộ có năng lực, kinh nghiệm nhằm điều chuyển, bố trí công việc phù hợp năng lực và vị trí công tác; tăng cường tập huấn, đào tạo nâng cao chất lượng, năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ thi hành án phạt tù; triển khai các chính sách đãi ngộ, ưu tiên khuyến khích cán bộ yên tâm công tác, tích cực cống hiến.

Năm là, đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức về bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù, đặc biệt là đối với phạm nhân và đội ngũ cán bộ quản lý trại giam. Quyền con người mang tính đặc thù, được ghi nhận trong hệ thống pháp luật, song nó cũng chịu sự hạn chế nhất định tùy thuộc điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Vì vậy, để nâng cao nhận thức về quyền con người trong thi hành án phạt tù, cần quan tâm tiến hành nhiều biện pháp đồng bộ, trong đó, biện pháp hữu hiệu là tuyên truyền, giáo dục pháp luật hướng đến các đối tượng khác nhau thông qua các hình thức phong phú, sinh động.

Sáu là, tăng cường hiệu quả công tác thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm đối với hoạt động thi hành án phạt tù. Thực tiễn đã chứng minh, hoạt động thực thi quyền lực luôn có nguy cơ xâm phạm đến các quyền con người của phạm nhân nếu như không có cơ chế giám sát và chế tài xử lý khi vi phạm xảy ra. Vì vậy, nâng cao hiệu quả giám sát xử lý vi phạm trong việc thực hiện pháp luật về bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù là một yêu cầu cấp thiết và quan trọng. Công tác này cần phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, tránh bỏ lỡ cơ hội nắm bắt được các vi phạm xảy ra một cách kịp thời. Tiến hành nhiều nội dung đổi mới hoạt động, tăng cường phối hợp với các cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương để nhanh chóng phát hiện các sai phạm và kịp thời xử lý.

Tóm lại, bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù ở Việt Nam còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế trên cả phương diện nhận thức, thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật. Điều này, có thể được giải quyết thông qua việc hoàn thiện các quy định pháp luật thi hành án hình sự về bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù và tiến hành các biện pháp pháp lý mang tính đồng bộ nhằm tăng cường bảo đảm quyền con người của phạm nhân thi hành án phạt tù nói riêng và trong tư pháp hình sự nói chung.

Nguyễn Thị Thanh Trâm

Khoa Luật, Đại học Vinh



[1]. Đại học Quốc gia Hà Nội (2011), Hỏi đáp về quyền con người, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 61.

Thi hành án phạt tù là việc Nhà nước đưa người phạm tội bị kết án đi chấp hành hình phạt tại các cơ sở thi hành án nhằm giáo dục, cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên, đây cũng là lĩnh vực tác động trực tiếp, toàn diện đến các quyền con người và cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ xâm phạm quyền con người của phạm nhân. Bài viết này phân tích thực trạng bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù ở Việt Nam, từ đó, kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của việc bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù.



1. Bảo đảm pháp lý - yếu tố quan trọng để bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù

Bảo đảm quyền con người nói chung và quyền con người trong thi hành án hình sự nói riêng được thể hiện qua nhiều phương diện như bảo đảm kinh tế, bảo đảm chính trị, bảo đảm xã hội và bảo đảm pháp lý, tuy nhiên, bảo đảm pháp lý là yếu tố quan trọng nhất để bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù. Bảo đảm pháp lý là bảo đảm thực hiện quyền con người bằng pháp luật, trên phương diện pháp luật. Đây là phương thức hiệu quả nhất, có quy mô trên toàn xã hội, đồng thời, nó chính là sự thể chế các bảo đảm về chính trị, kinh tế, xã hội... thành các chuẩn mực có tính bắt buộc đối với mọi chủ thể trong xã hội phải tuân thủ và thực hiện.

Bảo đảm pháp lý về quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù được thể hiện ở hai khía cạnh: (i) Bảo đảm về an ninh cá nhân cho phạm nhân trước khả năng bị xâm hại bởi chính những bạn tù của họ và các cơ quan thi hành án, cán bộ quản lý trại giam; (ii) Bảo đảm những điều kiện cần thiết để phạm nhân có thể hưởng thụ đầy đủ các quyền con người khác của họ theo quy định của pháp luật. Để thực hiện được những bảo đảm pháp lý về quyền con người trong thi hành án phạt tù, Nhà nước cần ban hành các quy định pháp luật ghi nhận các quyền con người cơ bản của phạm nhân và sau đó là xây dựng cơ chế và chuẩn bị những nguồn lực vật chất (phòng giam, trang thiết bị, ngân sách, cán bộ...) để các quyền con người được tổ chức thực hiện một cách nghiêm minh và hiệu quả trên thực tế ở các trại giam. Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật, qua đó có thể bảo vệ, ngăn chặn nguy cơ vi phạm quyền con người, giúp cho các hoạt động thực thi pháp luật được thực hiện theo đúng quy định, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của phạm nhân.

Trước hết, cần xác lập cơ chế xây dựng pháp luật. Để bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù, pháp luật thi hành án phạt tù phải ghi nhận được các quyền con người của người chấp hành án, thể hiện thông qua việc thể chế hóa các quyền tự do cơ bản của người chấp hành án trong hệ thống pháp luật quốc gia, xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người trong thi hành án phạt tù. Đồng thời, pháp luật thi hành án phạt tù quy định cách thức, biện pháp thực hiện các quyền đó một cách khả thi, cụ thể và trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể thực thi; trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể giải quyết các trường hợp vi phạm... Việc ghi nhận các quyền và cơ chế bảo đảm thực thi quyền trong hệ thống pháp luật sẽ tạo điều kiện để các quyền được thực hiện, đồng thời, ngăn chặn và hạn chế được sự xâm hại quyền con người trong hoạt động thi hành án phạt tù.

Thứ hai, phải hình thành cơ chế thực thi pháp luật hiệu quả. Đây là một nội dung quan trọng bởi các quy định pháp luật về bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù chỉ phát huy vai trò khi được thực thi đầy đủ và nghiêm minh trong thực tiễn. Thực thi pháp luật được tiến hành thông qua việc áp dụng pháp luật của các cơ quan và cá nhân trong hoạt động thi hành án phạt tù; thiết lập cơ chế để các cá nhân, tổ chức thực hiện các quy định về giáo dục, cải tạo đối với phạm nhân tại các cơ sở giam giữ, hỗ trợ họ thụ hưởng đầy đủ đến mức cao nhất có thể các quyền con người trừ những quyền không bị tước hoặc hạn chế. Hiệu quả của việc áp dụng pháp luật phụ thuộc nhiều yếu tố có thể kể đến như chất lượng đội ngũ cán bộ; sự tham gia, phối hợp của các chủ thể khác; các thiết chế hỗ trợ quá trình thực thi pháp luật; cơ sở vật chất trang thiết bị...

Thứ ba, cần có cơ chế bảo vệ các quyền đã được pháp luật ghi nhận. Có nghĩa là khi quyền con người bị xâm phạm hay có nguy cơ bị xâm phạm, thì phải có các biện pháp ngăn chặn, đồng thời đưa ra những biện pháp, xây dựng cơ chế phòng ngừa, xử lý những hành vi vi phạm[1]. Trong lĩnh vực thi hành án phạt tù, quyền con người được bảo vệ bằng các hình thức như: Cấm các hành vi xâm hại quyền con người, ngăn chặn sự vi phạm từ phía các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có liên quan trọng hoạt động giám sát, giáo dục người chấp hành án; xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm quyền con người. Việc đặt ra chế tài xử lý là yếu tố quan trọng bảo đảm thực thi có hiệu quả các quyền con người được ghi nhận, tạo ra các cơ sở pháp lý để người chấp hành án tự bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bản thân phạm nhân cũng cần phải nắm được quyền của mình, đồng thời, ý thức về trách nhiệm của mình để có thể đấu tranh bảo vệ khi các quyền của đó bị xâm phạm. Vì vậy, ngoài việc quy định các nội dung là công cụ để phạm nhân tự bảo vệ mình thì các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nâng cao nhận thức về quyền con người cũng thuộc phạm trù bảo vệ quyền con người.

Thứ tư, có cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật. Giám sát giúp cho các hoạt động thực thi pháp luật được thực hiện theo đúng quy định, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của phạm nhân. Cơ chế giám sát được vận hành trên cơ sở sự phối hợp hoạt động cùng giám sát của những chủ thể trực tiếp liên quan đến việc quản lý giáo dục người chấp hành án phạt tù. Thực hiện kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định về trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động thi hành án sẽ giúp hạn chế đến mức tối thiểu các vi phạm ảnh hưởng đến việc thụ hưởng quyền của phạm nhân trên thực tế. Cơ chế giám sát được vận hành trên cơ sở phối hợp hoạt động cùng giám sát của những chủ thể trực tiếp liên quan đến việc quản lý giáo dục người chấp hành án phạt tù. Thực hiện kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định về trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động thi hành án, hạn chế các vi phạm ảnh hưởng đến việc thụ hưởng quyền của phạm nhân. Trong thi hành án phạt tù, Viện kiểm sát là cơ quan tố tụng có chức năng giám sát trực tiếp hoạt động tố tụng nói chung và hoạt động thi hành án phạt tù nói riêng. Việc kiểm soát chặt chẽ đảm bảo tính khách quan, công bằng, đảm bảo việc tuân thủ pháp luật của cơ quan thi hành án trong công tác giáo dục, quản lý phạm nhân. Song song với việc bảo đảm sự độc lập, kiểm soát giữa các chủ thể có liên quan trực tiếp trong hoạt động thi hành án phạt tù thì cơ chế giám sát ngoài cũng cần được chú trọng. Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước thông qua hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp đối với việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan, tổ chức trong hoạt động thi hành án phạt tù. Ngoài ra, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là các cơ quan đại diện cho nhân dân cũng được xem như một kênh kiểm soát hữu hiệu. Tuy nhiên, để hoạt động của các cơ quan này có hiệu quả như mong muốn cần quy định một cơ chế giám sát phù hợp, xác định rõ phạm vi, hình thức, cách thức thực hiện giám sát cũng như hiệu quả của hoạt động giám sát trong thi hành án phạt tù.

2. Thực trạng và giải pháp tăng cường bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù ở Việt Nam

2.1. Thực trạng công tác thi hành án phạt tù ở Việt Nam hiện nay

Xuất phát từ yêu cầu về công tác quản lý giam giữ phạm nhân, thời gian qua các cơ quan có thẩm quyền đã kịp thời chỉ đạo và có các động thái tích cực, nghiêm chỉnh thực hiện đúng các quy định pháp luật thi hành án phạt tù về chế độ giam giữ, tăng cường thực thi các quy định về giám sát, giáo dục, đồng thời ngăn chặn các hành vi vi phạm quyền con người. Với những chính sách linh hoạt, nâng cao về chất lượng và đổi mới về phương pháp, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và tình hình mới, công tác tác quản lý phạm nhân đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng vào việc giáo dục, hoàn lương đối tượng phạm tội trở thành người có ích cho xã hội. Qua việc cảm hóa, giáo dục thuyết phục, phạm nhân có nhiều chuyển biến về tư tưởng, nhận thức được lỗi lầm do mình gây ra, từ đó, chấp hành tốt các nội quy, quy định của trại giam.

Công tác quản lý giam giữ được thực hiện theo đúng quy định pháp luật, đạt được kết quả nhất định trong việc bảo đảm an ninh, an toàn cho trại giam. Các chế độ ăn, mặc ở của phạm nhân được thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đảm bảo đúng các tiêu chuẩn định lượng nhằm đảm bảo sức khỏe trong quá trình chấp hành án. Phạm nhân được tổ chức lao động, học tập phù hợp và đáp ứng yêu cầu về quản lý, giáo dục. Các chương trình giáo dục cho phạm nhân luôn được đổi mới về hình thức và cải tiến về nội dung. Các trại giam đều xác định rõ nhiệm vụ của mình là giáo dục cải tạo, làm thay đổi nhận thức, thái độ, lối sống của phạm nhân theo hướng tích cực, giúp họ sớm trở thành người có ích cho xã hội. Đồng thời, các cán bộ trại giam đều thực hiện tốt trách nhiệm của mình trong việc ứng xử với phạm nhân, hạn chế tối đa các hành vi tiêu cực, không để xảy ra các trường hợp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, hay trường hợp phạm nhân bị ốm đau, suy kiệt trong thời gian chấp hành án.

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù còn tồn tại một số hạn chế, vi phạm. Nguyên nhân xuất phát từ hạn chế của hệ thống pháp luật; cơ sở vật chất chưa đáp ứng nhu cầu; tổ chức biên chế và quyền hạn của cơ quan làm công tác thi hành án chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao; vẫn còn hiện tượng cán bộ không tuân thủ quy định, quy tắc nghề nghiệp, chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm với công tác quản lý phạm nhân; ý thức pháp luật của phạm nhân chưa cao; công tác thanh tra giám sát, xử lý vi phạm chưa thực sự hiệu quả.

2.2. Một số giải pháp tăng cường bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù ở Việt Nam

Một là, hoàn thiện quy định pháp luật về bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù. Luật Thi hành án hình sự năm 2019 ra đời thay thế Luật Thi hành án hình sự 2010 là một trong những thành tựu của công tác lập pháp. Sự bổ sung và hoàn thiện đó đã cụ thể hóa các quy định liên quan đến quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, đồng thời, khắc phục được những một số vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn thi hành. Từ việc xem xét các nhóm quyền của phạm nhân theo quy định pháp luật, không thể phủ nhận rằng, pháp luật Việt Nam đã nỗ lực rất lớn để hoàn thiện pháp luật về quyền con người nói chung, quyền con người của phạm nhân nói riêng. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam vẫn tồn tại một số hạn chế, dẫn tới sự khó khăn trong việc bảo vệ quyền trên thực tế. Việc quy định quá cụ thể của Luật Thi hành án hình sự với tư cách là luật gốc trong lĩnh vực này có thể gây rắc rối cho chính các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực thi luật. Sự thiếu sót của một số điều khoản cũng hạn chế các phạm nhân được hưởng các quyền cơ bản, việc quy định cụ thể các quyền đó lại chính là việc hạn chế quyền con người của họ. Các quy định về nội dung giới hạn quyền vô tình tạo khó khăn cho việc thực hiện các quyền công dân khác không bị hạn chế những cũng không được quy định để lấy đó làm cơ sở thực hiện trên thực tế. Vì vậy, cần bổ sung quy định: “Phạm nhân được hưởng các quyền khác của công dân nếu không bị hạn chế bởi các luật liên quan, trừ trường hợp các quyền đó không thể thực hiện được do họ đang chấp hành án tại cơ sở giam giữ”.

Hai là, cải cách chương trình, nội dung giáo dục, dạy nghề cho phạm nhân. Để tăng cường hiệu quả thực hiện công tác thi hành án phạt tù, các cơ quan thi hành án cần xem xét đổi mới hình thức giáo dục, dạy nghề cho phạm nhân, theo đó, cần đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục cảm hóa tạo được sự chủ động, giúp phạm nhân tuân thủ, chấp hành tốt quá trình cải tạo, sớm hoàn lương, tái hòa nhập cộng đồng; tăng cường xây dựng các chương trình dạy nghề thiết thực và hữu ích cho phạm nhân, chủ động tạo môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn cho phạm nhân, tập trung xây dựng các mô hình dạy nghề phù hợp với yêu cầu thực tiễn xã hội, tạo điều kiện cho phạm nhân tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành án xong; đẩy mạnh các hoạt động tạo sân chơi bổ ích cho phạm nhân, thường xuyên tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao; tiếp tục phát huy và tăng cường các chương trình xây dựng môi trường cải tạo, giáo dục lành mạnh, nhân văn, tạo môi trường thuận lợi để phạm nhân quyết tâm cải tạo để trở thành công dân tốt.

Ba là, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù. Tính đến việc xây dựng cơ sở vật chất không chỉ nhằm mục đích giám sát chặt chẽ phạm nhân mà còn làm như thế nào để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt ăn, mặc, ở, vui chơi, giải trí một cách lành mạnh, nhân văn và hiệu quả, giúp cho phạm nhân có điều kiện tốt nhất trong việc cải tạo, hoàn lương, giáo dục họ trở thành người tốt, có ích cho xã hội. Một số vấn đề cần chú trọng như quy hoạch lại các trại giam, đầu tư xây mới thêm các khu giam giữ đáp ứng đủ nhu cầu quản lý phạm nhân. Các khu giam giữ, buồng giam giữ và các công trình có liên quan cần đáp ứng đủ các tiêu chuẩn về tiện ích, vệ sinh, tạo điều kiện tốt nhất cho phạm nhân thực hiện được các quyền con người theo quy định pháp luật Việt Nam cũng như các văn kiện pháp lý quốc tế đặt ra.

Bốn là, nâng cao phẩm chất, năng lực, trình độ cho đội ngũ cán bộ làm công tác thi hành án phạt tù. Các cán bộ làm công tác thi hành án phạt tù là những người tiếp xúc trực tiếp và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của phạm nhân. Bởi vậy, những người này cần rèn luyện phẩm chất đạo đức để hạn chế đến mức tối đa những vi phạm trong công tác quản lý, giáo dục phạm nhân, thường xuyên tổ chức giáo dục tư tưởng qua các buổi nói chuyện chuyên đề, các buổi học chính trị để rèn luyện kịp thời và thường xuyên đối với cán bộ làm công tác thi hành án, giúp họ nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng và vị trí của công tác giáo dục, quản lý phạm nhân; tăng cường số lượng cán bộ trực tiếp thực hiện công tác thi hành án, thường xuyên rà soát đội ngũ hiện có để kịp thời bổ sung các cán bộ có năng lực, kinh nghiệm nhằm điều chuyển, bố trí công việc phù hợp năng lực và vị trí công tác; tăng cường tập huấn, đào tạo nâng cao chất lượng, năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ thi hành án phạt tù; triển khai các chính sách đãi ngộ, ưu tiên khuyến khích cán bộ yên tâm công tác, tích cực cống hiến.

Năm là, đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức về bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù, đặc biệt là đối với phạm nhân và đội ngũ cán bộ quản lý trại giam. Quyền con người mang tính đặc thù, được ghi nhận trong hệ thống pháp luật, song nó cũng chịu sự hạn chế nhất định tùy thuộc điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Vì vậy, để nâng cao nhận thức về quyền con người trong thi hành án phạt tù, cần quan tâm tiến hành nhiều biện pháp đồng bộ, trong đó, biện pháp hữu hiệu là tuyên truyền, giáo dục pháp luật hướng đến các đối tượng khác nhau thông qua các hình thức phong phú, sinh động.

Sáu là, tăng cường hiệu quả công tác thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm đối với hoạt động thi hành án phạt tù. Thực tiễn đã chứng minh, hoạt động thực thi quyền lực luôn có nguy cơ xâm phạm đến các quyền con người của phạm nhân nếu như không có cơ chế giám sát và chế tài xử lý khi vi phạm xảy ra. Vì vậy, nâng cao hiệu quả giám sát xử lý vi phạm trong việc thực hiện pháp luật về bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù là một yêu cầu cấp thiết và quan trọng. Công tác này cần phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, tránh bỏ lỡ cơ hội nắm bắt được các vi phạm xảy ra một cách kịp thời. Tiến hành nhiều nội dung đổi mới hoạt động, tăng cường phối hợp với các cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương để nhanh chóng phát hiện các sai phạm và kịp thời xử lý.

Tóm lại, bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù ở Việt Nam còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế trên cả phương diện nhận thức, thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật. Điều này, có thể được giải quyết thông qua việc hoàn thiện các quy định pháp luật thi hành án hình sự về bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù và tiến hành các biện pháp pháp lý mang tính đồng bộ nhằm tăng cường bảo đảm quyền con người của phạm nhân thi hành án phạt tù nói riêng và trong tư pháp hình sự nói chung.

Nguyễn Thị Thanh Trâm
Khoa Luật, Đại học Vinh


[1]. Đại học Quốc gia Hà Nội (2011), Hỏi đáp về quyền con người, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 61.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.

Theo dõi chúng tôi trên: