Thứ bảy 02/05/2026 02:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm quyền con người trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Bảo đảm quyền con người trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Bài viết đề cập một số vấn đề lý luận về khái niệm, sự cần thiết phải bảo đảm quyền con người, nội dung và các yếu tố bảo đảm quyền con người, phân tích, đánh giá thực trạng việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam; từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm bảo đảm quyền con người trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

Abstract: The article discusses some theoretical issues about the concept, the need to ensure human rights, the content and elements of human rights assurance, analyzes and evaluates the current situation of ensuring human rights in Vietnam; from there, the author proposes some basic solutions to ensure human rights in the process of building and completing the socialist rule of law State in Vietnam today.

1. Khái niệm và sự cần thiết phải bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay

1.1. Khái niệm bảo đảm, bảo vệ quyền con người

Quyền con người là một phạm trù đa diện và có nhiều định nghĩa khác nhau. Mỗi định nghĩa có những cách tiếp cận, nghiên cứu vấn đề từ những góc độ nhất định và cơ bản chưa có định nghĩa nào bao hàm được tất cả các thuộc tính của quyền con người. Có thể thấy, sự phù hợp của các định nghĩa hiện có về quyền con người phụ thuộc vào sự nhìn nhận chủ quan của mỗi cá nhân, tuy nhiên, ở cấp độ quốc tế, Văn phòng Cao ủy Liên Hợp quốc về quyền con người (OHCHR) định nghĩa: Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người[1]. Bên cạnh đó, một số học giả khác theo học thuyết về các quyền tự nhiên cũng đưa ra cách hiểu, quan niệm về quyền con người, theo đó, quyền con người là những sự được phép mà tất cả các thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội… đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người[2].

Ở Việt Nam, cũng tồn tại một số định nghĩa về quyền con người. Trong đó, một cách khái quát, quyền con người được hiểu là những quyền bẩm sinh, vốn có của con người mà nếu không được hưởng thì chúng ta sẽ không thể sống như một con người[3]. Quan niệm nêu trên của các học giả Việt Nam cho thấy sự ảnh hưởng của các học thuyết về quyền tự nhiên trên thế giới, vì vậy, quyền con người chính là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.

Bên cạnh đó, thuật ngữ “bảo đảm” có thể hiểu là làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ những gì cần thiết hoặc sự bảo đảm thực hiện được hoặc giữ được. Trong khi “bảo vệ” được hiểu là chống lại sự xâm phạm để giữ lại cho luôn luôn được nguyên vẹn[4]. Như vậy, bảo đảm và bảo vệ là hai khái niệm khác nhau nhưng nội hàm của chúng có những điểm tương đồng, bổ trợ cho nhau, vì vậy, trong thực tế người ta hay sử dụng chúng đi liền với nhau hoặc thay thế cho nhau. Theo đó, các thuật ngữ “bảo đảm, bảo vệ” hàm chỉ các yếu tố - công cụ được sử dụng nhằm làm cho chắc chắn thực hiện được, chống lại sự xâm phạm để giữ gìn một cách trọn vẹn sự vật, hiện tượng nào đó.

Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Bảo đảm, bảo vệ quyền con người là việc sử dụng các công cụ cũng như yếu tố tác động nhằm làm cho quyền con người chắc chắn được thực hiện, đồng thời, chống lại mọi âm mưu xâm phạm quyền con người; mục đích cuối cùng là quyền con người phải được thừa nhận, thực hiện với đúng tính chất, nội hàm vốn có của nó. Theo đó, việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người có một số điểm đặc thù sau: (i) Chủ thể của hoạt động bảo đảm, bảo vệ quyền con người khá rộng, không chỉ là Nhà nước mà bao gồm tất cả các cá nhân, tổ chức trong xã hội, thậm chí tổ chức quốc tế cũng có thể cùng tham gia. (ii) Bảo đảm, bảo vệ quyền con người phải được thực hiện thông qua hệ thống thể chế - công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội. (iii) Việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở mỗi quốc gia luôn chịu sự tác động bởi nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế, xu hướng dân chủ - yêu chuộng hòa bình, bối cảnh xây dựng - hoàn thiện Nhà nước pháp quyền…

1.2. Sự cần thiết phải bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong bối cảnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay xuất phát từ một số lý do cơ bản sau:

Thứ nhất, xuất phát từ nhu cầu tất yếu của việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong xã hội dân chủ, hiện đại và văn minh.

Quyền con người dù quan niệm ở góc độ là quyền tự nhiên, vốn có của con người hay quan niệm dưới góc độ pháp lý gắn với sự thừa nhận của Nhà nước thì đều cần được bảo đảm trong thực tế. Thực tiễn nhu cầu của việc bảo đảm quyền con người trong mỗi thời kỳ lịch sử cũng như ở các quốc gia khác nhau thì không hoàn toàn giống nhau do chịu sự chi phối, tác động bởi nhiều yếu tố như sự phát triển của nền kinh tế, yếu tố xã hội, trình độ nhận thức, xu hướng phát triển của nền dân chủ… Trong thời kỳ xã hội chưa có giai cấp - xã hội cộng sản nguyên thủy, khi kinh tế còn thấp kém cùng với tổ chức xã hội còn giản đơn, mối quan hệ giữa con người với nhau tương đối thuần nhất, các mâu thuẫn trong xã hội gần như không có hoặc không đáng kể, với điều kiện kinh tế - xã hội lúc bấy giờ, có lẽ con người cũng chưa ý thức được về “quyền” và nhu cầu bảo đảm quyền con người gần như chưa đặt ra. Chuyển sang giai đoạn xã hội có giai cấp, phân hóa và mâu thuẫn xã hội xuất hiện, khi đó hiện tượng người áp bức, bóc lột người xảy ra với những mức độ khác nhau của những thời kỳ lịch sử, quốc gia khác nhau. Cùng với đó, nhận thức của con người trong xã hội cũng ngày càng phát triển, nhu cầu được thừa nhận và thụ hưởng những quyền sinh ra vốn có - quyền con người bắt đầu xuất hiện. Khi kinh tế - xã hội phát triển, xu hướng của nền dân chủ trên thế giới gia tăng dẫn tới nhu cầu của việc bảo đảm các quyền vốn có đó đặt ra và trở thành tất yếu trong xã hội phát triển.

Thứ hai, xuất phát từ bối cảnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Có thể thấy, xuất phát từ đòi hỏi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một nhu cầu tất yếu và “sự đòi hỏi cần phải xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không phải là ý muốn kỳ quặc của ai đó mà là mệnh lệnh khách quan của thời đại”[5]. Vì vậy, thuật ngữ Nhà nước pháp quyền đã xuất hiện trong các văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam từ Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1994), trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001). Từ Đại hội X (năm 2006) của Đảng, Việt Nam đã chính thức coi “Nhà nước pháp quyền” là một trong số các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa với hàm ý Việt Nam sẽ không có xã hội chủ nghĩa nếu như không có Nhà nước pháp quyền[6]. Vấn đề Nhà nước pháp quyền tiếp tục được ghi nhận Hiến pháp năm 2013.

Theo các quy định của Hiến pháp năm 2013, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cần có những đặc điểm cơ bản sau: (i) Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về Nhân dân. (ii) Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. (iii) Nhà nước thừa nhận quyền con người là quyền tự nhiên, vốn có của con người, Nhà nước có trách nhiệm công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân. (iv) Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, tuân thủ các cam kết quốc tế. (v) Hiến pháp có vị trí tối thượng trong hệ thống pháp luật. Mọi văn bản pháp luật khác đều phải phù hợp với Hiến pháp và mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều phải bị xử lý. (vi) Nhà nước Việt Nam luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

2. Nội dung và các yếu tố bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

2.1. Nội dung bảo đảm, bảo vệ quyền con người

Thực tiễn cho thấy, nội dung của hoạt động bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở các quốc gia trên thế giới không hoàn toàn giống nhau. Với Việt Nam, dựa trên các quy định của Hiến pháp năm 2013 - Hiến pháp của thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế và đẩy nhanh quá trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nội dung bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân bao gồm những vấn đề sau[7]:

Thứ nhất, công nhận (obligation to recognition): Các chủ thể trong xã hội có trách nhiệm bảo đảm quyền, trước hết và chủ yếu là Nhà nước. Công nhận nghĩa là phải thừa nhận đồng thời phải ghi nhận ngày càng đầy đủ, cơ bản bằng các thể chế quan phương là pháp luật và các thể chế phi quan phương khác mà đặc biệt là đạo đức (đối với các tổ chức xã hội). Đó là sự thừa nhận, ghi nhận đối với các quyền dân sự, chính trị và kinh tế, xã hội, văn hóa của con người.

Thứ hai, tôn trọng (obligation to respect): Các chủ thể trong xã hội có trách nhiệm bảo đảm quyền, trước hết và chủ yếu là Nhà nước. Theo đó, các chủ thể mà đặc biệt là Nhà nước phải kiềm chế không can thiệp, kể cả trực tiếp và gián tiếp vào việc thừa nhận, bảo vệ, bảo đảm thực hiện và thúc đẩy các quyền con người, quyền công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật. Đồng thời, phải chủ động xây dựng và triển khai thực hiện có hiệu quả các thể chế, chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển và biện pháp quản lý cụ thể để mọi người được thụ hưởng và phát triển các quyền con người của mình trong thực tế.

Thứ ba, bảo vệ (obligation to protect): Nhà nước phải ngăn chặn việc vi phạm quyền con người, quyền công dân đến từ phía các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị, xã hội và cá nhân; ngăn chặn tình trạng phân biệt đối xử hoặc sự hình thành các thế lực đe dọa quyền con người, quyền công dân trên các lĩnh vực; điều tra, trừng trị và phục hồi các quyền đã bị vi phạm hoặc bồi thường khi có sai phạm từ phía cơ quan, người có thẩm quyền.

Thứ tư, thực hiện (obligation to fulfil): Các chủ thể trong xã hội, đặc biệt là Nhà nước phải chủ động xây dựng thể chế (pháp luật, quy chế và thiết chế) cũng như các chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển, biện pháp quản lý cụ thể để bảo đảm cho mọi người được hưởng thụ đến mức cao nhất có thể các quyền con người, quyền công dân. Việc thực hiện chỉ được bảo đảm (bảo đảm thực hiện) khi các thể chế, chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển và biện pháp quản lý được đề ra (hay xây dựng) phải mang tính khả thi và hiệu quả, chứ không phải mang tính hình thức hay đề ra “cho có”, đặc biệt là trong quá trình thực thi các quyền con người, quyền công dân của các nhóm yếu thế.

Thứ năm, thúc đẩy (obligation to promote): Tạo lập điều kiện và môi trường kinh tế nói riêng và xã hội nói chung, mang tính hỗ trợ, thuận lợi cho việc tiếp cận quyền con người, quyền công dân của các nhóm xã hội, đặc biệt là các nhóm yếu thế; đồng thời, thiết lập và duy trì một cơ chế minh bạch, hiệu quả để giám sát quyền con người ở cả khu vực công và tư, theo thể chế pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Việc thúc đẩy quyền con người, quyền công dân đòi hỏi Nhà nước và các chủ thể trong xã hội có trách nhiệm bảo đảm quyền không chỉ thụ động, mà quan trọng hơn, là phải chủ động xây dựng và triển khai, thực hiện các thể chế, chiến lược, kế hoạch, chương trình, biện pháp quản lý cụ thể, để hỗ trợ các cá nhân và tập thể có điều kiện và môi trường thuận lợi cho việc thụ hưởng và phát triển các quyền của mình.

2.2. Các yếu tố bảo đảm, bảo vệ quyền con người

Bảo đảm, bảo vệ quyền con người là một quá trình và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, các yếu tố bảo đảm quyền con người cần thiết lập đó là:

Thứ nhất, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề bảo đảm, bảo vệ quyền con người.

Bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện qua nhiều Văn kiện Đại hội Đảng. Ngay từ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (tháng 6/1991, được bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta xác định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”[8]. Quan điểm trên tiếp tục được quán triệt trong Đại hội XIII của Đảng, theo đó: “Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội”[9].

Quan điểm của Đảng chính là sự kế thừa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới, không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”[10]. Quan điểm nhân dân là trung tâm, là chủ thể trong chiến lược phát triển đã làm rõ hơn về chủ thể thụ hưởng quyền con người đó chính là nhân dân. Theo đó, trong các chương trình, chính sách phát triển của Đảng đều phải hướng trọng tâm vào con người - nhân dân; lấy quyền và lợi ích chính đáng của con người là cơ sở xây dựng và hoạch định chính sách phát triển quốc gia; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu cao nhất trong hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước.

Thứ hai, hệ thống thể chế pháp lý hoàn thiện để bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.

Hệ thống thể chế pháp lý đó chính là hệ thống pháp luật hoàn thiện. Dưới góc độ khoa học, hệ thống pháp luật hoàn thiện phải đáp ứng các tiêu chí về tính toàn diện, đồng bộ; tính khách quan, khoa học; tính khả thi; tính ổn định và gọn nhẹ; tính công khai, minh bạch; tính hài hòa giữa quy định pháp luật quốc gia với quy định pháp luật quốc tế và đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật lập pháp hiện đại. Theo đó, để bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam hiện nay thì việc tạo lập một hệ thống pháp luật hoàn thiện đáp ứng các yêu cầu cơ bản nêu trên chính là cơ sở, hành lang pháp lý và yêu cầu cấp thiết.

Thứ ba, hệ thống các thiết chế bảo đảm quá trình tổ chức, thực hiện các quy định pháp luật có liên quan đến quyền con người.

Thuật ngữ “các thiết chế” được khai thác dưới góc độ các tổ chức tồn tại trong xã hội, đặc biệt là Nhà nước - bộ máy nhà nước đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, thực hiện các quy định pháp luật liên quan đến quyền con người, bảo đảm quyền con người hiện nay. Xét ở góc độ thiết chế nhà nước, một bộ máy có năng lực tổ chức và nguồn nhân lực dồi dào, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ sẽ là bảo đảm quan trọng cho việc thực hiện, bảo vệ quyền con người hiệu quả. Xét ở góc độ xã hội, việc phát huy vai trò của các tổ chức khác trong xã hội như Đảng, Đoàn, Mặt trận hay các Hội cùng chung tay với Nhà nước để thực hiện quy định pháp luật về quyền con người và góp phần đáng kể trong bảo đảm quyền con người ở Việt Nam đạt hiệu quả cao.

Bên cạnh đó, các yếu tố như điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, nhận thức của con người trong xã hội, vấn đề hội nhập, xu hướng dân chủ - yêu hòa bình và nhiều yếu tố khác đều ít nhiều có những tác động nhất định đến việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở Việt Nam. Việc xem xét sự ảnh hưởng của các yếu tố trên là cần thiết, góp phần quyết định hiệu quả việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người hiện nay.

3. Thực trạng bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở Việt Nam

3.1. Những thành tựu cơ bản

Từ năm 1986 khi Việt Nam tiến hành đổi mới toàn diện đất nước, xóa bỏ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa lấy con người là trung tâm, trải qua hơn 35 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong thực hiện và bảo đảm, bảo vệ quyền con người, có thể kể tới một số điểm nổi bật sau:

Thứ nhất, Việt Nam đã xây dựng hệ thống thể chế pháp lý về quyền con người và bảo đảm quyền con người tương đối đầy đủ và ngày càng hoàn thiện. Đây chính là sự hiện thực hóa nội dung “công nhận” và tạo cơ sở cho việc thực hiện bảo đảm quyền con người.

Quyền con người được đề cập cụ thể trong Hiến pháp năm 1992 với quy định tại Điều 50: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”. Đây chính là thành tựu bước đầu thể hiện sự coi trọng vấn đề quyền con người trong xây dựng và hoàn thiện nhà nước Việt Nam. Kế tiếp đó, một số các quyền khác như quyền bình đẳng của phụ nữ, quyền trẻ em… cũng được chính thức đề cập trong Hiến pháp năm 1992 và các văn bản pháp luật khác liên quan. Xét riêng trên lĩnh vực lập pháp, chỉ tính từ năm 1996 đến năm 2002, Nhà nước đã ban hành 13.000 văn bản pháp luật các loại, trong đó có hơn 40 bộ luật và luật, trên 120 pháp lệnh, gần 850 văn bản pháp luật của Chính phủ và trên 3.000 văn bản pháp quy của các bộ, ngành, trong đó đã “nội luật hóa” một cách toàn diện những công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã phê chuẩn hoặc gia nhập từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX và trong thời kỳ này. Đây là điều mà trong giai đoạn trước hầu như chúng ta chưa làm được[11].

Tại Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam, các quy định về quyền con người, bảo đảm quyền con người có sự phát triển đáng kể. Từ vị trí thứ năm, Chương Quyền công dân của Hiến pháp năm 1992 được chuyển lên vị trí thứ hai trong Hiến pháp năm 2013, thể hiện sự quan tâm vượt bậc, cũng như nhận thức của các nhà lập hiến Việt Nam về tầm quan trọng của quyền con người và quyền công dân. Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, quá trình soạn thảo Chương về quyền con người và quyền công dân đã được tham khảo, đối chiếu một cách tương đối toàn diện với tiêu chuẩn của các quy định nhân quyền của các Công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, ký kết. Đi sâu hơn vào nội dung Chương II, có thể thấy, Hiến pháp năm 2013 có một số thay đổi cụ thể như sau: Không đồng nhất “quyền con người” với “quyền công dân” mà có sử dụng hợp lý hai thuật ngữ này trong từng lĩnh vực cụ thể; thay đổi tư duy pháp lý về quyền con người theo hướng quyền con người là tự nhiên, vốn có, Nhà nước có trách nhiệm ghi nhận, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người; thừa nhận một số quyền mới bảo đảm sự tương thích với quy định trong các Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam tham gia… Có thể thấy, những thay đổi trong Hiến pháp năm 2013 là phù hợp với quy định pháp luật quốc tế, đồng thời đã khắc phục những hạn chế trước đây.

Cùng với việc hoàn thiện thể chế pháp lý về quyền con người được ghi nhận trong các bản Hiến pháp, các văn bản pháp luật khác về quyền con người, bảo đảm quyền con người vẫn tiếp tục có sự phát triển mạnh. Từ năm 2013 cho đến nay, công tác cải cách pháp luật, hoàn thiện thể chế, chính sách đã được đẩy mạnh với hơn 100 luật, bộ luật có liên quan đến quyền con người được ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung. Đặc biệt, ngày 20/11/2019, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Lao động (sửa đổi) với nhiều quy định mới, bảo đảm tốt hơn quyền của người lao động, cơ bản tương thích với các điều ước quốc tế quan trọng của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO). Theo Báo cáo của Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) năm 2018, Việt Nam thuộc nhóm trung bình cao về Chỉ số phát triển con người (xếp hạng 116/189 quốc gia); Chỉ số bình đẳng giới (xếp hạng 67/160 quốc gia)[12]. Những nỗ lực của Việt Nam nêu trên nhằm xây dựng và hoàn thiện thể chế pháp lý cho việc thừa nhận, tôn trọng và bảo đảm quyền con người trong giai đoạn hiện nay.

Thứ hai, xây dựng được hệ thống thiết chế (Nhà nước và các tổ chức khác trong xã hội) bảo đảm quyền con người và không ngừng đổi mới các thiết chế trên phù hợp với điều kiện thực tiễn nhằm phát huy vai trò, hiệu quả tối đa trong bảo vệ quyền con người.

Xét ở góc độ các thiết chế nhà nước mà cụ thể chính là tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người ở nước ta hiện nay, trong đó nhấn mạnh các cơ quan quan trọng như Quốc hội, Chính phủ và Tòa án. Từ khi Việt Nam tiến hành đổi mới (đặc biệt từ năm 2013 đến nay), tổ chức và hoạt động của các cơ quan như Quốc hội, Chính phủ và hệ thống Tòa án đều có sự đổi mới đáng kể theo phương châm “tinh gọn - khoa học - hiệu quả”. Trong lĩnh vực quyền con người, bảo đảm quyền con người, hoạt động của các cơ quan nêu trên cũng đổi mới và thu được những thành tựu đáng kể. Quốc hội đã ban hành Hiến pháp, bộ luật, luật trên tinh thần đề cao, tôn trọng và bảo đảm quyền con người. Chính phủ - cơ quan đưa các quy định pháp luật nói chung và pháp luật về quyền con người đi vào đời sống, bảo đảm quyền con người được thực thi trong đời sống. Hệ thống Tòa án - cơ quan có nhiệm vụ “bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người” đã có những sự đổi mới đáng kể từ năm 2014 đến nay nhằm phát huy tối đa vai trò của cơ quan tư pháp trong bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay.

Xét từ góc độ xã hội, bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay thực sự là công việc chung của toàn xã hội, không riêng của Nhà nước. Thực tiễn cho thấy, các tổ chức khác trong xã hội như Đảng, Đoàn, Mặt trận và các Hội ở nước ta thời gian vừa qua đã tham gia đáng kể vào quá trình thực hiện, bảo đảm quyền con người hiện nay. Đảng Cộng sản Việt Nam - tổ chức lãnh đạo xã hội, luôn lấy con người là trung tâm, vì vậy mọi chủ trương, đường lối của Đảng đều xuất phát từ con người và suy cho cùng nhằm phục vụ nhu cầu, lợi ích chính đáng của con người, tôn trọng và bảo đảm quyền con người trên mọi lĩnh vực đời sống. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, với chức năng tập hợp các lực lượng quần chúng trong xã hội; hoặc Công đoàn Việt Nam - tổ chức đại diện quyền lợi của người lao động và nhiều tổ chức khác ở Việt Nam cũng phát huy vai trò trong việc bảo đảm quyền con người hiện nay.

Thứ ba, nhìn chung, các quyền con người và việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay đã được hiện thực hóa trong tất cả các lĩnh vực cơ bản, quan trọng của đời sống xã hội.

Trong lĩnh vực chính trị: Nhà nước Việt Nam đã thừa nhận và bảo đảm thực hiện các quyền con người cơ bản như quyền làm chủ của nhân dân; quyền tham gia quản lý, giám sát hoạt động của Nhà nước; quyền bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và cùng nhau phát triển của các dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam; quyền được sống trong đất nước độc lập, có chủ quyền.

Trong lĩnh vực kinh tế: Nhà nước Việt Nam công nhận và bảo đảm các quyền con người cơ bản như quyền về sở hữu, quyền lao động, quyền có việc làm, quyền được sản xuất - kinh doanh, quyền bình đẳng giữa các thành phần kinh tế… các quyền trên đều được hiện thực hóa trong xã hội Việt Nam hiện nay.

Trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội, tư tưởng của Nhà nước, quyền con người luôn được ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm trong thực tế. Trên thực tiễn, mọi người trong xã hội Việt Nam hiện nay đều được hưởng các quyền tự do tín ngưỡng, văn hóa; quyền tự do đi lại; quyền được tiếp cận thông tin; quyền được học tập; quyền được chăm sóc về y tế; các quyền an sinh xã hội; các quyền công dân cơ bản…

Trong lĩnh vực đối ngoại cũng như hợp tác quốc tế, Việt Nam là thành viên của Công ước quốc tế về quyền con người và luôn nỗ lực để thực hiện các quy định trong Công ước nhằm bảo vệ quyền con người.

3.2. Một số hạn chế

Bên cạnh các thành tựu kể trên, việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay vẫn còn một số tồn tại, hạn chế sau:

Thứ nhất, hệ thống thể chế pháp lý bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay trong một số trường hợp chưa phù hợp và chưa đầy đủ so với các Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam tham gia.

Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) là một trong những điều ước quốc tế quan trọng nhất về quyền con người đã được Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua cùng với Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) theo Nghị quyết số 2200 A (XXI) ngày 16/2/1966. Việt Nam đã gia nhập ICCPR và ICESCR ngày 24/9/1982. Là thành viên của cả hai công ước, Việt Nam có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ những quyền con người được ghi nhận trong các công ước này và phải “nội luật hóa” vào các quy định pháp luật quốc gia.

Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện nay vẫn chưa có quy định về một số quyền con người đã được ghi nhận trong hai công ước trên. Đó là các quyền không bị bắt làm nô lệ và nô dịch (Điều 8 ICCPR); quyền không bị bỏ tù vì không hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng (Điều 11 ICCPR); quyền được thừa nhận là thể nhân trước pháp luật ở mọi nơi (Điều 16 ICCPR); quyền đình công (Điều 8.1 ICECSR); quyền thành lập, gia nhập công đoàn (Điều 22 ICCPR, Điều 8.1 ICESCR); tự do tư tưởng (Điều 18.1 ICCPR); quyền được giữ quan điểm riêng mà không bị can thiệp (Điều 19.1 ICCPR). Bên cạnh đó, trong cả hai công ước trên các quyền như tự do đi lại, cư trú; quyền tự do lập hội, biểu tình; quyền có nơi ở hợp pháp… đều được thừa nhận là quyền con người và tất cả mọi người không phân biệt đều được hưởng. Tuy nhiên, tại Hiến pháp năm 2013 mới chỉ thừa nhận các quyền trên dành cho “công dân” và đó được xem là quyền công dân. Thiết nghĩ, trong quá trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, các nhà lập pháp, cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu, xem xét để chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam tham gia.

Thứ hai, hoạt động của một số thiết chế ở Việt Nam chưa thực sự hiệu quả, gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo đảm quyền con người hiện nay, một số quyền con người mới dừng ở mức độ công nhận, việc tôn trọng và bảo đảm quyền con người trong thực tiễn gặp những khó khăn nhất định, hiệu quả chưa cao.

Trong thời gian vừa qua, các thiết chế bảo đảm và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam về cơ bản hoạt động hiệu quả, phát huy vai trò tích cực trong việc bảo vệ quyền con người ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng một số thiết chế chưa thực hiện đúng, đủ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình; thậm chí hiện tượng tham ô, tham nhũng, trục lợi xảy ra ở một số cơ quan nhà nước trong lĩnh vực cơ bản của đời sống gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến lợi ích của xã hội, của Nhà nước, quyền và lợi ích của cá nhân, công dân bị xâm phạm. Những vụ việc xảy ra gần đây như vụ việc Công ty Việt Á; những hành vi thao túng thị trường chứng khoán của cá nhân tại các tập đoàn lớn như FLC hay Tân Hoàng Minh… gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc bảo đảm và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam hiện nay.

Bên cạnh đó, sự tham gia của các tổ chức - với tư cách là các thiết chế khác trong xã hội để cùng bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam cũng chưa thực sự chủ động và hiệu quả. Sự phối hợp giữa Nhà nước và các tổ chức khác trong xã hội trong việc bảo đảm và thúc đẩy quyền con người trong một số trường hợp còn hạn chế, ảnh hưởng nhất định đến kết quả của việc bảo vệ quyền con người.

3.3. Nguyên nhân

Bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở Việt Nam thời gian vừa qua (tính từ năm 1986, đặc biệt là từ 2013 trở lại đây) đã đạt được những kết quả đáng kể xuất phát từ những nguyên nhân cơ bản sau:

Xuất phát từ quan điểm đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền con người, bảo đảm và thúc đẩy quyền con người trong đời sống xã hội. Đảng luôn đề cao con người, coi con người là chủ thể, là trung tâm của chiến lược phát triển. Chính nhờ quan điểm nhất quán đó, mà mọi chủ trương, chính sách của Đảng đều xuất phát từ con người và mục đích cuối cùng nhằm bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của con người. Hiện thực hóa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đã ban hành hệ thống quy định pháp luật trên tinh thần ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm quyền con người. Theo đó, hệ thống thể chế pháp lý về quyền con người và bảo đảm quyền con người được hình thành và cơ bản đáp ứng, phản ánh nhu cầu khách quan sự vận động, phát triển của xã hội.

Cùng với sự quan tâm, chỉ đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước, từ năm 1986 khi Việt Nam tiến hành đổi mới toàn diện, điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước có sự thay đổi căn bản. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự đổi mới về tư duy, nhận thức của con người… là những yếu tố quan trọng thúc đẩy việc thực hiện và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam đạt được những kết quả khả quan. Tuy nhiên, sự phát triển của nền kinh tế thị trường cũng có tính hai mặt, bên cạnh những tác động tích cực như tạo cơ sở vật chất - kỹ thuật - hạ tầng cho việc thực hiện, bảo đảm quyền con người được tốt hơn; đồng thời, nó cũng có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực như tình trạng bóc lột sức lao động, sự phân hóa xã hội… dẫn tới nguy cơ quyền con người bị xâm phạm nhiều hơn. Bởi vậy, tính hai mặt của nền kinh tế thị trường vừa tạo những thuận lợi cho bảo đảm quyền con người nhưng cũng gây ra những khó khăn nhất định đến công tác bảo đảm quyền con người hiện nay.

Bên cạnh đó, nhận thức của một bộ phận người dân trong xã hội về quyền con người và bảo đảm, bảo vệ quyền con người còn hạn chế. Trong nhiều trường hợp, người dân chưa nhận thức được những quyền cơ bản mà họ được hưởng nên không đấu tranh để được hưởng những quyền đó. Hoặc số ít người dân có thể nhận thức được về quyền con người nhưng lại chưa thấy được sự cần thiết phải bảo đảm, dẫn đến tâm lý biết quyền con người của bản thân bị xâm phạm nhưng họ “cam chịu”. Đây chính là những nguyên nhân dẫn đến một số hạn chế, tồn tại trong bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay.

Ngoài ra, với xu hướng phát triển của nền dân chủ, yêu chuộng hòa bình, hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực trong đó có vấn đề công nhận, tôn trọng và bảo đảm quyền con người của các quốc gia trên thế giới. Điều này buộc mỗi quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng phải không ngừng nỗ lực để bảo đảm quyền con người trong thực tế.

4. Một số giải pháp cơ bản nhằm bảo đảm, bảo vệ quyền con người trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong quá trình tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vấn đề bảo đảm, bảo vệ quyền con người là quan trọng và cấp thiết. Để việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay thực sự hiệu quả, theo tác giả cần triển khai nhanh một số nội dung sau:

Thứ nhất, tiếp tục kiên định lập trường tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam được đề ra từ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011) về vấn đề bảo đảm và thúc đẩy quyền con người và không ngừng đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng đáp ứng yêu cầu hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Có thể thấy, từ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011), đặc biệt là Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/7/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa X về công tác nhân quyền trong tình hình mới đã đúc kết những quan điểm cơ bản về quyền con người[13] là: (i) Quyền con người là giá trị chung của nhân loại; (ii) Quyền con người, về bản chất không có tính giai cấp, nhưng trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, khái niệm về quyền con người mang tính giai cấp; (iii) Quyền con người gắn với quyền dân tộc cơ bản và thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia; (iv) Quyền con người là mục tiêu, bản chất, động lực của chế độ xã hội chủ nghĩa; (v) Quyền dân chủ, tự do của mỗi cá nhân kết hợp hài hòa với quyền tập thể và không tách rời nghĩa vụ, trách nhiệm công dân; (vi) Quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm bằng Hiến pháp, pháp luật; trách nhiệm của Nhà nước, của tất cả các ngành, các địa phương, cơ sở là phải tích cực, chủ động thực hiện nhằm ngày càng hoàn thiện và nâng cao các quyền con người; (vii) Chủ động, tích cực hợp tác, đồng thời sẵn sàng đối thoại và kiên quyết đấu tranh trong quan hệ quốc tế vì quyền con người.

Trên cơ sở quan điểm chỉ đạo trên, Đảng cần tiếp tục cụ thể hóa thông qua các chủ trương, chính sách phát triển đất nước trong các lĩnh vực của đời sống; Nhà nước cần chi tiết hóa thông qua việc đưa ra các chính sách và đặc biệt là các quy định pháp luật từ Hiến pháp đến các văn bản pháp luật khác để thể hiện quan điểm nhất quán trong việc công nhận, tôn trọng, bảo đảm và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam.

Thứ hai, nâng cao nhận thức của các chủ thể trong xã hội về quyền con người và việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người.

Thực tiễn hiện nay, ở nước ta, nhận thức của một bộ phận người dân về quyền con người còn khá hạn chế, đặc biệt là những người sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội hạn chế, mặt bằng dân trí chưa cao, họ chưa nhận thức hết được quyền mà sinh ra họ vốn được hưởng như quyền được tự do, quyền được bình đẳng, quyền được hưởng hạnh phúc… Đây chính là những cản trở trong việc thực hiện, bảo đảm quyền con người tại những vùng miền đó. Vì vậy, các cơ quan nhà nước, các tổ chức khác trong xã hội tại địa phương cần có những giải pháp để giúp họ nhận thức được về quyền con người thông qua các hoạt động như tuyên truyền, phổ biến, giáo dục hoặc các buổi nói chuyện về quyền con người tại vùng miền đó với những phương thức đơn giản, gắn với cuộc sống của con người nơi đó.

Ngoài ra, với những trường hợp người dân đã nhận thức được về quyền con người nhưng nhu cầu bảo đảm với những quyền đó là thấp hoặc không có do chịu ảnh hưởng của tư duy lạc hậu, lỗi thời. Vì vậy, họ cam chịu, chấp nhận những gì xảy đến với họ như là “số phận đã định”, kể cả việc quyền con người của họ có thể bị xâm phạm nghiêm trọng… Trong những trường hợp này, cần có sự tuyên truyền, giác ngộ để người dân thấy được sự cần thiết của việc bảo đảm quyền con người nói chung và của bản thân họ nói riêng, đồng thời, cung cấp cho họ những công cụ trợ giúp pháp lý để người dân có thể sử dụng bất kể khi nào họ cần.

Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp lý về quyền con người, bảo đảm và thúc đẩy thực hiện quyền con người.

Cần tiếp tục nghiên cứu để có những sửa đổi, bổ sung hệ thống các quy định pháp luật về quyền con người để bảo đảm quyền con người được hiện thực hóa trong đời sống, đầu tiên đó là các quy định trong Hiến pháp - văn bản quy phạm pháp luật có giá trị cao nhất của một quốc gia.

Chẳng hạn, cần nghiên cứu để bảo đảm sự phù hợp giữa quy định tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 về việc hạn chế quyền con người với quy định trong các điều ước, công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Theo Hiến pháp năm 2013: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng”. Trong khi quy định của hai công ước về quyền con người là ICCPR và ICESCR mà Việt Nam là thành viên cũng có hạn chế quyền con người trong một số trường hợp nhưng có loại trừ với những quyền tuyệt đối (không thể bị hạn chế trong bất kể trường hợp nào). Bên cạnh đó, cần nghiên cứu, bổ sung một số quyền con người vào Hiến pháp như quyền không bị bắt làm nô lệ và nô dịch, quyền không bị bỏ tù vì không hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng, quyền được thừa nhận là thể nhân trước pháp luật, quyền đình công; đồng thời, mở rộng một số quyền công dân đã ghi nhận trong Hiến pháp trở thành quyền con người như quyền tự do đi lại, cư trú; quyền tự do lập hội, hội họp, biểu tình; quyền có nơi ở hợp pháp; quyền được quyết định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ…

Thứ tư, đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống các thiết chế, trong đó quan trọng là Nhà nước bảo đảm thực hiện quyền con người hiệu quả và khả thi.

Đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống các thiết chế, đặc biệt là nhấn mạnh và tập trung vào các cơ quan như Quốc hội, Chính phủ và Tòa án, theo đó:

(i) Cần thiết nhấn mạnh vai trò lập pháp của Quốc hội: Với vai trò là cơ quan lập pháp, Quốc hội có nhiệm vụ cụ thể hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về quyền con người thành các quy định của Hiến pháp và pháp luật. Trước hết, ưu tiên xây dựng các đạo luật về quyền con người, tạo cơ sở pháp lý để tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong toàn bộ hoạt động của các cơ quan nhà nước và toàn xã hội.

(ii) Đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ - cơ quan hành pháp theo hướng kiến tạo, phát triển, năng động và bảo đảm quyền con người. Theo đó, Chính phủ cần chủ động, đẩy mạnh hơn nữa hoạt động ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết về quyền con người và bảo đảm các quy định đó đi vào đời sống. Đồng thời, Chính phủ phải tổ chức hợp lý, khoa học việc thực hiện các quy định hướng dẫn về quyền con người; chú trọng việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người, đặc biệt ở những vùng kinh tế khó khăn, vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo. Thêm vào đó, để bảo đảm việc tổ chức, thực hiện quy định pháp luật về quyền con người cần tăng cường các biện pháp kiểm tra, giám sát, thanh tra, xử lý các cá nhân, tổ chức vi phạm quy định pháp luật, xâm phạm quyền lợi của Nhà nước, của xã hội và của công dân, cá nhân trong xã hội.

(iii) Tăng tính độc lập của cơ quan tư pháp với mục đích: “Tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Hoạt động tư pháp phải có trọng trách bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân”[14]. Thực tiễn cho thấy, hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước mà đặc biệt là Tòa án - cơ quan tư pháp ở Việt Nam hiện nay có ảnh hưởng lớn tới việc thực hiện, bảo đảm quyền con người hiện nay. Hệ thống Tòa án có trách nhiệm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người nhưng nếu không đủ “phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư” rất dễ vi phạm quyền con người và có thể dẫn tới oan, sai. Hệ thống Tòa án - cơ quan tư pháp phải thực sự độc lập với cơ quan lập pháp và hành pháp mới là điều kiện quan trọng để bảo vệ công lý, bảo đảm quyền con người trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

(iv) Đẩy mạnh sự phối hợp giữa Nhà nước với các thiết chế xã hội khác; phát triển kinh tế bền vững, trở thành trụ cột quan trọng, đủ khả năng đáp ứng các điều kiện về vật chất - kỹ thuật - hạ tầng trong bảo vệ quyền con người; nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới trong việc hình thành thiết chế độc lập về nhân quyền và xem xét khả năng vận dụng ở Việt Nam trong tương lai… cũng là những giải pháp quan trọng cần làm.

TS. Phí Thị Thanh Tuyền

Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Xem: OHCHR, Freequently Asked Questinons on a Human Rights-based Approach to Development Cooperation, New York and Geneva, 2006, tr. 1.

[2]. Xem: Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009, tr. 38.

[3]. Xem: Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng, Hỏi đáp về quyền con người, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012, tr. 45.

[4]. Xem: Ngôn ngữ Việt Nam - Nguyễn Quang, Minh Trí, Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2013, tr. 61 - 63.

[5]. Xem: Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Nhà nước pháp quyền và xã hội công dân, Nxb. Viện Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội, 1991, tr. 34

[6]. Xem: Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, Đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu mô hình xây dựng pháp luật đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”, Hà Nội, 2014, tr. 27.

[7]. Xem: Báo cáo tổng hợp Đề tài cấp nhà nước “Quyền con người trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế - Lý luận và thực tiễn”, mã số KX.04.27/11-15, Chủ nhiệm: PGS. TS. Nguyễn Thanh Tuấn, Hà Nội, 2015, tr. 52 - 53.

[8]. Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011, tr. 76.

[9]. Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021, tr. 71 và tr. 27 - 28.

[10]. Xem: Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 10, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 453.

[11]. Xem: Phạm Ngọc Anh, “Quyền con người ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp đảm bảo phát triển”, https://khoaluat.duytan.edu.vn/goc-hoc-tap/quyen-con-nguoi-o-viet-nam-hien-nay-thuc-trang-va-giai-phap-dam-bao-phat-trien/, truy cập ngày 12/4/2022.

[12]. Xem: Quan điểm Đại hội XIII của Đảng về bảo đảm và thúc đẩy quyền con người, http://tapchiqptd.vn/vi/quan-triet-thuc-hien-nghi-quyet/quan-diem-dai-hoi-xiii-cua-dang-ve-bao-dam-va-thuc-day-quyen-con-nguoi/16961.html, truy cập lần cuối ngày 10/4/2022.

[13]. Xem: PGS.TS. Nguyễn Thanh Tuấn, Thực hiện quan điểm của Đảng về quyền con người, Tạp chí Quản lý nhà nước điện tử, https://www.quanlynhanuoc.vn/2019/11/04/thuc-hien-quan-diem-cua-dang-ve-quyen-con-nguoi-2/, truy cập ngày 15/4/2022.

[14]. Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2021, tr. 177.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Số 374, tháng 2/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: