Thứ ba 25/08/2026 04:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm quyền khởi kiện của cổ đông trong công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay

Bài viết phân tích quy định pháp luật về quyền khởi kiện của cổ đông trong công ty cổ phần ở Việt Nam, chỉ ra những bấp cập, khó khăn khi cổ đông thực hiện quyền này, từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Hình thức khởi kiện là một nội dung quan trọng trong luật về doanh nghiệp ở các nước và là một trong các tiêu chí để đánh giá mức độ bảo vệ nhà đầu tư trong các nền kinh tế của Ngân hàng Thế giới (WB). Tại Hoa Kỳ, các cổ đông có thể tự mình hoặc đại diện cho công ty kiện các thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT) để được bồi thường do có vi phạm nào đó về nghĩa vụ được ủy thác. Ở Nhật Bản, cổ đông có một cổ phần vẫn có quyền yêu cầu công ty khởi kiện truy cứu trách nhiệm thành viên HĐQT và trong vòng 60 ngày, nếu công ty không khởi kiện thì cổ đông đó có quyền khởi kiện nhân danh công ty[1]. Luật công ty của các nước như: Thái Lan, Malaysia, Singapore và Philippine đều quy định cổ đông nói chung và cổ đông thiểu số nói riêng có quyền khởi kiện tại Tòa án về việc thành viên HĐQT hoặc những người khác có hành vi vi phạm quyền hợp pháp của họ.

1. Quy định về quyền khởi kiện của cổ đông Việt Nam

Lần đầu tiên, cơ chế cổ đông có quyền khởi kiện lãnh đạo doanh nghiệp được quy định khá cụ thể tại khoản 1 Điều 25 Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp (Nghị định số 102/2010/NĐ-CP): Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 1% số cổ phần phổ thông liên tục trong thời hạn 06 tháng có quyền yêu cầu Ban kiểm soát khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với thành viên HĐQT, Giám đốc (Tổng giám đốc). Căn cứ để khởi kiện như sau:

(i) Thành viên HĐQT, Giám đốc (Tổng giám đốc) không thực hiện đúng các quyền và nhiệm vụ được giao; không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, không kịp thời quyết định của HĐQT; thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao trái với quy định của pháp luật, điều lệ công ty hoặc nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông;

(ii) Thành viên HĐQT, Giám đốc (Tổng giám đốc) đã sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty để tư lợi riêng hoặc phục vụ cho lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;

(iii) Thành viên HĐQT, Giám đốc (Tổng giám đốc) đã lạm dụng địa vị, chức vụ và tài sản của công ty để tư lợi riêng hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;

(iv) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty.

Như vậy, căn cứ khởi kiện như trên là khá rộng, dễ dẫn đến nguy cơ cổ đông có thể khởi kiện tràn lan. Có ý kiến cho rằng, chỉ những vi phạm của người quản lý doanh nghiệp dẫn đến thiệt hại vật chất cho doanh nghiệp thì thành viên, cổ đông mới có quyền khởi kiện. Đối với các vi phạm của người quản lý mà không gây thiệt hại về vật chất thì chỉ xử lý bằng các biện pháp hành chính, như tiến hành kỷ luật, miễn nhiệm, cách chức…

Luật Doanh nghiệp năm 2014 thay thế Luật Doanh nghiệp năm 2005, tiếp tục ghi nhận quyền khởi kiện của cổ đông và khắc phục một số hạn chế trong quy định về quyền khởi kiện. Cụ thể, cổ đông, nhóm cổ đông có quyền khởi kiện trách nhiệm dân sự HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc khi có đủ 02 điều kiện sau (khoản 1 Điều 161 Luật Doanh nghiệp năm 2014): (i) Sở hữu ít nhất 1% tổng số cổ phần phổ thông liên tục trong thời hạn 06 tháng; (ii) Thuộc các trường hợp được kiện quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e khoản 1 Điều 161 Luật Doanh nghiệp năm 2014. Các nghĩa vụ này được quy định tương tự như căn cứ khởi kiện đã nêu tại Nghị định số 102/2010/NĐ-CP. Theo đó, có thể thấy, quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã cho phép cổ đông, nhóm cổ đông hội đủ điều kiện về vốn được phép trực tiếp khởi kiện HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc mà không cần phải yêu cầu Ban kiểm soát khởi kiện thay mình như quy định trước đó.

Hiện nay, Luật Doanh nghiệp năm 2020 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2021) đã có một số sửa đổi, bổ sung về quyền khởi kiện đối với thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, cụ thể như sau (khoản 1 Điều 166): Cổ đông, nhóm cổ đông chỉ cần sở hữu ít nhất 01% tổng số cổ phần phổ thông mà không nhất thiết phải liên tục trong thời hạn 06 tháng; trường hợp vi phạm “nghĩa vụ” người quản lý công ty được thay thành vi phạm “trách nhiệm” của người quản lý công ty; bổ sung quy định về tính chịu trách nhiệm của thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc khi vi phạm. Như vậy, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã “hạ” điều kiện khởi kiện hơn nữa, tạo điều kiện dễ dàng cho các cổ đông khởi kiện, đó là cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu tối thiểu 01% tổng số cổ phần phổ thông nhưng không gắn với điều kiện thời gian sở hữu vốn. Khảo sát sự thay đổi các quy định pháp luật Việt Nam về quyền khởi kiện của cổ đông cho thấy, việc sửa đổi quy định của Luật Doanh nghiệp theo hướng ngày càng tạo điều kiện dễ dàng hơn cho cổ đông thực hiện quyền khởi kiện HĐQT, Ban giám đốc khi họ vi phạm trách nhiệm của người quản lý, ảnh hưởng đến quyền lợi của cổ đông.

2. Bấp cập, khó khăn khi cổ đông thực hiện quyền khởi kiện

Theo quan điểm từ Ngân hàng Thế giới (WB)[2], bảo vệ cổ đông là một trong những tiêu chí đánh giá quản trị công ty tốt. Khi luật pháp bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư tốt mới tạo động lực để họ đầu tư vào doanh nghiệp. Ở Việt Nam, chỉ số bảo vệ nhà đầu tư vẫn giảm điểm mặc dù các nhà làm luật Việt Nam đã đưa nhiều thay đổi trong quy định pháp luật nhằm thăng hạng chỉ số này. Một trong những lý do là cổ đông ở Việt Nam rất khó thực thi các quy định pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Vậy, tại sao việc giải quyết tranh chấp thông qua con đường Tòa án vẫn không phải là lựa chọn hàng đầu của cổ đông Việt Nam?

Thứ nhất, cổ đông khởi kiện không có bằng chứng chứng minh cho yêu cầu của mình. Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nghĩa vụ chứng minh thuộc về người đi kiện. Tòa án sẽ phán quyết trên cơ sở tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp, nếu đương sự đưa ra yêu cầu thì phải có chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó. Tòa án không có nghĩa vụ xác minh, thu thập chứng cứ. Mặc dù, những bằng chứng, chứng cứ cần xác minh, thu thập là cần thiết, đó là những việc cần làm. Tuy nhiên, cũng cần phải thừa nhận rằng, quy định này đã gây khó khăn cho cổ đông[3] khi quyền cung cấp thông tin không được bảo đảm. Cổ đông không có cơ hội tiếp xúc với những tài liệu khi chính những người bị kiện lại nắm giữ chúng. Sự thiếu công khai và minh bạch trong thông tin là rào cản lớn để cổ đông thực hiện quyền khởi kiện của mình.

Thứ hai, Việt Nam có những nét đặc thù về truyền thống, thói quen tâm lý vừa ngại kiện tụng, vừa muốn sử dụng những phương thức hành chính - hình sự để bảo vệ quyền lợi của mình[4]. Khả năng cổ đông khởi kiện thành viên HĐQT, Ban giám đốc ở Việt Nam là rất hy hữu vì tâm lý của chúng ta, đặc biệt là những “ông chủ nghèo” rất ngại tốn thời gian, công sức, thậm chí cả tiền bạc để khiếu kiện ra Tòa đi tìm công lý. Hơn nữa, theo đánh giá của WB thì mức độ độc lập của các cơ quan tư pháp Việt Nam còn hạn chế và chịu ảnh hưởng của chính trị, nhất là các phán quyết của Tòa án liên quan đến các công ty cổ phần mà Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối[5]. Như vậy, cổ đông Việt Nam không thích kiện tụng ra Tòa án vì nhiều nguyên nhân khác nhau.

Thứ ba, mức độ dễ dàng để cổ đông có thể kiện ra Tòa án thể hiện qua các loại giấy tờ liên quan đến giao dịch cung cấp cho cổ đông tại phiên tòa; cổ đông có thể trực tiếp giám sát bị đơn và nhân chứng tại phiên tòa; cổ đông có thể có thông tin từ bị đơn mà không cần nêu cụ thể từng loại giấy tờ... Về mức độ dễ dàng có thể kiện ra Tòa ở Việt Nam chưa thật sự được bảo đảm. Để đánh giá mức độ bảo vệ nhà đầu tư của luật pháp trong một nước, báo cáo “Môi trường kinh doanh” của WB và Tập đoàn Tài chính Quốc tế (IFC) đã xây dựng tiêu chí về mức độ bảo vệ nhà đầu tư dựa trên các tình huống tiêu chuẩn với các giả thiết cụ thể. Theo đó, mức độ bảo vệ nhà đầu tư được biểu hiện ở ba tiêu chí: (i) Mức độ công bố thông tin; (ii) Trách nhiệm của Ban giám đốc; (iii) Mức độ dễ dàng để cổ đông có thể kiện ra Tòa án.

Thứ tư, pháp luật về doanh nghiệp cần quy định rõ hơn nhóm quyền ngăn chặn của cổ đông, cụ thể là các quyền yêu cầu kiểm toán độc lập, quyền khởi kiện những người quản lý điều hành công ty khi có dấu hiệu vi phạm và làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của công ty. Đây là những quyền đã được pháp luật quy định nhưng cần quy định cụ thể và chi tiết hơn để các quyền này có thể vận hành trong thực tế. Quy định tưởng như là rất tiến bộ nhưng sau nhiều năm triển khai, theo đánh giá của cả doanh nghiệp và cơ quan hoạch định chính sách thì chỉ là tồn tại trên giấy, do thiếu tính khả thi. Nguyên nhân của tình trạng này là do quy định hiện hành trao quyền cho cổ đông một cách “nửa vời”. Để khắc phục bất cập của quy định hiện hành, pháp luật cần bổ sung các quy định để cổ đông thực hiện hiệu quả hơn quyền của mình. Trong đó, quy định cụ thể nghĩa vụ của công ty, người quản lý doanh nghiệp phải cung cấp đầy đủ thông tin theo yêu cầu trong trường hợp cổ đông khởi kiện người quản lý doanh nghiệp.

3. Hoàn thiện quy định pháp luật có liên quan đến quyền khởi kiện của cổ đông

Một là, ban hành hướng dẫn thủ tục kiện phái sinh để phân biệt với kiện trực tiếp.

Để hạn chế việc lạm dụng quyền khởi kiện phái sinh của cổ đông không thân thiện, cũng như bảo đảm cho công ty cổ phần có cơ hội được đưa ra biện pháp phi tố tụng trước khi cổ đông nộp đơn khởi kiện, cần ban hành thủ tục kiện phái sinh. Chúng ta có thể tham khảo cách tiếp cận của pháp luật Anh - Mỹ: (i) Bắt buộc cổ đông thông báo cho cơ quan quản lý công ty cổ phần về sai phạm để tạo điều kiện cho công ty cổ phần đưa ra biện pháp khắc phục cũng như trao quyền ưu tiên khởi kiện cho công ty tự mình khởi kiện người quản lý; (ii) Khi quá thời hạn mà công ty cổ phần không hồi đáp hoặc từ chối quyền ưu tiên khởi kiện của mình, cổ đông mới có thể nhân danh công ty khởi kiện.

Hai là, đặt ra tiêu chí xác định vi phạm trách nhiệm của người quản lý.

Các tiêu chuẩn xác định vi phạm trách nhiệm của người quản lý đặt ra trong Luật Doanh nghiệp cũng cần được giải thích minh bạch. Điều này giúp cho cổ đông cũng như cơ quan giải quyết tranh chấp xác định được mức độ vi phạm để làm rõ cơ sở khởi kiện của các vụ kiện phái sinh. Tác giả kiến nghị giải thích trách nhiệm của người quản lý theo hướng yêu cầu mức độ nỗ lực là “nỗ lực hợp lý”, tức người quản lý chỉ có trách nhiệm thực hiện các công việc mà một người quản lý bình thường (không phải một người quản lý “xuất chúng”) ở trong một hoàn cảnh tương tự cũng sẽ đưa ra các quyết định như vậy.

Ba là, làm rõ tư cách nguyên đơn trong vụ kiện phái sinh.

Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định trình tự, thủ tục khởi kiện thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Do đó, để tránh rủi ro cổ đông không được công nhận tư cách nguyên đơn do không có quyền và lợi ích bị xâm hại trực tiếp, có thể: (i) Xác định công ty cổ phần là nguyên đơn trong các vụ kiện phái sinh hoặc (ii) Hướng dẫn giải thích khái niệm nguyên đơn trong các vụ kiện phái sinh theo hướng bao gồm các cổ đông, nhóm cổ đông.

Bốn là, giải thích về chi phí khởi kiện theo hướng bao gồm các loại chi phí tố tụng khác.

Trong hầu hết các vụ kiện, chi phí khởi kiện theo Bộ luật Tố tụng dân sự thường chiếm một phần nhỏ trong tương quan với các chi phí khác như phí luật sư, phí giám định, phí phiên dịch... Do đó, cần giải thích về “chi phí khởi kiện” trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 theo hướng bao gồm các loại chi phí hợp lý khác để giảm bớt nghĩa vụ tài chính cho cổ đông. Mức độ “hợp lý” của các chi phí được đánh giá tùy vào chi phí trung bình của các tranh chấp có tính chất tương tự khác. Chẳng hạn, nếu cổ đông thuê một công ty luật nước ngoài có danh tiếng và yêu cầu mức phí dịch vụ cao bất thường, trong trường hợp cổ đông thắng kiện, công ty chỉ có nghĩa vụ chi trả một khoản phí tương đương với mức giá dịch vụ trung bình trên thị trường.

Năm là, quy định rõ cơ chế khởi kiện.

Cổ đông khởi kiện cần có tư cách nguyên đơn khi khởi kiện nhân danh công ty. Công ty phải hoàn trả mọi chi phí hợp lý liên quan đến việc kiện của cổ đông trừ trường hợp Tòa án quyết định vụ kiện được tiến hành không nhằm phục vụ lợi ích tốt nhất của công ty hoặc việc khởi kiện không có lý do chính đáng hoặc mục đích phù hợp. Các chi phí này bao gồm nhưng không giới hạn bởi chi phí thuê luật sư, chi phí tố tụng, các khoản tiền phạt, các khoản phải thanh toán phát sinh trong thực tế hoặc được coi là mức hợp lý khi giải quyết vụ việc này trong khuôn khổ pháp luật cho phép.

Tóm lại, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đánh dấu một bước tiến đáng kể trong việc ghi nhận quyền khởi kiện của cổ đông trong công ty cổ phần so với các Luật Doanh nghiệp năm 2014, năm 2005, năm 1999 và Luật Công ty năm 1990. So với giai đoạn trước năm 2005, các cổ đông chỉ có quyền căn bản như quyền được cung cấp thông tin cơ bản về tài chính và hoạt động của công ty, quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông… mà không có quyền khởi kiện. Cùng với việc mở cửa, hội nhập, pháp luật doanh nghiệp Việt Nam đã có nhiều sửa đổi theo hướng tiếp cận với những thông lệ quốc tế, đặc biệt là trong quy định bảo đảm sự dễ dàng khởi kiện của cổ đông. Tuy vậy, so với chuẩn mực quốc tế, quyền khởi kiện của cổ đông đã được quy định rõ ràng nhưng cơ chế bảo đảm quyền còn yếu. Cơ chế giám sát của cổ đông, trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua thể chế kiểm toán, kiểm soát nội bộ… còn kém hiệu lực; chế độ công khai thông tin cho cổ đông cũng còn yếu. Cơ chế phòng ngừa và cơ chế khắc phục các quyền của cổ đông vẫn còn tồn tại những bất cập, khiếm khuyết. Các khiếm khuyết này cần thiết phải được sửa đổi, khắc phục thì cổ đông mới có thể khởi kiện để bảo đảm được các quyền lợi chính đáng của mình trong thực tiễn hoạt động của công ty cổ phần. Nhu cầu bảo đảm quyền khởi kiện của cổ đông Việt Nam đặt ra ngày càng cấp thiết, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, nhà đầu tư trong nước và ngoài nước sẽ yên tâm bỏ vốn vào công ty cổ phần khi quyền và lợi ích chính đáng của họ được bảo vệ; từ đó, nâng cao tính minh bạch trong môi trường đầu tư ở Việt Nam. Với những cố gắng của các nhà lập pháp Việt Nam, quyền khởi kiện của cổ đông trong công ty cổ phần ngày càng quy định rõ ràng hơn, tuy nhiên, việc bảo đảm quyền khởi kiện của cổ đông Việt Nam vẫn gặp phải những rào cản từ thực tiễn. Điều này đòi hỏi cơ quan lập pháp, hành pháp Việt Nam cần có những thay đổi cụ thể, phù hợp với sự vận hành của nền kinh tế thị trường, làm tăng mức độ dễ dàng khởi kiện của cổ đông, hướng tới Việt Nam là một môi trường đầu tư lành mạnh, an toàn và hiệu quả.

TS. Nguyễn Thị Thu Hương

Ngành Luật, Đại học Quốc tế Sài Gòn

[1]. Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung (2009), Công ty: Vốn, quản lý và tranh chấp theo Luật Doanh nghiệp 2005, Nxb. Trí thức, Hà Nội, tr. 349.

[2]. World Bank Group, Protecting Minority Investors - Doing Business, https://www.doingbusiness.org/en/data/exploretopics/protecting-minority-investors.

[3]. Cao Đình Lành (2014), Bảo đảm quyền cổ đông thiểu số trong mua bán, sáp nhập công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam - Học viện Khoa học xã hội, tr. 109.

[4]. Cao Đình Lành (2014), Bảo đảm quyền cổ đông thiểu số trong mua bán, sáp nhập công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam - Học viện Khoa học xã hội, tr. 67.

[5]. Bùi Minh Nguyệt (2010), Bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 54.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 393), tháng 11/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: