Thứ ba 17/03/2026 09:41
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm quyền khởi kiện của cổ đông trong công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay

Bài viết phân tích quy định pháp luật về quyền khởi kiện của cổ đông trong công ty cổ phần ở Việt Nam, chỉ ra những bấp cập, khó khăn khi cổ đông thực hiện quyền này, từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Hình thức khởi kiện là một nội dung quan trọng trong luật về doanh nghiệp ở các nước và là một trong các tiêu chí để đánh giá mức độ bảo vệ nhà đầu tư trong các nền kinh tế của Ngân hàng Thế giới (WB). Tại Hoa Kỳ, các cổ đông có thể tự mình hoặc đại diện cho công ty kiện các thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT) để được bồi thường do có vi phạm nào đó về nghĩa vụ được ủy thác. Ở Nhật Bản, cổ đông có một cổ phần vẫn có quyền yêu cầu công ty khởi kiện truy cứu trách nhiệm thành viên HĐQT và trong vòng 60 ngày, nếu công ty không khởi kiện thì cổ đông đó có quyền khởi kiện nhân danh công ty[1]. Luật công ty của các nước như: Thái Lan, Malaysia, Singapore và Philippine đều quy định cổ đông nói chung và cổ đông thiểu số nói riêng có quyền khởi kiện tại Tòa án về việc thành viên HĐQT hoặc những người khác có hành vi vi phạm quyền hợp pháp của họ.

1. Quy định về quyền khởi kiện của cổ đông Việt Nam

Lần đầu tiên, cơ chế cổ đông có quyền khởi kiện lãnh đạo doanh nghiệp được quy định khá cụ thể tại khoản 1 Điều 25 Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp (Nghị định số 102/2010/NĐ-CP): Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 1% số cổ phần phổ thông liên tục trong thời hạn 06 tháng có quyền yêu cầu Ban kiểm soát khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với thành viên HĐQT, Giám đốc (Tổng giám đốc). Căn cứ để khởi kiện như sau:

(i) Thành viên HĐQT, Giám đốc (Tổng giám đốc) không thực hiện đúng các quyền và nhiệm vụ được giao; không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, không kịp thời quyết định của HĐQT; thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao trái với quy định của pháp luật, điều lệ công ty hoặc nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông;

(ii) Thành viên HĐQT, Giám đốc (Tổng giám đốc) đã sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty để tư lợi riêng hoặc phục vụ cho lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;

(iii) Thành viên HĐQT, Giám đốc (Tổng giám đốc) đã lạm dụng địa vị, chức vụ và tài sản của công ty để tư lợi riêng hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;

(iv) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty.

Như vậy, căn cứ khởi kiện như trên là khá rộng, dễ dẫn đến nguy cơ cổ đông có thể khởi kiện tràn lan. Có ý kiến cho rằng, chỉ những vi phạm của người quản lý doanh nghiệp dẫn đến thiệt hại vật chất cho doanh nghiệp thì thành viên, cổ đông mới có quyền khởi kiện. Đối với các vi phạm của người quản lý mà không gây thiệt hại về vật chất thì chỉ xử lý bằng các biện pháp hành chính, như tiến hành kỷ luật, miễn nhiệm, cách chức…

Luật Doanh nghiệp năm 2014 thay thế Luật Doanh nghiệp năm 2005, tiếp tục ghi nhận quyền khởi kiện của cổ đông và khắc phục một số hạn chế trong quy định về quyền khởi kiện. Cụ thể, cổ đông, nhóm cổ đông có quyền khởi kiện trách nhiệm dân sự HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc khi có đủ 02 điều kiện sau (khoản 1 Điều 161 Luật Doanh nghiệp năm 2014): (i) Sở hữu ít nhất 1% tổng số cổ phần phổ thông liên tục trong thời hạn 06 tháng; (ii) Thuộc các trường hợp được kiện quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e khoản 1 Điều 161 Luật Doanh nghiệp năm 2014. Các nghĩa vụ này được quy định tương tự như căn cứ khởi kiện đã nêu tại Nghị định số 102/2010/NĐ-CP. Theo đó, có thể thấy, quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã cho phép cổ đông, nhóm cổ đông hội đủ điều kiện về vốn được phép trực tiếp khởi kiện HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc mà không cần phải yêu cầu Ban kiểm soát khởi kiện thay mình như quy định trước đó.

Hiện nay, Luật Doanh nghiệp năm 2020 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2021) đã có một số sửa đổi, bổ sung về quyền khởi kiện đối với thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, cụ thể như sau (khoản 1 Điều 166): Cổ đông, nhóm cổ đông chỉ cần sở hữu ít nhất 01% tổng số cổ phần phổ thông mà không nhất thiết phải liên tục trong thời hạn 06 tháng; trường hợp vi phạm “nghĩa vụ” người quản lý công ty được thay thành vi phạm “trách nhiệm” của người quản lý công ty; bổ sung quy định về tính chịu trách nhiệm của thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc khi vi phạm. Như vậy, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã “hạ” điều kiện khởi kiện hơn nữa, tạo điều kiện dễ dàng cho các cổ đông khởi kiện, đó là cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu tối thiểu 01% tổng số cổ phần phổ thông nhưng không gắn với điều kiện thời gian sở hữu vốn. Khảo sát sự thay đổi các quy định pháp luật Việt Nam về quyền khởi kiện của cổ đông cho thấy, việc sửa đổi quy định của Luật Doanh nghiệp theo hướng ngày càng tạo điều kiện dễ dàng hơn cho cổ đông thực hiện quyền khởi kiện HĐQT, Ban giám đốc khi họ vi phạm trách nhiệm của người quản lý, ảnh hưởng đến quyền lợi của cổ đông.

2. Bấp cập, khó khăn khi cổ đông thực hiện quyền khởi kiện

Theo quan điểm từ Ngân hàng Thế giới (WB)[2], bảo vệ cổ đông là một trong những tiêu chí đánh giá quản trị công ty tốt. Khi luật pháp bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư tốt mới tạo động lực để họ đầu tư vào doanh nghiệp. Ở Việt Nam, chỉ số bảo vệ nhà đầu tư vẫn giảm điểm mặc dù các nhà làm luật Việt Nam đã đưa nhiều thay đổi trong quy định pháp luật nhằm thăng hạng chỉ số này. Một trong những lý do là cổ đông ở Việt Nam rất khó thực thi các quy định pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Vậy, tại sao việc giải quyết tranh chấp thông qua con đường Tòa án vẫn không phải là lựa chọn hàng đầu của cổ đông Việt Nam?

Thứ nhất, cổ đông khởi kiện không có bằng chứng chứng minh cho yêu cầu của mình. Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nghĩa vụ chứng minh thuộc về người đi kiện. Tòa án sẽ phán quyết trên cơ sở tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp, nếu đương sự đưa ra yêu cầu thì phải có chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó. Tòa án không có nghĩa vụ xác minh, thu thập chứng cứ. Mặc dù, những bằng chứng, chứng cứ cần xác minh, thu thập là cần thiết, đó là những việc cần làm. Tuy nhiên, cũng cần phải thừa nhận rằng, quy định này đã gây khó khăn cho cổ đông[3] khi quyền cung cấp thông tin không được bảo đảm. Cổ đông không có cơ hội tiếp xúc với những tài liệu khi chính những người bị kiện lại nắm giữ chúng. Sự thiếu công khai và minh bạch trong thông tin là rào cản lớn để cổ đông thực hiện quyền khởi kiện của mình.

Thứ hai, Việt Nam có những nét đặc thù về truyền thống, thói quen tâm lý vừa ngại kiện tụng, vừa muốn sử dụng những phương thức hành chính - hình sự để bảo vệ quyền lợi của mình[4]. Khả năng cổ đông khởi kiện thành viên HĐQT, Ban giám đốc ở Việt Nam là rất hy hữu vì tâm lý của chúng ta, đặc biệt là những “ông chủ nghèo” rất ngại tốn thời gian, công sức, thậm chí cả tiền bạc để khiếu kiện ra Tòa đi tìm công lý. Hơn nữa, theo đánh giá của WB thì mức độ độc lập của các cơ quan tư pháp Việt Nam còn hạn chế và chịu ảnh hưởng của chính trị, nhất là các phán quyết của Tòa án liên quan đến các công ty cổ phần mà Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối[5]. Như vậy, cổ đông Việt Nam không thích kiện tụng ra Tòa án vì nhiều nguyên nhân khác nhau.

Thứ ba, mức độ dễ dàng để cổ đông có thể kiện ra Tòa án thể hiện qua các loại giấy tờ liên quan đến giao dịch cung cấp cho cổ đông tại phiên tòa; cổ đông có thể trực tiếp giám sát bị đơn và nhân chứng tại phiên tòa; cổ đông có thể có thông tin từ bị đơn mà không cần nêu cụ thể từng loại giấy tờ... Về mức độ dễ dàng có thể kiện ra Tòa ở Việt Nam chưa thật sự được bảo đảm. Để đánh giá mức độ bảo vệ nhà đầu tư của luật pháp trong một nước, báo cáo “Môi trường kinh doanh” của WB và Tập đoàn Tài chính Quốc tế (IFC) đã xây dựng tiêu chí về mức độ bảo vệ nhà đầu tư dựa trên các tình huống tiêu chuẩn với các giả thiết cụ thể. Theo đó, mức độ bảo vệ nhà đầu tư được biểu hiện ở ba tiêu chí: (i) Mức độ công bố thông tin; (ii) Trách nhiệm của Ban giám đốc; (iii) Mức độ dễ dàng để cổ đông có thể kiện ra Tòa án.

Thứ tư, pháp luật về doanh nghiệp cần quy định rõ hơn nhóm quyền ngăn chặn của cổ đông, cụ thể là các quyền yêu cầu kiểm toán độc lập, quyền khởi kiện những người quản lý điều hành công ty khi có dấu hiệu vi phạm và làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của công ty. Đây là những quyền đã được pháp luật quy định nhưng cần quy định cụ thể và chi tiết hơn để các quyền này có thể vận hành trong thực tế. Quy định tưởng như là rất tiến bộ nhưng sau nhiều năm triển khai, theo đánh giá của cả doanh nghiệp và cơ quan hoạch định chính sách thì chỉ là tồn tại trên giấy, do thiếu tính khả thi. Nguyên nhân của tình trạng này là do quy định hiện hành trao quyền cho cổ đông một cách “nửa vời”. Để khắc phục bất cập của quy định hiện hành, pháp luật cần bổ sung các quy định để cổ đông thực hiện hiệu quả hơn quyền của mình. Trong đó, quy định cụ thể nghĩa vụ của công ty, người quản lý doanh nghiệp phải cung cấp đầy đủ thông tin theo yêu cầu trong trường hợp cổ đông khởi kiện người quản lý doanh nghiệp.

3. Hoàn thiện quy định pháp luật có liên quan đến quyền khởi kiện của cổ đông

Một là, ban hành hướng dẫn thủ tục kiện phái sinh để phân biệt với kiện trực tiếp.

Để hạn chế việc lạm dụng quyền khởi kiện phái sinh của cổ đông không thân thiện, cũng như bảo đảm cho công ty cổ phần có cơ hội được đưa ra biện pháp phi tố tụng trước khi cổ đông nộp đơn khởi kiện, cần ban hành thủ tục kiện phái sinh. Chúng ta có thể tham khảo cách tiếp cận của pháp luật Anh - Mỹ: (i) Bắt buộc cổ đông thông báo cho cơ quan quản lý công ty cổ phần về sai phạm để tạo điều kiện cho công ty cổ phần đưa ra biện pháp khắc phục cũng như trao quyền ưu tiên khởi kiện cho công ty tự mình khởi kiện người quản lý; (ii) Khi quá thời hạn mà công ty cổ phần không hồi đáp hoặc từ chối quyền ưu tiên khởi kiện của mình, cổ đông mới có thể nhân danh công ty khởi kiện.

Hai là, đặt ra tiêu chí xác định vi phạm trách nhiệm của người quản lý.

Các tiêu chuẩn xác định vi phạm trách nhiệm của người quản lý đặt ra trong Luật Doanh nghiệp cũng cần được giải thích minh bạch. Điều này giúp cho cổ đông cũng như cơ quan giải quyết tranh chấp xác định được mức độ vi phạm để làm rõ cơ sở khởi kiện của các vụ kiện phái sinh. Tác giả kiến nghị giải thích trách nhiệm của người quản lý theo hướng yêu cầu mức độ nỗ lực là “nỗ lực hợp lý”, tức người quản lý chỉ có trách nhiệm thực hiện các công việc mà một người quản lý bình thường (không phải một người quản lý “xuất chúng”) ở trong một hoàn cảnh tương tự cũng sẽ đưa ra các quyết định như vậy.

Ba là, làm rõ tư cách nguyên đơn trong vụ kiện phái sinh.

Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định trình tự, thủ tục khởi kiện thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Do đó, để tránh rủi ro cổ đông không được công nhận tư cách nguyên đơn do không có quyền và lợi ích bị xâm hại trực tiếp, có thể: (i) Xác định công ty cổ phần là nguyên đơn trong các vụ kiện phái sinh hoặc (ii) Hướng dẫn giải thích khái niệm nguyên đơn trong các vụ kiện phái sinh theo hướng bao gồm các cổ đông, nhóm cổ đông.

Bốn là, giải thích về chi phí khởi kiện theo hướng bao gồm các loại chi phí tố tụng khác.

Trong hầu hết các vụ kiện, chi phí khởi kiện theo Bộ luật Tố tụng dân sự thường chiếm một phần nhỏ trong tương quan với các chi phí khác như phí luật sư, phí giám định, phí phiên dịch... Do đó, cần giải thích về “chi phí khởi kiện” trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 theo hướng bao gồm các loại chi phí hợp lý khác để giảm bớt nghĩa vụ tài chính cho cổ đông. Mức độ “hợp lý” của các chi phí được đánh giá tùy vào chi phí trung bình của các tranh chấp có tính chất tương tự khác. Chẳng hạn, nếu cổ đông thuê một công ty luật nước ngoài có danh tiếng và yêu cầu mức phí dịch vụ cao bất thường, trong trường hợp cổ đông thắng kiện, công ty chỉ có nghĩa vụ chi trả một khoản phí tương đương với mức giá dịch vụ trung bình trên thị trường.

Năm là, quy định rõ cơ chế khởi kiện.

Cổ đông khởi kiện cần có tư cách nguyên đơn khi khởi kiện nhân danh công ty. Công ty phải hoàn trả mọi chi phí hợp lý liên quan đến việc kiện của cổ đông trừ trường hợp Tòa án quyết định vụ kiện được tiến hành không nhằm phục vụ lợi ích tốt nhất của công ty hoặc việc khởi kiện không có lý do chính đáng hoặc mục đích phù hợp. Các chi phí này bao gồm nhưng không giới hạn bởi chi phí thuê luật sư, chi phí tố tụng, các khoản tiền phạt, các khoản phải thanh toán phát sinh trong thực tế hoặc được coi là mức hợp lý khi giải quyết vụ việc này trong khuôn khổ pháp luật cho phép.

Tóm lại, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đánh dấu một bước tiến đáng kể trong việc ghi nhận quyền khởi kiện của cổ đông trong công ty cổ phần so với các Luật Doanh nghiệp năm 2014, năm 2005, năm 1999 và Luật Công ty năm 1990. So với giai đoạn trước năm 2005, các cổ đông chỉ có quyền căn bản như quyền được cung cấp thông tin cơ bản về tài chính và hoạt động của công ty, quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông… mà không có quyền khởi kiện. Cùng với việc mở cửa, hội nhập, pháp luật doanh nghiệp Việt Nam đã có nhiều sửa đổi theo hướng tiếp cận với những thông lệ quốc tế, đặc biệt là trong quy định bảo đảm sự dễ dàng khởi kiện của cổ đông. Tuy vậy, so với chuẩn mực quốc tế, quyền khởi kiện của cổ đông đã được quy định rõ ràng nhưng cơ chế bảo đảm quyền còn yếu. Cơ chế giám sát của cổ đông, trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua thể chế kiểm toán, kiểm soát nội bộ… còn kém hiệu lực; chế độ công khai thông tin cho cổ đông cũng còn yếu. Cơ chế phòng ngừa và cơ chế khắc phục các quyền của cổ đông vẫn còn tồn tại những bất cập, khiếm khuyết. Các khiếm khuyết này cần thiết phải được sửa đổi, khắc phục thì cổ đông mới có thể khởi kiện để bảo đảm được các quyền lợi chính đáng của mình trong thực tiễn hoạt động của công ty cổ phần. Nhu cầu bảo đảm quyền khởi kiện của cổ đông Việt Nam đặt ra ngày càng cấp thiết, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, nhà đầu tư trong nước và ngoài nước sẽ yên tâm bỏ vốn vào công ty cổ phần khi quyền và lợi ích chính đáng của họ được bảo vệ; từ đó, nâng cao tính minh bạch trong môi trường đầu tư ở Việt Nam. Với những cố gắng của các nhà lập pháp Việt Nam, quyền khởi kiện của cổ đông trong công ty cổ phần ngày càng quy định rõ ràng hơn, tuy nhiên, việc bảo đảm quyền khởi kiện của cổ đông Việt Nam vẫn gặp phải những rào cản từ thực tiễn. Điều này đòi hỏi cơ quan lập pháp, hành pháp Việt Nam cần có những thay đổi cụ thể, phù hợp với sự vận hành của nền kinh tế thị trường, làm tăng mức độ dễ dàng khởi kiện của cổ đông, hướng tới Việt Nam là một môi trường đầu tư lành mạnh, an toàn và hiệu quả.

TS. Nguyễn Thị Thu Hương

Ngành Luật, Đại học Quốc tế Sài Gòn

[1]. Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung (2009), Công ty: Vốn, quản lý và tranh chấp theo Luật Doanh nghiệp 2005, Nxb. Trí thức, Hà Nội, tr. 349.

[2]. World Bank Group, Protecting Minority Investors - Doing Business, https://www.doingbusiness.org/en/data/exploretopics/protecting-minority-investors.

[3]. Cao Đình Lành (2014), Bảo đảm quyền cổ đông thiểu số trong mua bán, sáp nhập công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam - Học viện Khoa học xã hội, tr. 109.

[4]. Cao Đình Lành (2014), Bảo đảm quyền cổ đông thiểu số trong mua bán, sáp nhập công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam - Học viện Khoa học xã hội, tr. 67.

[5]. Bùi Minh Nguyệt (2010), Bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 54.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 393), tháng 11/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: