Thứ hai 25/05/2026 03:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm quyền khởi kiện của cổ đông trong công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay

Bài viết phân tích quy định pháp luật về quyền khởi kiện của cổ đông trong công ty cổ phần ở Việt Nam, chỉ ra những bấp cập, khó khăn khi cổ đông thực hiện quyền này, từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Hình thức khởi kiện là một nội dung quan trọng trong luật về doanh nghiệp ở các nước và là một trong các tiêu chí để đánh giá mức độ bảo vệ nhà đầu tư trong các nền kinh tế của Ngân hàng Thế giới (WB). Tại Hoa Kỳ, các cổ đông có thể tự mình hoặc đại diện cho công ty kiện các thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT) để được bồi thường do có vi phạm nào đó về nghĩa vụ được ủy thác. Ở Nhật Bản, cổ đông có một cổ phần vẫn có quyền yêu cầu công ty khởi kiện truy cứu trách nhiệm thành viên HĐQT và trong vòng 60 ngày, nếu công ty không khởi kiện thì cổ đông đó có quyền khởi kiện nhân danh công ty[1]. Luật công ty của các nước như: Thái Lan, Malaysia, Singapore và Philippine đều quy định cổ đông nói chung và cổ đông thiểu số nói riêng có quyền khởi kiện tại Tòa án về việc thành viên HĐQT hoặc những người khác có hành vi vi phạm quyền hợp pháp của họ.

1. Quy định về quyền khởi kiện của cổ đông Việt Nam

Lần đầu tiên, cơ chế cổ đông có quyền khởi kiện lãnh đạo doanh nghiệp được quy định khá cụ thể tại khoản 1 Điều 25 Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp (Nghị định số 102/2010/NĐ-CP): Cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 1% số cổ phần phổ thông liên tục trong thời hạn 06 tháng có quyền yêu cầu Ban kiểm soát khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với thành viên HĐQT, Giám đốc (Tổng giám đốc). Căn cứ để khởi kiện như sau:

(i) Thành viên HĐQT, Giám đốc (Tổng giám đốc) không thực hiện đúng các quyền và nhiệm vụ được giao; không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, không kịp thời quyết định của HĐQT; thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao trái với quy định của pháp luật, điều lệ công ty hoặc nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông;

(ii) Thành viên HĐQT, Giám đốc (Tổng giám đốc) đã sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty để tư lợi riêng hoặc phục vụ cho lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;

(iii) Thành viên HĐQT, Giám đốc (Tổng giám đốc) đã lạm dụng địa vị, chức vụ và tài sản của công ty để tư lợi riêng hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;

(iv) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty.

Như vậy, căn cứ khởi kiện như trên là khá rộng, dễ dẫn đến nguy cơ cổ đông có thể khởi kiện tràn lan. Có ý kiến cho rằng, chỉ những vi phạm của người quản lý doanh nghiệp dẫn đến thiệt hại vật chất cho doanh nghiệp thì thành viên, cổ đông mới có quyền khởi kiện. Đối với các vi phạm của người quản lý mà không gây thiệt hại về vật chất thì chỉ xử lý bằng các biện pháp hành chính, như tiến hành kỷ luật, miễn nhiệm, cách chức…

Luật Doanh nghiệp năm 2014 thay thế Luật Doanh nghiệp năm 2005, tiếp tục ghi nhận quyền khởi kiện của cổ đông và khắc phục một số hạn chế trong quy định về quyền khởi kiện. Cụ thể, cổ đông, nhóm cổ đông có quyền khởi kiện trách nhiệm dân sự HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc khi có đủ 02 điều kiện sau (khoản 1 Điều 161 Luật Doanh nghiệp năm 2014): (i) Sở hữu ít nhất 1% tổng số cổ phần phổ thông liên tục trong thời hạn 06 tháng; (ii) Thuộc các trường hợp được kiện quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e khoản 1 Điều 161 Luật Doanh nghiệp năm 2014. Các nghĩa vụ này được quy định tương tự như căn cứ khởi kiện đã nêu tại Nghị định số 102/2010/NĐ-CP. Theo đó, có thể thấy, quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã cho phép cổ đông, nhóm cổ đông hội đủ điều kiện về vốn được phép trực tiếp khởi kiện HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc mà không cần phải yêu cầu Ban kiểm soát khởi kiện thay mình như quy định trước đó.

Hiện nay, Luật Doanh nghiệp năm 2020 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2021) đã có một số sửa đổi, bổ sung về quyền khởi kiện đối với thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, cụ thể như sau (khoản 1 Điều 166): Cổ đông, nhóm cổ đông chỉ cần sở hữu ít nhất 01% tổng số cổ phần phổ thông mà không nhất thiết phải liên tục trong thời hạn 06 tháng; trường hợp vi phạm “nghĩa vụ” người quản lý công ty được thay thành vi phạm “trách nhiệm” của người quản lý công ty; bổ sung quy định về tính chịu trách nhiệm của thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc khi vi phạm. Như vậy, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã “hạ” điều kiện khởi kiện hơn nữa, tạo điều kiện dễ dàng cho các cổ đông khởi kiện, đó là cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu tối thiểu 01% tổng số cổ phần phổ thông nhưng không gắn với điều kiện thời gian sở hữu vốn. Khảo sát sự thay đổi các quy định pháp luật Việt Nam về quyền khởi kiện của cổ đông cho thấy, việc sửa đổi quy định của Luật Doanh nghiệp theo hướng ngày càng tạo điều kiện dễ dàng hơn cho cổ đông thực hiện quyền khởi kiện HĐQT, Ban giám đốc khi họ vi phạm trách nhiệm của người quản lý, ảnh hưởng đến quyền lợi của cổ đông.

2. Bấp cập, khó khăn khi cổ đông thực hiện quyền khởi kiện

Theo quan điểm từ Ngân hàng Thế giới (WB)[2], bảo vệ cổ đông là một trong những tiêu chí đánh giá quản trị công ty tốt. Khi luật pháp bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư tốt mới tạo động lực để họ đầu tư vào doanh nghiệp. Ở Việt Nam, chỉ số bảo vệ nhà đầu tư vẫn giảm điểm mặc dù các nhà làm luật Việt Nam đã đưa nhiều thay đổi trong quy định pháp luật nhằm thăng hạng chỉ số này. Một trong những lý do là cổ đông ở Việt Nam rất khó thực thi các quy định pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Vậy, tại sao việc giải quyết tranh chấp thông qua con đường Tòa án vẫn không phải là lựa chọn hàng đầu của cổ đông Việt Nam?

Thứ nhất, cổ đông khởi kiện không có bằng chứng chứng minh cho yêu cầu của mình. Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nghĩa vụ chứng minh thuộc về người đi kiện. Tòa án sẽ phán quyết trên cơ sở tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp, nếu đương sự đưa ra yêu cầu thì phải có chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó. Tòa án không có nghĩa vụ xác minh, thu thập chứng cứ. Mặc dù, những bằng chứng, chứng cứ cần xác minh, thu thập là cần thiết, đó là những việc cần làm. Tuy nhiên, cũng cần phải thừa nhận rằng, quy định này đã gây khó khăn cho cổ đông[3] khi quyền cung cấp thông tin không được bảo đảm. Cổ đông không có cơ hội tiếp xúc với những tài liệu khi chính những người bị kiện lại nắm giữ chúng. Sự thiếu công khai và minh bạch trong thông tin là rào cản lớn để cổ đông thực hiện quyền khởi kiện của mình.

Thứ hai, Việt Nam có những nét đặc thù về truyền thống, thói quen tâm lý vừa ngại kiện tụng, vừa muốn sử dụng những phương thức hành chính - hình sự để bảo vệ quyền lợi của mình[4]. Khả năng cổ đông khởi kiện thành viên HĐQT, Ban giám đốc ở Việt Nam là rất hy hữu vì tâm lý của chúng ta, đặc biệt là những “ông chủ nghèo” rất ngại tốn thời gian, công sức, thậm chí cả tiền bạc để khiếu kiện ra Tòa đi tìm công lý. Hơn nữa, theo đánh giá của WB thì mức độ độc lập của các cơ quan tư pháp Việt Nam còn hạn chế và chịu ảnh hưởng của chính trị, nhất là các phán quyết của Tòa án liên quan đến các công ty cổ phần mà Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối[5]. Như vậy, cổ đông Việt Nam không thích kiện tụng ra Tòa án vì nhiều nguyên nhân khác nhau.

Thứ ba, mức độ dễ dàng để cổ đông có thể kiện ra Tòa án thể hiện qua các loại giấy tờ liên quan đến giao dịch cung cấp cho cổ đông tại phiên tòa; cổ đông có thể trực tiếp giám sát bị đơn và nhân chứng tại phiên tòa; cổ đông có thể có thông tin từ bị đơn mà không cần nêu cụ thể từng loại giấy tờ... Về mức độ dễ dàng có thể kiện ra Tòa ở Việt Nam chưa thật sự được bảo đảm. Để đánh giá mức độ bảo vệ nhà đầu tư của luật pháp trong một nước, báo cáo “Môi trường kinh doanh” của WB và Tập đoàn Tài chính Quốc tế (IFC) đã xây dựng tiêu chí về mức độ bảo vệ nhà đầu tư dựa trên các tình huống tiêu chuẩn với các giả thiết cụ thể. Theo đó, mức độ bảo vệ nhà đầu tư được biểu hiện ở ba tiêu chí: (i) Mức độ công bố thông tin; (ii) Trách nhiệm của Ban giám đốc; (iii) Mức độ dễ dàng để cổ đông có thể kiện ra Tòa án.

Thứ tư, pháp luật về doanh nghiệp cần quy định rõ hơn nhóm quyền ngăn chặn của cổ đông, cụ thể là các quyền yêu cầu kiểm toán độc lập, quyền khởi kiện những người quản lý điều hành công ty khi có dấu hiệu vi phạm và làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của công ty. Đây là những quyền đã được pháp luật quy định nhưng cần quy định cụ thể và chi tiết hơn để các quyền này có thể vận hành trong thực tế. Quy định tưởng như là rất tiến bộ nhưng sau nhiều năm triển khai, theo đánh giá của cả doanh nghiệp và cơ quan hoạch định chính sách thì chỉ là tồn tại trên giấy, do thiếu tính khả thi. Nguyên nhân của tình trạng này là do quy định hiện hành trao quyền cho cổ đông một cách “nửa vời”. Để khắc phục bất cập của quy định hiện hành, pháp luật cần bổ sung các quy định để cổ đông thực hiện hiệu quả hơn quyền của mình. Trong đó, quy định cụ thể nghĩa vụ của công ty, người quản lý doanh nghiệp phải cung cấp đầy đủ thông tin theo yêu cầu trong trường hợp cổ đông khởi kiện người quản lý doanh nghiệp.

3. Hoàn thiện quy định pháp luật có liên quan đến quyền khởi kiện của cổ đông

Một là, ban hành hướng dẫn thủ tục kiện phái sinh để phân biệt với kiện trực tiếp.

Để hạn chế việc lạm dụng quyền khởi kiện phái sinh của cổ đông không thân thiện, cũng như bảo đảm cho công ty cổ phần có cơ hội được đưa ra biện pháp phi tố tụng trước khi cổ đông nộp đơn khởi kiện, cần ban hành thủ tục kiện phái sinh. Chúng ta có thể tham khảo cách tiếp cận của pháp luật Anh - Mỹ: (i) Bắt buộc cổ đông thông báo cho cơ quan quản lý công ty cổ phần về sai phạm để tạo điều kiện cho công ty cổ phần đưa ra biện pháp khắc phục cũng như trao quyền ưu tiên khởi kiện cho công ty tự mình khởi kiện người quản lý; (ii) Khi quá thời hạn mà công ty cổ phần không hồi đáp hoặc từ chối quyền ưu tiên khởi kiện của mình, cổ đông mới có thể nhân danh công ty khởi kiện.

Hai là, đặt ra tiêu chí xác định vi phạm trách nhiệm của người quản lý.

Các tiêu chuẩn xác định vi phạm trách nhiệm của người quản lý đặt ra trong Luật Doanh nghiệp cũng cần được giải thích minh bạch. Điều này giúp cho cổ đông cũng như cơ quan giải quyết tranh chấp xác định được mức độ vi phạm để làm rõ cơ sở khởi kiện của các vụ kiện phái sinh. Tác giả kiến nghị giải thích trách nhiệm của người quản lý theo hướng yêu cầu mức độ nỗ lực là “nỗ lực hợp lý”, tức người quản lý chỉ có trách nhiệm thực hiện các công việc mà một người quản lý bình thường (không phải một người quản lý “xuất chúng”) ở trong một hoàn cảnh tương tự cũng sẽ đưa ra các quyết định như vậy.

Ba là, làm rõ tư cách nguyên đơn trong vụ kiện phái sinh.

Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định trình tự, thủ tục khởi kiện thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Do đó, để tránh rủi ro cổ đông không được công nhận tư cách nguyên đơn do không có quyền và lợi ích bị xâm hại trực tiếp, có thể: (i) Xác định công ty cổ phần là nguyên đơn trong các vụ kiện phái sinh hoặc (ii) Hướng dẫn giải thích khái niệm nguyên đơn trong các vụ kiện phái sinh theo hướng bao gồm các cổ đông, nhóm cổ đông.

Bốn là, giải thích về chi phí khởi kiện theo hướng bao gồm các loại chi phí tố tụng khác.

Trong hầu hết các vụ kiện, chi phí khởi kiện theo Bộ luật Tố tụng dân sự thường chiếm một phần nhỏ trong tương quan với các chi phí khác như phí luật sư, phí giám định, phí phiên dịch... Do đó, cần giải thích về “chi phí khởi kiện” trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 theo hướng bao gồm các loại chi phí hợp lý khác để giảm bớt nghĩa vụ tài chính cho cổ đông. Mức độ “hợp lý” của các chi phí được đánh giá tùy vào chi phí trung bình của các tranh chấp có tính chất tương tự khác. Chẳng hạn, nếu cổ đông thuê một công ty luật nước ngoài có danh tiếng và yêu cầu mức phí dịch vụ cao bất thường, trong trường hợp cổ đông thắng kiện, công ty chỉ có nghĩa vụ chi trả một khoản phí tương đương với mức giá dịch vụ trung bình trên thị trường.

Năm là, quy định rõ cơ chế khởi kiện.

Cổ đông khởi kiện cần có tư cách nguyên đơn khi khởi kiện nhân danh công ty. Công ty phải hoàn trả mọi chi phí hợp lý liên quan đến việc kiện của cổ đông trừ trường hợp Tòa án quyết định vụ kiện được tiến hành không nhằm phục vụ lợi ích tốt nhất của công ty hoặc việc khởi kiện không có lý do chính đáng hoặc mục đích phù hợp. Các chi phí này bao gồm nhưng không giới hạn bởi chi phí thuê luật sư, chi phí tố tụng, các khoản tiền phạt, các khoản phải thanh toán phát sinh trong thực tế hoặc được coi là mức hợp lý khi giải quyết vụ việc này trong khuôn khổ pháp luật cho phép.

Tóm lại, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đánh dấu một bước tiến đáng kể trong việc ghi nhận quyền khởi kiện của cổ đông trong công ty cổ phần so với các Luật Doanh nghiệp năm 2014, năm 2005, năm 1999 và Luật Công ty năm 1990. So với giai đoạn trước năm 2005, các cổ đông chỉ có quyền căn bản như quyền được cung cấp thông tin cơ bản về tài chính và hoạt động của công ty, quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông… mà không có quyền khởi kiện. Cùng với việc mở cửa, hội nhập, pháp luật doanh nghiệp Việt Nam đã có nhiều sửa đổi theo hướng tiếp cận với những thông lệ quốc tế, đặc biệt là trong quy định bảo đảm sự dễ dàng khởi kiện của cổ đông. Tuy vậy, so với chuẩn mực quốc tế, quyền khởi kiện của cổ đông đã được quy định rõ ràng nhưng cơ chế bảo đảm quyền còn yếu. Cơ chế giám sát của cổ đông, trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua thể chế kiểm toán, kiểm soát nội bộ… còn kém hiệu lực; chế độ công khai thông tin cho cổ đông cũng còn yếu. Cơ chế phòng ngừa và cơ chế khắc phục các quyền của cổ đông vẫn còn tồn tại những bất cập, khiếm khuyết. Các khiếm khuyết này cần thiết phải được sửa đổi, khắc phục thì cổ đông mới có thể khởi kiện để bảo đảm được các quyền lợi chính đáng của mình trong thực tiễn hoạt động của công ty cổ phần. Nhu cầu bảo đảm quyền khởi kiện của cổ đông Việt Nam đặt ra ngày càng cấp thiết, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, nhà đầu tư trong nước và ngoài nước sẽ yên tâm bỏ vốn vào công ty cổ phần khi quyền và lợi ích chính đáng của họ được bảo vệ; từ đó, nâng cao tính minh bạch trong môi trường đầu tư ở Việt Nam. Với những cố gắng của các nhà lập pháp Việt Nam, quyền khởi kiện của cổ đông trong công ty cổ phần ngày càng quy định rõ ràng hơn, tuy nhiên, việc bảo đảm quyền khởi kiện của cổ đông Việt Nam vẫn gặp phải những rào cản từ thực tiễn. Điều này đòi hỏi cơ quan lập pháp, hành pháp Việt Nam cần có những thay đổi cụ thể, phù hợp với sự vận hành của nền kinh tế thị trường, làm tăng mức độ dễ dàng khởi kiện của cổ đông, hướng tới Việt Nam là một môi trường đầu tư lành mạnh, an toàn và hiệu quả.

TS. Nguyễn Thị Thu Hương

Ngành Luật, Đại học Quốc tế Sài Gòn

[1]. Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung (2009), Công ty: Vốn, quản lý và tranh chấp theo Luật Doanh nghiệp 2005, Nxb. Trí thức, Hà Nội, tr. 349.

[2]. World Bank Group, Protecting Minority Investors - Doing Business, https://www.doingbusiness.org/en/data/exploretopics/protecting-minority-investors.

[3]. Cao Đình Lành (2014), Bảo đảm quyền cổ đông thiểu số trong mua bán, sáp nhập công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam - Học viện Khoa học xã hội, tr. 109.

[4]. Cao Đình Lành (2014), Bảo đảm quyền cổ đông thiểu số trong mua bán, sáp nhập công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam - Học viện Khoa học xã hội, tr. 67.

[5]. Bùi Minh Nguyệt (2010), Bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 54.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 393), tháng 11/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: