Thứ bảy 06/12/2025 07:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại theo pháp luật Việt Nam

Trong hoạt động thương mại, việc xác định chính xác đối tượng hợp đồng không chỉ có ý nghĩa đối với thương nhân mà còn có ý nghĩa đối với Nhà nước trong quá trình điều tiết hoạt động thương mại. Ý nghĩa này càng thể hiện rõ rệt trong những quan hệ hợp đồng mà đối tượng hợp đồng không đơn thuần chỉ là tài sản/hàng hóa hữu hình hay công việc/ dịch vụ cụ thể, trong đó, hợp đồng nhượng quyền thương mại là một điển hình. Pháp luật Việt Nam hiện hành còn nhiều bất cập liên quan đến vấn đề nhận diện đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, do đó dẫn đến tình trạng pháp luật bảo vệ đối tượng của hợp đồng nhượng quyền trong Luật Sở hữu trí tuệ hiện nay vừa “yếu” lại vừa “thiếu”.


Trong bài viết tác giả Đỗ Phương Thảo đã đi sâu phân tích một số nội dung chính như: (i) Sự cần thiết phải bảo hộ đối tượng chuyển giao của hợp đồng nhượng quyền thương mại; (ii) Thực trạng pháp luật về bảo vệ đối tượng chuyển giao trong quan hệ nhượng quyền thương mại; (iii) Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo vệ đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại.

1. Sự cần thiết phải bảo hộ đối tượng chuyển giao của hợp đồng nhượng quyền thương mại

Hợp đồng là sự thỏa thuận làm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên nhằm đạt đến những mục tiêu nhất định. Để giao kết và thực hiện hợp đồng, một trong những yếu tố mà các bên phải làm rõ đó chính là đối tượng của hợp đồng. Với bản chất là tài sản/hàng hóa phải giao hoặc công việc/dịch vụ phải làm, đối tượng hợp đồng không chỉ giúp cho các bên đạt được mục tiêu khi giao kết hợp đồng, mà còn là một trong những căn cứ giúp các bên có cách thức, biện pháp phù hợp để kiểm soát quá trình chuyển giao/thực hiện đối tượng ấy. Thực tế cho thấy, không xác định được chính xác đối tượng hợp đồng sẽ đồng nghĩa với việc chuyển giao tài sản/hàng hóa hoặc việc thực hiện công việc/cung ứng dịch vụ không diễn ra theo đúng mong muốn của các bên khi xác lập quan hệ hợp đồng. Đồng thời, các bên sẽ khó có thể thiết lập được một cơ chế bảo vệ một cách hiệu quả đối tượng của hợp đồng trong quá trình thực hiện và sử dụng nó nhằm thỏa mãn lợi ích của các bên khi tham gia vào mối quan hệ này. Ở góc độ quản lý nhà nước, việc ghi nhận chính xác đối tượng hợp đồng sẽ giúp Nhà nước lựa chọn cách thức tác động phù hợp đối với mỗi quan hệ hợp đồng, thông qua đó, kiểm soát, bảo vệ đối tượng của hợp đồng cũng như bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, lợi ích của xã hội một cách hiệu quả tương ứng với bản chất của mỗi loại giao dịch/hợp đồng cụ thể.

Trong hoạt động thương mại, việc xác định chính xác đối tượng hợp đồng không chỉ có ý nghĩa đối với thương nhân mà còn có ý nghĩa đối với Nhà nước trong quá trình điều tiết hoạt động thương mại. Ý nghĩa này càng thể hiện rõ rệt trong những quan hệ hợp đồng mà đối tượng hợp đồng không đơn thuần chỉ là tài sản/hàng hóa hữu hình hay công việc/dịch vụ cụ thể, trong đó, hợp đồng nhượng quyền thương mại là một điển hình. Sở dĩ nói như vậy là vì, với bản chất là hoạt động chuyển giao cách thức kinh doanh, bên nhượng quyền và nhận quyền cùng kinh doanh chung một sản phẩm với phương thức như nhau, cùng sử dụng chung danh tiếng mà bên nhượng quyền đã dày công vun đắp, đối tượng chuyển giao trong quan hệ nhượng quyền không phải là hàng hóa/dịch vụ có thể xác định được một cách đơn giản. Điều đặc biệt ở chỗ, đối tượng chuyển giao (phương thức kinh doanh) trong quan hệ nhượng quyền không phải là hàng hóa như trong hợp đồng mua bán hàng hóa bởi các bên không hề chuyển giao quyền sở hữu đối tượng đó cho nhau, cũng không phải là dịch vụ mà bên nhượng quyền cung ứng cho bên nhận quyền, bởi bên nhượng quyền chỉ cam kết cho bên nhận quyền sử dụng danh tiếng, cách thức kinh doanh của mình để cung ứng sản phẩm ra thị trường, mà không cung ứng bất cứ dịch vụ nào cho bên nhận quyền.

Cụ thể, đối tượng chuyển giao (quyền thương mại) mà bên nhượng quyền chuyển giao cho bên nhận quyền là một tập hợp các yếu tố có sự kết hợp nhuần nhuyễn với nhau tạo nên “thương hiệu” của sản phẩm mà bên nhượng quyền cung ứng, bao gồm: (i) Các yếu tố của quyền sở hữu trí tuệ như tên thương mại, nhãn hiệu, bản quyền, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh và những yếu tố mang tính chất của quyền sở hữu trí tuệ như bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, phong cách phục vụ và (ii) Các yếu tố khác tạo nên bản sắc riêng của phương thức kinh doanh nhượng quyền khi được sử dụng kết hợp với các yếu tố sở hữu trí tuệ nêu trên như: Đồng phục nhân viên, cung cách phục vụ của nhân viên, cách thiết kế, bài trí cửa hàng…

Việc xác định đúng đối tượng của hợp đồng nhượng quyền là một trong những yếu tố giúp cho bên nhượng quyền tiến hành các biện pháp kiểm soát bên nhận quyền trong việc sử dụng “quyền thương mại” mà bên nhượng quyền đã chuyển giao, đồng thời giúp toàn bộ hệ thống có thể bảo vệ một cách hữu hiệu nhất đối tượng mà các bên chuyển giao cho nhau trước bên thứ ba bất kỳ trong xã hội.

2. Thực trạng pháp luật về bảo vệ đối tượng chuyển giao trong quan hệ nhượng quyền thương mại

Trong pháp luật Việt Nam hiện hành về hoạt động nhượng quyền, không đề cập trực tiếp mà chỉ gián tiếp nhắc tới đối tượng mà bên nhượng chuyển giao cho bên nhận thông qua khái niệm hoạt động nhượng quyền thương mại. Theo đó, đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại đã được mô tả bằng phương pháp liệt kê bao gồm các yếu tố sở hữu trí tuệ và các yếu tố khác để cấu thành nên mô hình kinh doanh thành công của bên nhượng quyền. Như vậy, cách thức xác định đối tượng của hợp đồng nhượng quyền được quy định trong Luật Thương mại năm 2005 cũng bộc lộ một số hạn chế, đó là: (i) Chưa mô tả được đầy đủ các yếu tố cấu thành nên đối tượng chuyển giao giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền; (ii) Chưa thể hiện được mối quan hệ khăng khít, nhuần nhuyễn giữa các yếu tố cấu thành nên đối tượng của hợp đồng nhượng quyền trong một chỉnh thể thống nhất.

Từ những bất cập trong pháp luật Việt Nam hiện hành về vấn đề nhận diện đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại đã dẫn đến những hạn chế trong quá trình thiết lập cơ chế bảo vệ đối tượng này trong quá trình vận hành hệ thống nhượng quyền. Điểm mấu chốt ở đây là, giữa Luật Thương mại và Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành chưa thực sự đồng bộ trong việc định danh và bảo vệ quyền thương mại trong quan hệ nhượng quyền. Điều này đã dẫn đến tình trạng pháp luật về bảo vệ đối tượng của hợp đồng nhượng quyền trong Luật Sở hữu trí tuệ hiện nay vừa “yếu” lại vừa “thiếu”, thể hiện ở hai khía cạnh: (i) Trong nội dung của quyền thương mại, tồn tại những yếu tố sở hữu trí tuệ được liệt kê trong Luật Thương mại năm 2005, đồng thời được bảo vệ bởi quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019) nhưng cơ chế bảo hộ chưa thực sự hiệu quả; (ii) Trong gói quyền thương mại mà các bên chuyển nhượng cho nhau khi thực hiện hoạt động nhượng quyền xuất hiện những đối tượng mà Luật Thương mại năm 2005 chưa ghi nhận và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019) cũng không bảo hộ.

2.1. Vấn đề bảo vệ các yếu tố sở hữu trí tuệ được ghi nhận trong Luật Thương mại năm 2005 và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019)

Trong nội dung quyền thương mại mà các bên nhượng và bên nhận quyền chuyển giao cho nhau, có những yếu tố cấu thành mang tính truyền thống, nghĩa là hầu hết trong mọi hệ thống nhượng quyền, các yếu tố này đều xuất hiện trong tập hợp các yếu tố tạo nên sự thành công của thương hiệu nhượng quyền. Bản thân những yếu tố này hiện nay được liệt kê trong Luật Thương mại năm 2005 như là một bộ phận của “quyền thương mại” và được Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019) bảo vệ như một tài sản trí tuệ độc lập hoàn toàn với quan hệ nhượng quyền. Những yếu tố này bao gồm: Tên thương mại và nhãn hiệu đã được liệt kê trong Điều 284 Luật Thương mại năm 2005 như sau: “Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền”. Thực trạng pháp luật về vấn đề bảo vệ tên thương mại và nhãn hiệu đặt trong mối quan hệ nhượng quyền cụ thể như sau:

Một là, tên thương mại là yếu tố có vai trò quan trọng cấu thành nên quyền thương mại trong quan hệ nhượng quyền. Đây là một trong các dấu hiệu giúp cho khách hàng có thể nhận diện các hệ thống nhượng quyền trên thị trường. Chức năng phân biệt này của tên thương mại cũng đã được ghi nhận trong định nghĩa về đối tượng này theo Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành: Là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh[1]. Quan trọng hơn, đằng sau tên thương mại tưởng chừng đơn thuần đó là toàn bộ uy tín, giá trị và vị thế của thương nhân sáng tạo ra hệ thống nhượng quyền. Chính vì vậy, tên thương mại luôn hiện diện trong đối tượng của hợp đồng nhượng quyền và là một trong các yếu tố mà bên nhượng và bên nhận có nhu cầu chuyển giao quyền sử dụng cho nhau và cùng kinh doanh dưới một tên thương mại chung để đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống. Tuy nhiên, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019) và các văn bản hướng dẫn thi hành điều chỉnh vấn đề chuyển nhượng và chuyển giao quyền sử dụng tên thương mại còn rất hạn chế. Cụ thể, đối với vấn đề chuyển nhượng quyền thương mại thì khoản 3 Điều 139 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019) có đưa ra điều kiện để chuyển nhượng là: “Quyền đối với tên thương mại chỉ được chuyển nhượng cùng với việc chuyển nhượng toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó”. Nếu theo quy định này, khi một chủ thể kinh doanh chuyển nhượng tên thương mại cũng đồng nghĩa với việc chủ thể đó sẽ phải chấm dứt hoạt động và toàn bộ cơ sở kinh doanh được chuyển sang cho bên nhận chuyển nhượng. Như vậy, nhu cầu chuyển giao tên thương mại của các thương nhân trong hệ thống nhượng quyền sẽ không thể thực hiện được, bởi lẽ, sau khi chuyển nhượng tên thương mại, các thương nhân nhượng quyền sẽ tiếp tục cùng nhau kinh doanh dưới một tên thương mại chung nhưng với tư cách pháp lý và tài chính hoàn toàn độc lập. Chưa dừng lại ở đó, vấn đề chuyển giao quyền sử dụng tên thương mại giữa các thương nhân nói chung cũng như thương nhân nhượng quyền nói riêng theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành cũng trở thành một hạn chế làm triệt tiêu nhu cầu chuyển giao tên thương mại của thương nhân nhượng quyền khi “quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý, tên thương mại không được chuyển giao”[2]. Mặc dù những hạn chế này là nhằm tránh gây ra sự nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh đối với người tiêu dùng trên thị trường nhưng đặt trong mối quan hệ nhượng quyền thương mại, nó lại trở thành rào cản đối với các thương nhân trong việc chuyển giao quyền thương mại để xây dựng một hệ thống kinh doanh mang tính đồng bộ và thống nhất.

Từ những phân tích trên đây có thể thấy, trong mối quan hệ với Luật Thương mại năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019) với tư cách là một trong những luật bổ trợ lại chưa thực sự phát huy được vị trí, vai trò hỗ trợ của mình. Không những thế, các quy định mang tính cấm và hạn chế quyền chuyển giao và quyền chuyển nhượng đối với tên thương mại còn đặt các thương nhân nhượng quyền trước nguy cơ vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ hiện hành.

Hai là, trong các yếu tố thuộc “quyền thương mại” mà các bên chuyển giao cho nhau, nhãn hiệu là đối tượng sở hữu công nghiệp mang tính phổ biến nhất. Hầu hết, trong các giao dịch nhượng quyền, các bên đều thỏa thuận chuyển giao cho nhau quyền sử dụng nhãn hiệu của sản phẩm mà hệ thống nhượng quyền phân phối. Sở dĩ, có hiện tượng này là bởi vì một trong các yêu cầu đặt ra với sản phẩm nhượng quyền là phải đạt một sự đồng nhất về chất lượng, giá cả, hình thức của sản phẩm đến một giới hạn mà tại giới hạn đó khách hàng không thể phân biệt được sản phẩm của hệ thống nhượng quyền này được cung cấp bởi các thương nhân hoàn toàn độc lập với nhau về tài chính cũng như tư cách pháp lý. Trong khi đó, vai trò của nhãn hiệu là để phân biệt, đặc định hàng hóa, dịch vụ của các thương nhân với nhau. Do đó, việc các thương nhân trong một hệ thống nhượng quyền phải cùng kinh doanh dưới một nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ là vô cùng cần thiết để đảm bảo điều kiện mang tính bản chất của quan hệ nhượng quyền. Không giống tên thương mại, việc bảo hộ quyền sở hữu đối với nhãn hiệu không theo cơ chế tự động mà phải thực hiện thủ tục đăng ký theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019) và các văn bản hướng dẫn thi hành. Như vậy, việc một nhãn hiệu có được bảo hộ hay không phụ thuộc vào việc chủ thể sở hữu nó có nhu cầu được pháp luật bảo hộ hay không. Tất nhiên, không phải dấu hiệu bất kỳ đều được pháp luật bảo hộ mà phải phụ thuộc vào việc dấu hiệu đó có đáp ứng được các điều kiện bảo hộ hay không. Cụ thể, các điều kiện đó là: “Dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc”[3]. Những điều kiện này là chưa thực sự hợp lý. Sự bất hợp lý này sẽ là một hạn chế đối với nhu cầu bảo hộ rộng lớn của các thương nhân. Bởi lẽ, quy định này vô hình trung đã loại bỏ mùi vị và âm thanh cũng như những dấu hiệu mang tính độc đáo ra khỏi phạm vi các dấu hiệu được bảo hộ dưới danh nghĩa một nhãn hiệu vì những dấu hiệu này mặc dù có chức năng phân biệt nhưng lại “không thể nhìn thấy được”. Đặc biệt, trong mối quan hệ nhượng quyền, khi mà sự thành công của cả hệ thống được tạo dựng từ sự độc đáo trong mô hình kinh doanh của thương nhân nhượng quyền thì việc thương nhân nhượng quyền sử dụng các dấu hiệu có hàm lượng sáng tạo cao như âm thanh, mùi vị để tạo nên quyền thương mại là một điều tất yếu. Trong trường hợp này, để có thể ghi dấu ấn trong tâm trí người tiêu dùng về quá trình cung ứng sản phẩm của mình, các thương nhân nhượng quyền sẽ có nhu cầu đăng ký và sử dụng những dấu hiệu đặc biệt trên với danh nghĩa một nhãn hiệu. Nhu cầu chính đáng này của thương nhân nhượng quyền sẽ không thể được đáp ứng bởi các quy định bảo hộ mang tính giới hạn của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành. Hậu quả là, cả hệ thống nhượng quyền sẽ phải đối mặt với nguy cơ bị sao chép ý tưởng một cách tràn lan vì không có cơ chế để được bảo vệ. Do đó, trong mối tương quan với pháp luật thương mại dưới góc độ hoạt động nhượng quyền, pháp luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam không những chưa phát huy được vai trò hỗ trợ cho sự vận hành của pháp luật thương mại mà còn tạo ra những cản trở nhất định đối với quá trình các quy định của pháp luật thương mại đi vào thực tế đời sống.

2.2. Một số yếu tố sở hữu trí tuệ được chuyển giao trong quan hệ nhượng quyền nhưng chưa được pháp luật ghi nhận và bảo hộ

Trong nội dung quyền thương mại các bên chuyển nhượng cho nhau trên thực tế có những đối tượng không được Luật Thương mại năm 2005 liệt kê tại Điều 284 như là một bộ phận của “quyền thương mại” và đồng thời không được Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019) bảo hộ với danh nghĩa là một tài sản trí tuệ. Những yếu tố có thể kể đến đó là: Những yếu tố mang tính sáng tạo ở trình độ cao như cách thiết kế bài trí cửa hàng, cung cách phục vụ, cách thức trải nghiệm sản phẩm hay chỉ đơn thuần là đồng phục của nhân viên hoặc đơn giản nhất là cách thức đặt một tấm lót dưới mỗi bát phở khi phục vụ khách hàng mà hệ thống “Phở 24” đã từng sử dụng. Vì không được ghi nhận và bảo hộ bằng các quy định của pháp luật hiện hành nên sự sáng tạo này của hệ thống nhượng quyền “Phở 24” đã bị sao chép bởi thương hiệu “Phở 5 sao” mà không có cơ chế để xử lý. Vụ tranh chấp giữa hai thương hiệu phở của Việt Nam vào năm 2007 là một minh chứng rõ nét cho thấy trực trạng pháp luật về bảo vệ quyền thương mại trong quan hệ nhượng quyền còn nhiều bất cập.

3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo vệ đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại

Thứ nhất, trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019) cần bổ sung những quy định về một số trường hợp ngoại lệ hợp lý dành riêng cho việc khai thác, sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ với tư cách là bộ phận của quyền thương mại trong quan hệ nhượng quyền. Cụ thể, đối với những quy định về điều kiện chuyển nhượng tên thương mại hoặc quy định về cấm hoạt động chuyển giao quyền sử dụng tên thương mại trong Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019) cần bổ sung thêm cụm từ “trừ trường hợp đối với hoạt động nhượng quyền thương mại”. Như vậy, sẽ tránh được tình trạng để thực hiện hoạt động chuyển giao quyền thương mại trong một số trường hợp thương nhân nhượng quyền phải chấp nhận thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Thứ hai, cần sửa đổi quy định về một trong các điều kiện để dấu hiệu được bảo hộ dưới danh nghĩa một nhãn hiệu là phải đảm bảo “nhìn thấy được” và phải tồn tại dưới dạng “chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc” tại Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019). Bởi lẽ, nếu để nguyên quy định như Điều 72 thì phạm vi các dấu hiệu được bảo hộ dưới danh nghĩa một nhãn hiệu sẽ rất hẹp trong khi sự sáng tạo của thương nhân nhượng quyền về vấn đề này là không giới hạn. Vì vậy, quy định tại Điều 72 nên sửa đổi theo hướng bỏ yêu cầu phải là dấu hiệu “nhìn thấy được”, đồng thời cũng không nên liệt kê các dạng tồn tại của nó. Điều này sẽ giúp mở rộng được tối đa phạm vi các dấu hiệu được bảo hộ với danh nghĩa một nhãn hiệu, kích thích sự tự do sáng tạo của thương nhân nhượng quyền, đồng thời phù hợp với quy định của các điều ước quốc tế, đặc biệt là Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs).

Thứ ba, để khắc phục tình trạng trong một số trường hợp các thương nhân nhượng quyền không có cơ chế để bảo vệ những yếu tố cấu thành nên quyền thương mại như: Bí quyết kinh doanh, cách thức bài trí cửa hàng, cách thức thiết kế không gian cửa hàng, cung cách phục vụ, cách thức trải nghiệm sản phẩm... có thể lựa chọn một trong hai phương thức sau:

Phương thức thứ nhất, bổ sung các đối tượng đã đề cập trên đây vào đối tượng bảo hộ của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019) và xây dựng các quy định cụ thể để bảo hộ các đối tượng này. Tuy nhiên, cách làm này không thực sự mang lại hiệu quả và giải quyết được những bất cập một cách triệt để. Bởi lẽ, các yếu tố cần được bảo hộ là kết quả của sự sáng tạo và sự sáng tạo của con người nói chung cũng như thương nhân nói riêng là vô cùng phong phú và đa dạng. Do vậy, nếu lựa chọn phương thức này sẽ dẫn đến hậu quả là có thể phải liên tục sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ nhằm phù hợp với sự phát triển của các yếu tố cấu thành nên quyền thương mại trong quan hệ nhượng quyền.

Phương thức thứ hai, bảo hộ quyền thương mại trong quan hệ nhượng quyền với tư cách là cả một gói quyền. Bằng cách bổ sung “quyền thương mại” vào Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành như một đối tượng điều chỉnh của văn bản này. Tất nhiên để được bảo hộ đối với “gói quyền thương mại” của mình, thương nhân nhượng quyền phải làm thủ tục đăng ký bảo hộ với cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ. Việc áp dụng phương thức này sẽ tạo ra cơ chế để Luật Sở hữu trí tuệ điều chỉnh đối tượng quyền thương mại như một đặc thù riêng trong quan hệ nhượng quyền. Từ đó, giúp cho thương nhân nhượng quyền có thể bảo vệ đối tượng đã được chuyển giao cho các thương nhân nhận quyền một cơ chế bảo vệ thật sự hữu hiệu.

Đỗ Phương Thảo

Đại học Thương mại Hà Nội

[1]. Khoản 21 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019).

[2]. Khoản 1 điều 142 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019).

[3]. Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Lứa tuổi vị thành niên là giai đoạn các em đang hình thành nhân cách, dễ bồng bột, thiếu kỹ năng kiểm soát cảm xúc và nhận thức pháp luật còn hạn chế. Nếu không được định hướng, các em rất dễ sa vào những hành vi vi phạm pháp luật đáng tiếc. Chỉ một phút nóng giận, một quyết định bồng bột… cũng đủ khiến tuổi trẻ phải trả giá bằng cả những tháng ngày sau song sắt. Thế nhưng, trong câu chuyện buồn ấy, vẫn có một điểm sáng nhân văn - đó là bàn tay nâng đỡ của trợ giúp pháp lý miễn phí, để một thiếu niên lầm lỡ có cơ hội sửa sai và làm lại từ đầu.

Theo dõi chúng tôi trên: