Chủ nhật 26/07/2026 09:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại theo pháp luật Việt Nam

Trong hoạt động thương mại, việc xác định chính xác đối tượng hợp đồng không chỉ có ý nghĩa đối với thương nhân mà còn có ý nghĩa đối với Nhà nước trong quá trình điều tiết hoạt động thương mại. Ý nghĩa này càng thể hiện rõ rệt trong những quan hệ hợp đồng mà đối tượng hợp đồng không đơn thuần chỉ là tài sản/hàng hóa hữu hình hay công việc/ dịch vụ cụ thể, trong đó, hợp đồng nhượng quyền thương mại là một điển hình. Pháp luật Việt Nam hiện hành còn nhiều bất cập liên quan đến vấn đề nhận diện đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, do đó dẫn đến tình trạng pháp luật bảo vệ đối tượng của hợp đồng nhượng quyền trong Luật Sở hữu trí tuệ hiện nay vừa “yếu” lại vừa “thiếu”.


Trong bài viết tác giả Đỗ Phương Thảo đã đi sâu phân tích một số nội dung chính như: (i) Sự cần thiết phải bảo hộ đối tượng chuyển giao của hợp đồng nhượng quyền thương mại; (ii) Thực trạng pháp luật về bảo vệ đối tượng chuyển giao trong quan hệ nhượng quyền thương mại; (iii) Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo vệ đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại.

1. Sự cần thiết phải bảo hộ đối tượng chuyển giao của hợp đồng nhượng quyền thương mại

Hợp đồng là sự thỏa thuận làm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên nhằm đạt đến những mục tiêu nhất định. Để giao kết và thực hiện hợp đồng, một trong những yếu tố mà các bên phải làm rõ đó chính là đối tượng của hợp đồng. Với bản chất là tài sản/hàng hóa phải giao hoặc công việc/dịch vụ phải làm, đối tượng hợp đồng không chỉ giúp cho các bên đạt được mục tiêu khi giao kết hợp đồng, mà còn là một trong những căn cứ giúp các bên có cách thức, biện pháp phù hợp để kiểm soát quá trình chuyển giao/thực hiện đối tượng ấy. Thực tế cho thấy, không xác định được chính xác đối tượng hợp đồng sẽ đồng nghĩa với việc chuyển giao tài sản/hàng hóa hoặc việc thực hiện công việc/cung ứng dịch vụ không diễn ra theo đúng mong muốn của các bên khi xác lập quan hệ hợp đồng. Đồng thời, các bên sẽ khó có thể thiết lập được một cơ chế bảo vệ một cách hiệu quả đối tượng của hợp đồng trong quá trình thực hiện và sử dụng nó nhằm thỏa mãn lợi ích của các bên khi tham gia vào mối quan hệ này. Ở góc độ quản lý nhà nước, việc ghi nhận chính xác đối tượng hợp đồng sẽ giúp Nhà nước lựa chọn cách thức tác động phù hợp đối với mỗi quan hệ hợp đồng, thông qua đó, kiểm soát, bảo vệ đối tượng của hợp đồng cũng như bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, lợi ích của xã hội một cách hiệu quả tương ứng với bản chất của mỗi loại giao dịch/hợp đồng cụ thể.

Trong hoạt động thương mại, việc xác định chính xác đối tượng hợp đồng không chỉ có ý nghĩa đối với thương nhân mà còn có ý nghĩa đối với Nhà nước trong quá trình điều tiết hoạt động thương mại. Ý nghĩa này càng thể hiện rõ rệt trong những quan hệ hợp đồng mà đối tượng hợp đồng không đơn thuần chỉ là tài sản/hàng hóa hữu hình hay công việc/dịch vụ cụ thể, trong đó, hợp đồng nhượng quyền thương mại là một điển hình. Sở dĩ nói như vậy là vì, với bản chất là hoạt động chuyển giao cách thức kinh doanh, bên nhượng quyền và nhận quyền cùng kinh doanh chung một sản phẩm với phương thức như nhau, cùng sử dụng chung danh tiếng mà bên nhượng quyền đã dày công vun đắp, đối tượng chuyển giao trong quan hệ nhượng quyền không phải là hàng hóa/dịch vụ có thể xác định được một cách đơn giản. Điều đặc biệt ở chỗ, đối tượng chuyển giao (phương thức kinh doanh) trong quan hệ nhượng quyền không phải là hàng hóa như trong hợp đồng mua bán hàng hóa bởi các bên không hề chuyển giao quyền sở hữu đối tượng đó cho nhau, cũng không phải là dịch vụ mà bên nhượng quyền cung ứng cho bên nhận quyền, bởi bên nhượng quyền chỉ cam kết cho bên nhận quyền sử dụng danh tiếng, cách thức kinh doanh của mình để cung ứng sản phẩm ra thị trường, mà không cung ứng bất cứ dịch vụ nào cho bên nhận quyền.

Cụ thể, đối tượng chuyển giao (quyền thương mại) mà bên nhượng quyền chuyển giao cho bên nhận quyền là một tập hợp các yếu tố có sự kết hợp nhuần nhuyễn với nhau tạo nên “thương hiệu” của sản phẩm mà bên nhượng quyền cung ứng, bao gồm: (i) Các yếu tố của quyền sở hữu trí tuệ như tên thương mại, nhãn hiệu, bản quyền, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh và những yếu tố mang tính chất của quyền sở hữu trí tuệ như bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, phong cách phục vụ và (ii) Các yếu tố khác tạo nên bản sắc riêng của phương thức kinh doanh nhượng quyền khi được sử dụng kết hợp với các yếu tố sở hữu trí tuệ nêu trên như: Đồng phục nhân viên, cung cách phục vụ của nhân viên, cách thiết kế, bài trí cửa hàng…

Việc xác định đúng đối tượng của hợp đồng nhượng quyền là một trong những yếu tố giúp cho bên nhượng quyền tiến hành các biện pháp kiểm soát bên nhận quyền trong việc sử dụng “quyền thương mại” mà bên nhượng quyền đã chuyển giao, đồng thời giúp toàn bộ hệ thống có thể bảo vệ một cách hữu hiệu nhất đối tượng mà các bên chuyển giao cho nhau trước bên thứ ba bất kỳ trong xã hội.

2. Thực trạng pháp luật về bảo vệ đối tượng chuyển giao trong quan hệ nhượng quyền thương mại

Trong pháp luật Việt Nam hiện hành về hoạt động nhượng quyền, không đề cập trực tiếp mà chỉ gián tiếp nhắc tới đối tượng mà bên nhượng chuyển giao cho bên nhận thông qua khái niệm hoạt động nhượng quyền thương mại. Theo đó, đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại đã được mô tả bằng phương pháp liệt kê bao gồm các yếu tố sở hữu trí tuệ và các yếu tố khác để cấu thành nên mô hình kinh doanh thành công của bên nhượng quyền. Như vậy, cách thức xác định đối tượng của hợp đồng nhượng quyền được quy định trong Luật Thương mại năm 2005 cũng bộc lộ một số hạn chế, đó là: (i) Chưa mô tả được đầy đủ các yếu tố cấu thành nên đối tượng chuyển giao giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền; (ii) Chưa thể hiện được mối quan hệ khăng khít, nhuần nhuyễn giữa các yếu tố cấu thành nên đối tượng của hợp đồng nhượng quyền trong một chỉnh thể thống nhất.

Từ những bất cập trong pháp luật Việt Nam hiện hành về vấn đề nhận diện đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại đã dẫn đến những hạn chế trong quá trình thiết lập cơ chế bảo vệ đối tượng này trong quá trình vận hành hệ thống nhượng quyền. Điểm mấu chốt ở đây là, giữa Luật Thương mại và Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành chưa thực sự đồng bộ trong việc định danh và bảo vệ quyền thương mại trong quan hệ nhượng quyền. Điều này đã dẫn đến tình trạng pháp luật về bảo vệ đối tượng của hợp đồng nhượng quyền trong Luật Sở hữu trí tuệ hiện nay vừa “yếu” lại vừa “thiếu”, thể hiện ở hai khía cạnh: (i) Trong nội dung của quyền thương mại, tồn tại những yếu tố sở hữu trí tuệ được liệt kê trong Luật Thương mại năm 2005, đồng thời được bảo vệ bởi quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019) nhưng cơ chế bảo hộ chưa thực sự hiệu quả; (ii) Trong gói quyền thương mại mà các bên chuyển nhượng cho nhau khi thực hiện hoạt động nhượng quyền xuất hiện những đối tượng mà Luật Thương mại năm 2005 chưa ghi nhận và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019) cũng không bảo hộ.

2.1. Vấn đề bảo vệ các yếu tố sở hữu trí tuệ được ghi nhận trong Luật Thương mại năm 2005 và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019)

Trong nội dung quyền thương mại mà các bên nhượng và bên nhận quyền chuyển giao cho nhau, có những yếu tố cấu thành mang tính truyền thống, nghĩa là hầu hết trong mọi hệ thống nhượng quyền, các yếu tố này đều xuất hiện trong tập hợp các yếu tố tạo nên sự thành công của thương hiệu nhượng quyền. Bản thân những yếu tố này hiện nay được liệt kê trong Luật Thương mại năm 2005 như là một bộ phận của “quyền thương mại” và được Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019) bảo vệ như một tài sản trí tuệ độc lập hoàn toàn với quan hệ nhượng quyền. Những yếu tố này bao gồm: Tên thương mại và nhãn hiệu đã được liệt kê trong Điều 284 Luật Thương mại năm 2005 như sau: “Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền”. Thực trạng pháp luật về vấn đề bảo vệ tên thương mại và nhãn hiệu đặt trong mối quan hệ nhượng quyền cụ thể như sau:

Một là, tên thương mại là yếu tố có vai trò quan trọng cấu thành nên quyền thương mại trong quan hệ nhượng quyền. Đây là một trong các dấu hiệu giúp cho khách hàng có thể nhận diện các hệ thống nhượng quyền trên thị trường. Chức năng phân biệt này của tên thương mại cũng đã được ghi nhận trong định nghĩa về đối tượng này theo Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành: Là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh[1]. Quan trọng hơn, đằng sau tên thương mại tưởng chừng đơn thuần đó là toàn bộ uy tín, giá trị và vị thế của thương nhân sáng tạo ra hệ thống nhượng quyền. Chính vì vậy, tên thương mại luôn hiện diện trong đối tượng của hợp đồng nhượng quyền và là một trong các yếu tố mà bên nhượng và bên nhận có nhu cầu chuyển giao quyền sử dụng cho nhau và cùng kinh doanh dưới một tên thương mại chung để đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống. Tuy nhiên, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019) và các văn bản hướng dẫn thi hành điều chỉnh vấn đề chuyển nhượng và chuyển giao quyền sử dụng tên thương mại còn rất hạn chế. Cụ thể, đối với vấn đề chuyển nhượng quyền thương mại thì khoản 3 Điều 139 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019) có đưa ra điều kiện để chuyển nhượng là: “Quyền đối với tên thương mại chỉ được chuyển nhượng cùng với việc chuyển nhượng toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó”. Nếu theo quy định này, khi một chủ thể kinh doanh chuyển nhượng tên thương mại cũng đồng nghĩa với việc chủ thể đó sẽ phải chấm dứt hoạt động và toàn bộ cơ sở kinh doanh được chuyển sang cho bên nhận chuyển nhượng. Như vậy, nhu cầu chuyển giao tên thương mại của các thương nhân trong hệ thống nhượng quyền sẽ không thể thực hiện được, bởi lẽ, sau khi chuyển nhượng tên thương mại, các thương nhân nhượng quyền sẽ tiếp tục cùng nhau kinh doanh dưới một tên thương mại chung nhưng với tư cách pháp lý và tài chính hoàn toàn độc lập. Chưa dừng lại ở đó, vấn đề chuyển giao quyền sử dụng tên thương mại giữa các thương nhân nói chung cũng như thương nhân nhượng quyền nói riêng theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành cũng trở thành một hạn chế làm triệt tiêu nhu cầu chuyển giao tên thương mại của thương nhân nhượng quyền khi “quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý, tên thương mại không được chuyển giao”[2]. Mặc dù những hạn chế này là nhằm tránh gây ra sự nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh đối với người tiêu dùng trên thị trường nhưng đặt trong mối quan hệ nhượng quyền thương mại, nó lại trở thành rào cản đối với các thương nhân trong việc chuyển giao quyền thương mại để xây dựng một hệ thống kinh doanh mang tính đồng bộ và thống nhất.

Từ những phân tích trên đây có thể thấy, trong mối quan hệ với Luật Thương mại năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019) với tư cách là một trong những luật bổ trợ lại chưa thực sự phát huy được vị trí, vai trò hỗ trợ của mình. Không những thế, các quy định mang tính cấm và hạn chế quyền chuyển giao và quyền chuyển nhượng đối với tên thương mại còn đặt các thương nhân nhượng quyền trước nguy cơ vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ hiện hành.

Hai là, trong các yếu tố thuộc “quyền thương mại” mà các bên chuyển giao cho nhau, nhãn hiệu là đối tượng sở hữu công nghiệp mang tính phổ biến nhất. Hầu hết, trong các giao dịch nhượng quyền, các bên đều thỏa thuận chuyển giao cho nhau quyền sử dụng nhãn hiệu của sản phẩm mà hệ thống nhượng quyền phân phối. Sở dĩ, có hiện tượng này là bởi vì một trong các yêu cầu đặt ra với sản phẩm nhượng quyền là phải đạt một sự đồng nhất về chất lượng, giá cả, hình thức của sản phẩm đến một giới hạn mà tại giới hạn đó khách hàng không thể phân biệt được sản phẩm của hệ thống nhượng quyền này được cung cấp bởi các thương nhân hoàn toàn độc lập với nhau về tài chính cũng như tư cách pháp lý. Trong khi đó, vai trò của nhãn hiệu là để phân biệt, đặc định hàng hóa, dịch vụ của các thương nhân với nhau. Do đó, việc các thương nhân trong một hệ thống nhượng quyền phải cùng kinh doanh dưới một nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ là vô cùng cần thiết để đảm bảo điều kiện mang tính bản chất của quan hệ nhượng quyền. Không giống tên thương mại, việc bảo hộ quyền sở hữu đối với nhãn hiệu không theo cơ chế tự động mà phải thực hiện thủ tục đăng ký theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019) và các văn bản hướng dẫn thi hành. Như vậy, việc một nhãn hiệu có được bảo hộ hay không phụ thuộc vào việc chủ thể sở hữu nó có nhu cầu được pháp luật bảo hộ hay không. Tất nhiên, không phải dấu hiệu bất kỳ đều được pháp luật bảo hộ mà phải phụ thuộc vào việc dấu hiệu đó có đáp ứng được các điều kiện bảo hộ hay không. Cụ thể, các điều kiện đó là: “Dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc”[3]. Những điều kiện này là chưa thực sự hợp lý. Sự bất hợp lý này sẽ là một hạn chế đối với nhu cầu bảo hộ rộng lớn của các thương nhân. Bởi lẽ, quy định này vô hình trung đã loại bỏ mùi vị và âm thanh cũng như những dấu hiệu mang tính độc đáo ra khỏi phạm vi các dấu hiệu được bảo hộ dưới danh nghĩa một nhãn hiệu vì những dấu hiệu này mặc dù có chức năng phân biệt nhưng lại “không thể nhìn thấy được”. Đặc biệt, trong mối quan hệ nhượng quyền, khi mà sự thành công của cả hệ thống được tạo dựng từ sự độc đáo trong mô hình kinh doanh của thương nhân nhượng quyền thì việc thương nhân nhượng quyền sử dụng các dấu hiệu có hàm lượng sáng tạo cao như âm thanh, mùi vị để tạo nên quyền thương mại là một điều tất yếu. Trong trường hợp này, để có thể ghi dấu ấn trong tâm trí người tiêu dùng về quá trình cung ứng sản phẩm của mình, các thương nhân nhượng quyền sẽ có nhu cầu đăng ký và sử dụng những dấu hiệu đặc biệt trên với danh nghĩa một nhãn hiệu. Nhu cầu chính đáng này của thương nhân nhượng quyền sẽ không thể được đáp ứng bởi các quy định bảo hộ mang tính giới hạn của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành. Hậu quả là, cả hệ thống nhượng quyền sẽ phải đối mặt với nguy cơ bị sao chép ý tưởng một cách tràn lan vì không có cơ chế để được bảo vệ. Do đó, trong mối tương quan với pháp luật thương mại dưới góc độ hoạt động nhượng quyền, pháp luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam không những chưa phát huy được vai trò hỗ trợ cho sự vận hành của pháp luật thương mại mà còn tạo ra những cản trở nhất định đối với quá trình các quy định của pháp luật thương mại đi vào thực tế đời sống.

2.2. Một số yếu tố sở hữu trí tuệ được chuyển giao trong quan hệ nhượng quyền nhưng chưa được pháp luật ghi nhận và bảo hộ

Trong nội dung quyền thương mại các bên chuyển nhượng cho nhau trên thực tế có những đối tượng không được Luật Thương mại năm 2005 liệt kê tại Điều 284 như là một bộ phận của “quyền thương mại” và đồng thời không được Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019) bảo hộ với danh nghĩa là một tài sản trí tuệ. Những yếu tố có thể kể đến đó là: Những yếu tố mang tính sáng tạo ở trình độ cao như cách thiết kế bài trí cửa hàng, cung cách phục vụ, cách thức trải nghiệm sản phẩm hay chỉ đơn thuần là đồng phục của nhân viên hoặc đơn giản nhất là cách thức đặt một tấm lót dưới mỗi bát phở khi phục vụ khách hàng mà hệ thống “Phở 24” đã từng sử dụng. Vì không được ghi nhận và bảo hộ bằng các quy định của pháp luật hiện hành nên sự sáng tạo này của hệ thống nhượng quyền “Phở 24” đã bị sao chép bởi thương hiệu “Phở 5 sao” mà không có cơ chế để xử lý. Vụ tranh chấp giữa hai thương hiệu phở của Việt Nam vào năm 2007 là một minh chứng rõ nét cho thấy trực trạng pháp luật về bảo vệ quyền thương mại trong quan hệ nhượng quyền còn nhiều bất cập.

3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo vệ đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại

Thứ nhất, trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019) cần bổ sung những quy định về một số trường hợp ngoại lệ hợp lý dành riêng cho việc khai thác, sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ với tư cách là bộ phận của quyền thương mại trong quan hệ nhượng quyền. Cụ thể, đối với những quy định về điều kiện chuyển nhượng tên thương mại hoặc quy định về cấm hoạt động chuyển giao quyền sử dụng tên thương mại trong Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019) cần bổ sung thêm cụm từ “trừ trường hợp đối với hoạt động nhượng quyền thương mại”. Như vậy, sẽ tránh được tình trạng để thực hiện hoạt động chuyển giao quyền thương mại trong một số trường hợp thương nhân nhượng quyền phải chấp nhận thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Thứ hai, cần sửa đổi quy định về một trong các điều kiện để dấu hiệu được bảo hộ dưới danh nghĩa một nhãn hiệu là phải đảm bảo “nhìn thấy được” và phải tồn tại dưới dạng “chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc” tại Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019). Bởi lẽ, nếu để nguyên quy định như Điều 72 thì phạm vi các dấu hiệu được bảo hộ dưới danh nghĩa một nhãn hiệu sẽ rất hẹp trong khi sự sáng tạo của thương nhân nhượng quyền về vấn đề này là không giới hạn. Vì vậy, quy định tại Điều 72 nên sửa đổi theo hướng bỏ yêu cầu phải là dấu hiệu “nhìn thấy được”, đồng thời cũng không nên liệt kê các dạng tồn tại của nó. Điều này sẽ giúp mở rộng được tối đa phạm vi các dấu hiệu được bảo hộ với danh nghĩa một nhãn hiệu, kích thích sự tự do sáng tạo của thương nhân nhượng quyền, đồng thời phù hợp với quy định của các điều ước quốc tế, đặc biệt là Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs).

Thứ ba, để khắc phục tình trạng trong một số trường hợp các thương nhân nhượng quyền không có cơ chế để bảo vệ những yếu tố cấu thành nên quyền thương mại như: Bí quyết kinh doanh, cách thức bài trí cửa hàng, cách thức thiết kế không gian cửa hàng, cung cách phục vụ, cách thức trải nghiệm sản phẩm... có thể lựa chọn một trong hai phương thức sau:

Phương thức thứ nhất, bổ sung các đối tượng đã đề cập trên đây vào đối tượng bảo hộ của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019) và xây dựng các quy định cụ thể để bảo hộ các đối tượng này. Tuy nhiên, cách làm này không thực sự mang lại hiệu quả và giải quyết được những bất cập một cách triệt để. Bởi lẽ, các yếu tố cần được bảo hộ là kết quả của sự sáng tạo và sự sáng tạo của con người nói chung cũng như thương nhân nói riêng là vô cùng phong phú và đa dạng. Do vậy, nếu lựa chọn phương thức này sẽ dẫn đến hậu quả là có thể phải liên tục sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ nhằm phù hợp với sự phát triển của các yếu tố cấu thành nên quyền thương mại trong quan hệ nhượng quyền.

Phương thức thứ hai, bảo hộ quyền thương mại trong quan hệ nhượng quyền với tư cách là cả một gói quyền. Bằng cách bổ sung “quyền thương mại” vào Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành như một đối tượng điều chỉnh của văn bản này. Tất nhiên để được bảo hộ đối với “gói quyền thương mại” của mình, thương nhân nhượng quyền phải làm thủ tục đăng ký bảo hộ với cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ. Việc áp dụng phương thức này sẽ tạo ra cơ chế để Luật Sở hữu trí tuệ điều chỉnh đối tượng quyền thương mại như một đặc thù riêng trong quan hệ nhượng quyền. Từ đó, giúp cho thương nhân nhượng quyền có thể bảo vệ đối tượng đã được chuyển giao cho các thương nhân nhận quyền một cơ chế bảo vệ thật sự hữu hiệu.

Đỗ Phương Thảo

Đại học Thương mại Hà Nội

[1]. Khoản 21 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019).

[2]. Khoản 1 điều 142 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019).

[3]. Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, năm 2019).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.

Theo dõi chúng tôi trên: