Chủ nhật 01/03/2026 12:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam[1]

Bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam[1]

Tóm tắt: Bài viết tập trung vào một số vấn đề lý luận, thực trạng bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ tại Tòa án, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự.

Abstract: The article focuses on a number of theoretical issues, the current status of protecting women's equal rights at the Court, thereby proposing solutions to protect women's equal rights in civil proceedings.

1. Vấn đề lý luận về bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

Bình đẳng, quyền bình đẳng là những thuật ngữ khá quen thuộc, được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực pháp luật. Tuy nhiên, đến nay, chưa có một định nghĩa chính xác, toàn diện về khái niệm “quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự” được ghi nhận trong pháp luật tố tụng dân sự. Dưới góc độ xã hội, “quyền bình đẳng” không chỉ được hiểu với ý nghĩa là một thuật ngữ xã hội mà còn phải hiểu với ý nghĩa là một thuật ngữ pháp lý, thể hiện việc pháp luật hóa một quyền tự nhiên của con người, theo đó, con người có cơ hội ngang nhau trong việc được hưởng quyền, lợi ích và khi tham gia tố tụng dân sự họ có quyền, nghĩa vụ ngang nhau, có vị thế bằng nhau, thậm chí còn có quyền được Tòa án bảo vệ như nhau. Dưới góc độ pháp lý, quyền bình đẳng được ghi nhận tại Điều 16 Hiến pháp năm 2013: “1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. 2. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”. Cụ thể hóa quyền bình đẳng, pháp luật tố tụng dân sự hiện nay đã khẳng định quyền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của phụ nữ bằng một nguyên tắc tại Điều 8 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án”.

Về bản chất, quyền bình đẳng của phụ nữ được ghi nhận trong pháp luật tố tụng dân sự có nguồn gốc từ quyền bình đẳng trước pháp luật của con người, nên trên cơ sở đó quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự trước hết phải được hiểu là một trong những quyền tố tụng rất quan trọng, thể hiện tính đặc thù quyền của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự. Quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự không chỉ là việc pháp luật tố tụng dân sự quy định Tòa án không được phân biệt đối xử giữa các đương sự mà còn là những quy định về trách nhiệm của Tòa án trong việc tạo cơ hội như nhau cho các đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng, không phân biệt đối xử mà bảo vệ công bằng quyền, lợi ích hợp pháp của các bên.

Như vậy, dưới góc độ pháp luật thì: Quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự là tổng thể những quy định của pháp luật tố tụng dân sự ghi nhận về một trong những quyền tố tụng đặc trưng của những người có quyền, lợi ích trong vụ, việc dân sự. Theo đó, họ có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm ngang nhau, có địa vị pháp lý như nhau và đều được Tòa án bảo vệ như nhau về quyền và lợi ích hợp pháp trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự.

Về khái niệm “tố tụng dân sự”, trong nghiên cứu khoa học luật tố tụng dân sự đã có nhiều cách giải thích khác nhau về thuật ngữ “tố tụng dân sự”. Mỗi cách hiểu tuy có những điểm khác nhau nhưng đều có một điểm chung giống nhau là: Nói đến tố tụng dân sự là nói đến trình tự tố tụng hay còn gọi là quy trình tố tụng giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp về dân sự, thể hiện qua hai phương diện là pháp luật tố tụng dân sự và hoạt động tố tụng dân sự bởi vì pháp luật tố tụng dân sự và hoạt động tố tụng dân sự là hai mặt không thể tách rời của một hệ thống thống nhất đó là quy trình tố tụng dân sự. Cũng như các tố tụng khác, tố tụng dân sự là quy trình giải quyết vụ việc phát sinh tại Tòa án nhân dân nhưng khác là tố tụng dân sự có đối tượng giải quyết là các vụ việc dân sự, mục đích hướng tới chỉ là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp về dân sự của đương sự trong vụ việc dân sự.

2. Thực trạng bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự

Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay về bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự chủ yếu được thể hiện qua Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, từ các quy định về thủ tục sơ thẩm, thủ tục phúc thẩm đến thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự… Xác định một cách khái quát nhất thì bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thể hiện qua các nội dung cơ bản sau:

2.1. Quyền bình đẳng của phụ nữ trong quá trình tố tụng dân sự

Để bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ thì trước hết pháp luật phải ghi nhận đầy đủ, toàn diện các đương sự có vị thế pháp lý như nhau, có quyền và nghĩa vụ tố tụng ngang nhau. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã thể hiện tương đối rõ điều này, bao gồm: (i) Các đương sự có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc tiếp cận Tòa án, yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; (ii) Các đương sự trong tố tụng dân sự có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình trước Tòa án; (iii) Các đương sự có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc tranh tụng tại phiên tòa; (iv) Các đương sự có quyền bình đẳng với nhau trong việc thỏa thuận về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

2.2. Trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong quá trình tố tụng

Bên cạnh việc ghi nhận các đương sự ngang bằng nhau về quyền, nghĩa vụ, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 còn có các quy định bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự từ phía Tòa án. Cụ thể là: (i) Tòa án phải có trách nhiệm bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong việc tiếp cận Tòa án, yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp; (ii) Tòa án phải có trách nhiệm bảo đảm cho phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh; (iii) Tòa án có trách nhiệm bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong việc tham gia phiên tòa, thực hiện tranh tụng tại phiên tòa; (iv) Tòa án phải bảo đảm cho phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng thỏa thuận về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

Như vậy, bên cạnh các quy định ghi nhận đương sự có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trước Tòa án, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 còn có những quy định khá cụ thể về trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm cho đương sự được ngang nhau khi thực hiện quyền và nghĩa vụ.

2.3. Vai trò của Viện kiểm sát trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ

Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, qua đó, giám sát quyền bình đẳng của phụ nữ trong việc tham gia phiên tòa, tranh tụng tại phiên tòa cũng như giám sát Tòa án trong việc bảo đảm cho phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng tham gia phiên tòa, tranh tụng tại phiên tòa qua một số điều luật cụ thể của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do pháp luật quy định. Tiếp đến Điều 232 quy định về sự có mặt của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm, Điều 249 quy định về thủ tục Viện kiểm sát hỏi tại phiên tòa, Điều 262 quy định về thủ tục phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm…

Như vậy, có thể thấy bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự được thể hiện qua các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về vai trò giám sát của Viện kiểm sát đối với việc thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ và giám sát trách nhiệm bảo đảm cho phụ nữ thực hiện được quyền bình đẳng của Tòa án. Các quy định này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ và cùng với các chủ thể khác, Viện kiểm sát đã góp phần không nhỏ vào việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự trên thực tế.

2.4. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ

Để hỗ trợ phụ nữ thực hiện hiệu quả quyền bình đẳng trong việc tiếp cận Tòa án, đưa ra yêu cầu tại Tòa án, Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã khẳng định: Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác. Cụ thể hóa cho nguyên tắc này, một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm đã khẳng định trong những trường hợp do pháp luật quy định thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm hỗ trợ cho đương sự thực hiện quyền bình đẳng trong việc tiếp cận Tòa án, yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp. Ví dụ, Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

Như vậy, bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự được thể hiện qua các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về các đương sự có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trước Tòa án; vai trò, trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền bình đẳng; vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc giám sát các chủ thể thực hiện và bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự và trách nhiệm hỗ trợ đương sự thực hiện quyền bình đẳng của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

3. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự là phụ nữ trong tố tụng dân sự

Một là, sửa đổi, bổ sung một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự để rõ hơn quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự.

Sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để khẳng định rõ hơn quyền bình đẳng của đương sự là phụ nữ trong tố tụng dân sự. Bổ sung điều luật quy định về quyền, nghĩa vụ của đương sự trong việc dân sự để đương sự trong việc dân sự bình đẳng với đương sự trong vụ án dân sự. Bổ sung quyền đưa ra yêu cầu của bị đơn tại Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để bảo đảm hơn nữa quyền bình đẳng giữa bị đơn với các đương sự khác. Bổ sung nội dung Điều 112 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để nâng cao trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm quyền bình đẳng giữa các đương sự khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Bổ sung quy định tại Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về thời hạn Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự để nâng cao trách nhiệm của Tòa án phải tiếp tục giải quyết vụ án.

Hai là, sửa đổi, bổ sung quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự trong tố tụng dân sự.

Bên cạnh chức năng kiểm sát của Viện kiểm sát tại phiên tòa xét xử, cần tăng cường sự kiểm sát của Viện kiểm sát trong giai đoạn chuẩn bị xét xử là giải pháp phù hợp để bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự trong tố tụng dân sự. Khoản 2 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định rõ Tòa án có thể thu thập chứng cứ bằng các biện pháp cụ thể nhưng chưa có quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ mà Viện kiểm sát được tiến hành. Viện kiểm sát cũng là một cơ quan tiến hành tố tụng dân sự như Tòa án nên sẽ là phù hợp nếu Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 bổ sung quy định: “Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát thu thập tài liệu, chứng cứ bằng các biện pháp được quy định tại khoản 2 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015”.

Ba là, sửa đổi, bổ sung quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trách nhiệm của cơ quan tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự trong tố tụng dân sự.

Bổ sung nội dung của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, đồng thời, nghiên cứu bổ sung quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải có trách nhiệm phối hợp với Tòa án ban hành bộ tập quán dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án trong trường hợp chưa có luật áp dụng.

NCS. Nguyễn Thanh Hiền & ThS. Nguyễn Thị Huyền Trang

Khoa Luật, Học viện Phụ nữ Việt Nam

[1]. Bài viết dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học của nhóm tác giả với đề tài “Bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” năm 2022.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: