Thứ bảy 08/08/2026 01:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam[1]

Bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam[1]

Tóm tắt: Bài viết tập trung vào một số vấn đề lý luận, thực trạng bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ tại Tòa án, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự.

Abstract: The article focuses on a number of theoretical issues, the current status of protecting women's equal rights at the Court, thereby proposing solutions to protect women's equal rights in civil proceedings.

1. Vấn đề lý luận về bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

Bình đẳng, quyền bình đẳng là những thuật ngữ khá quen thuộc, được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực pháp luật. Tuy nhiên, đến nay, chưa có một định nghĩa chính xác, toàn diện về khái niệm “quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự” được ghi nhận trong pháp luật tố tụng dân sự. Dưới góc độ xã hội, “quyền bình đẳng” không chỉ được hiểu với ý nghĩa là một thuật ngữ xã hội mà còn phải hiểu với ý nghĩa là một thuật ngữ pháp lý, thể hiện việc pháp luật hóa một quyền tự nhiên của con người, theo đó, con người có cơ hội ngang nhau trong việc được hưởng quyền, lợi ích và khi tham gia tố tụng dân sự họ có quyền, nghĩa vụ ngang nhau, có vị thế bằng nhau, thậm chí còn có quyền được Tòa án bảo vệ như nhau. Dưới góc độ pháp lý, quyền bình đẳng được ghi nhận tại Điều 16 Hiến pháp năm 2013: “1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. 2. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”. Cụ thể hóa quyền bình đẳng, pháp luật tố tụng dân sự hiện nay đã khẳng định quyền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của phụ nữ bằng một nguyên tắc tại Điều 8 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án”.

Về bản chất, quyền bình đẳng của phụ nữ được ghi nhận trong pháp luật tố tụng dân sự có nguồn gốc từ quyền bình đẳng trước pháp luật của con người, nên trên cơ sở đó quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự trước hết phải được hiểu là một trong những quyền tố tụng rất quan trọng, thể hiện tính đặc thù quyền của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự. Quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự không chỉ là việc pháp luật tố tụng dân sự quy định Tòa án không được phân biệt đối xử giữa các đương sự mà còn là những quy định về trách nhiệm của Tòa án trong việc tạo cơ hội như nhau cho các đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng, không phân biệt đối xử mà bảo vệ công bằng quyền, lợi ích hợp pháp của các bên.

Như vậy, dưới góc độ pháp luật thì: Quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự là tổng thể những quy định của pháp luật tố tụng dân sự ghi nhận về một trong những quyền tố tụng đặc trưng của những người có quyền, lợi ích trong vụ, việc dân sự. Theo đó, họ có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm ngang nhau, có địa vị pháp lý như nhau và đều được Tòa án bảo vệ như nhau về quyền và lợi ích hợp pháp trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự.

Về khái niệm “tố tụng dân sự”, trong nghiên cứu khoa học luật tố tụng dân sự đã có nhiều cách giải thích khác nhau về thuật ngữ “tố tụng dân sự”. Mỗi cách hiểu tuy có những điểm khác nhau nhưng đều có một điểm chung giống nhau là: Nói đến tố tụng dân sự là nói đến trình tự tố tụng hay còn gọi là quy trình tố tụng giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp về dân sự, thể hiện qua hai phương diện là pháp luật tố tụng dân sự và hoạt động tố tụng dân sự bởi vì pháp luật tố tụng dân sự và hoạt động tố tụng dân sự là hai mặt không thể tách rời của một hệ thống thống nhất đó là quy trình tố tụng dân sự. Cũng như các tố tụng khác, tố tụng dân sự là quy trình giải quyết vụ việc phát sinh tại Tòa án nhân dân nhưng khác là tố tụng dân sự có đối tượng giải quyết là các vụ việc dân sự, mục đích hướng tới chỉ là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp về dân sự của đương sự trong vụ việc dân sự.

2. Thực trạng bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự

Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay về bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự chủ yếu được thể hiện qua Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, từ các quy định về thủ tục sơ thẩm, thủ tục phúc thẩm đến thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự… Xác định một cách khái quát nhất thì bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thể hiện qua các nội dung cơ bản sau:

2.1. Quyền bình đẳng của phụ nữ trong quá trình tố tụng dân sự

Để bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ thì trước hết pháp luật phải ghi nhận đầy đủ, toàn diện các đương sự có vị thế pháp lý như nhau, có quyền và nghĩa vụ tố tụng ngang nhau. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã thể hiện tương đối rõ điều này, bao gồm: (i) Các đương sự có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc tiếp cận Tòa án, yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; (ii) Các đương sự trong tố tụng dân sự có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình trước Tòa án; (iii) Các đương sự có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc tranh tụng tại phiên tòa; (iv) Các đương sự có quyền bình đẳng với nhau trong việc thỏa thuận về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

2.2. Trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong quá trình tố tụng

Bên cạnh việc ghi nhận các đương sự ngang bằng nhau về quyền, nghĩa vụ, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 còn có các quy định bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự từ phía Tòa án. Cụ thể là: (i) Tòa án phải có trách nhiệm bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ trong việc tiếp cận Tòa án, yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp; (ii) Tòa án phải có trách nhiệm bảo đảm cho phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng trong việc cung cấp chứng cứ, chứng minh; (iii) Tòa án có trách nhiệm bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong việc tham gia phiên tòa, thực hiện tranh tụng tại phiên tòa; (iv) Tòa án phải bảo đảm cho phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng thỏa thuận về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

Như vậy, bên cạnh các quy định ghi nhận đương sự có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trước Tòa án, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 còn có những quy định khá cụ thể về trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm cho đương sự được ngang nhau khi thực hiện quyền và nghĩa vụ.

2.3. Vai trò của Viện kiểm sát trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ

Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, qua đó, giám sát quyền bình đẳng của phụ nữ trong việc tham gia phiên tòa, tranh tụng tại phiên tòa cũng như giám sát Tòa án trong việc bảo đảm cho phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng tham gia phiên tòa, tranh tụng tại phiên tòa qua một số điều luật cụ thể của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do pháp luật quy định. Tiếp đến Điều 232 quy định về sự có mặt của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm, Điều 249 quy định về thủ tục Viện kiểm sát hỏi tại phiên tòa, Điều 262 quy định về thủ tục phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm…

Như vậy, có thể thấy bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự được thể hiện qua các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về vai trò giám sát của Viện kiểm sát đối với việc thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ và giám sát trách nhiệm bảo đảm cho phụ nữ thực hiện được quyền bình đẳng của Tòa án. Các quy định này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ và cùng với các chủ thể khác, Viện kiểm sát đã góp phần không nhỏ vào việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự trên thực tế.

2.4. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ

Để hỗ trợ phụ nữ thực hiện hiệu quả quyền bình đẳng trong việc tiếp cận Tòa án, đưa ra yêu cầu tại Tòa án, Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã khẳng định: Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác. Cụ thể hóa cho nguyên tắc này, một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm đã khẳng định trong những trường hợp do pháp luật quy định thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm hỗ trợ cho đương sự thực hiện quyền bình đẳng trong việc tiếp cận Tòa án, yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp. Ví dụ, Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

Như vậy, bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự được thể hiện qua các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về các đương sự có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trước Tòa án; vai trò, trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền bình đẳng; vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc giám sát các chủ thể thực hiện và bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự và trách nhiệm hỗ trợ đương sự thực hiện quyền bình đẳng của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

3. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự là phụ nữ trong tố tụng dân sự

Một là, sửa đổi, bổ sung một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự để rõ hơn quyền bình đẳng của phụ nữ trong tố tụng dân sự.

Sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để khẳng định rõ hơn quyền bình đẳng của đương sự là phụ nữ trong tố tụng dân sự. Bổ sung điều luật quy định về quyền, nghĩa vụ của đương sự trong việc dân sự để đương sự trong việc dân sự bình đẳng với đương sự trong vụ án dân sự. Bổ sung quyền đưa ra yêu cầu của bị đơn tại Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để bảo đảm hơn nữa quyền bình đẳng giữa bị đơn với các đương sự khác. Bổ sung nội dung Điều 112 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để nâng cao trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm quyền bình đẳng giữa các đương sự khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Bổ sung quy định tại Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về thời hạn Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự để nâng cao trách nhiệm của Tòa án phải tiếp tục giải quyết vụ án.

Hai là, sửa đổi, bổ sung quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự trong tố tụng dân sự.

Bên cạnh chức năng kiểm sát của Viện kiểm sát tại phiên tòa xét xử, cần tăng cường sự kiểm sát của Viện kiểm sát trong giai đoạn chuẩn bị xét xử là giải pháp phù hợp để bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự trong tố tụng dân sự. Khoản 2 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định rõ Tòa án có thể thu thập chứng cứ bằng các biện pháp cụ thể nhưng chưa có quy định về các biện pháp thu thập chứng cứ mà Viện kiểm sát được tiến hành. Viện kiểm sát cũng là một cơ quan tiến hành tố tụng dân sự như Tòa án nên sẽ là phù hợp nếu Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 bổ sung quy định: “Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát thu thập tài liệu, chứng cứ bằng các biện pháp được quy định tại khoản 2 Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015”.

Ba là, sửa đổi, bổ sung quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trách nhiệm của cơ quan tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của đương sự trong tố tụng dân sự.

Bổ sung nội dung của nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, đồng thời, nghiên cứu bổ sung quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải có trách nhiệm phối hợp với Tòa án ban hành bộ tập quán dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án trong trường hợp chưa có luật áp dụng.

NCS. Nguyễn Thanh Hiền & ThS. Nguyễn Thị Huyền Trang

Khoa Luật, Học viện Phụ nữ Việt Nam

[1]. Bài viết dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học của nhóm tác giả với đề tài “Bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” năm 2022.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.
"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.

Theo dõi chúng tôi trên: