Thứ hai 27/07/2026 01:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai ở Việt Nam hiện nay

Do những đặc trưng về giới tính và thể chất nên dù chiếm hơn một nửa trong xã hội nhưng phụ nữ lại là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội. Bởi vậy, bảo vệ các quyền phụ nữ nói chung và bảo vệ quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai nói riêng theo quy định pháp luật là một nội dung cần được tiếp cận và làm rõ.

Do những đặc trưng về giới tính và thể chất nên dù chiếm hơn một nửa trong xã hội nhưng phụ nữ lại là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội. Bởi vậy, bảo vệ các quyền phụ nữ nói chung và bảo vệ quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai nói riêng theo quy định pháp luật là một nội dung cần được tiếp cận và làm rõ.

1. Pháp luật về bảo vệ quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai

Tư tưởng, quan điểm bất bình đẳng về giới xuất phát từ thực tế, do ảnh hưởng của yếu tố tôn giáo, định kiến xã hội và sinh lý, từ đó, quyền của phụ nữ thường bị xâm phạm và phụ nữ phải chịu sự phân biệt đối xử. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới. Người đã từng khẳng định: Công dân đều bình đẳng trước pháp luật; đàn bà có quyền bình đẳng với đàn ông về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình. Theo Người, “nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng”; “nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa”[1]. Tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ nhiệm vụ của cách mạng không chỉ giành lại độc lập cho dân tộc, ruộng đất cho nông dân nghèo, các sản nghiệp lớn cho công nhân, các quyền dân chủ tự do cho nhân dân, mà còn nhằm: “Thực hiện nam nữ bình quyền”. Mục tiêu này đã được Người đưa vào Chương trình của Mặt trận Việt Minh. Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần tuyên bố với thế giới và quốc dân rằng, “Phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân”[2]. Đến nay, bình đẳng giới, bảo đảm quyền và lợi ích của phụ nữ luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, được thể chế trong các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, cao nhất là Hiến pháp và trong các đạo luật chuyên ngành. Pháp luật Việt Nam luôn thể hiện sự quan tâm và bảo vệ cho quyền của người phụ nữ trong mọi lĩnh vực. Cụ thể, Hiến pháp năm 1946 quy định: Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: Chính trị, kinh tế, văn hóa (Điều thứ 6); đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện (Điều thứ 9); tất cả công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên không phân biệt gái trai, đều có quyền bầu cử (Điều thứ 18). Hiến pháp năm 2013 tiếp tục nhấn mạnh: Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới; Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội; nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới (Điều 26). Thể chế hóa Hiến pháp, Luật Bình đẳng giới năm 2006 đã xác định rõ mục tiêu bình đẳng giới là xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình (Điều 4).

Trong lĩnh vực đất đai, Nhà nước hướng đến bảo vệ quyền của phụ nữ trong việc tiếp cận đất đai hợp pháp và bảo đảm quyền bình đẳng trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai và được ghi nhận trong Hiến pháp, Luật Đất đai, Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật Tố tụng dân sự… Cụ thể:

Thứ nhất, quyền được tiếp cận đất đai hợp pháp:

Quyền tiếp cận đất đai là quyền mà pháp luật quy định cho các chủ thể trở thành người sử dụng đất và có quyền sử dụng đất (quyền sử dụng đất) một cách hợp pháp. Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Đất đai năm 2013, cá nhân là một trong những người sử dụng đất hợp pháp và phụ nữ cũng có tư cách pháp lý độc lập tham gia vào quan hệ đất đai nếu họ đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào. Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 (Điều 5, Điều 54, Điều 55, Điều 56), phụ nữ có quyền tiếp cận đất đai bình đẳng với nam giới theo 02 hướng:

(i) Tiếp cận đất đai từ Nhà nước thông qua việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất theo hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất.

(ii) Tiếp cận đất đai từ người sử dụng đất khác đã có quyền sử dụng đất hợp pháp thông qua các giao dịch: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, góp vốn, thừa kế, thế chấp.

Thứ hai, quyền bình đẳng trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của phụ nữ khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai:

Luật Đất đai năm 2013 cũng như Bộ luật Dân sự năm 2015 không có quy định nào phân biệt và hạn chế quyền của người phụ nữ trong lĩnh vực đất đai, do đó, phụ nữ có quyền sử dụng đất hợp pháp sẽ được hưởng các quyền chung mà Nhà nước quy định cho người sử dụng đất[3], như: Quyền được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (gọi tắt là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất); hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất; hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước phục vụ việc bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp; được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp; được Nhà nước bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và bảo đảm các quyền khác trên cơ sở quyền công dân như quyền khiếu nại, quyền tố cáo, quyền khởi kiện về những hành vi xâm phạm tới quyền sử dụng đất của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật đất đai.

Ngoài các quyền chung của người sử dụng đất, phụ nữ với vai trò là người sử dụng đất không phải đất thuê, trả tiền thuê đất hàng năm được pháp luật cho phép thực hiện một số quyền khác, đó là quyền chuyển quyền sử dụng đất được thực hiện dưới hình thức các giao dịch dân sự về quyền sử dụng đất như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp và góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 Điều 167 và khoản 1 Điều 179 Luật Đất đai năm 2013.

Bên cạnh đó, người phụ nữ với tư cách là người sử dụng đất, cũng phải thực hiện các nghĩa vụ trước Nhà nước[4] như những người sử dụng đất khác như: Phải sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới, đúng quy định về sử dụng độ sâu trong lòng đất, chiều cao trên không, bảo vệ các công trình công cộng trong lòng đất; thực hiện kê khai đăng ký đất đai và thực hiện đầy đủ các thủ tục khi chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính trong quá trình sử dụng đất; thực hiện các biện pháp bảo vệ đất, bảo vệ môi trường; giao lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất, khi hết thời hạn sử dụng đất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền gia hạn sử dụng.

Thứ ba, bảo vệ quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai bằng hoạt động xét xử của Tòa án:

Trong các cơ quan thực hiện bảo vệ quyền con người nói chung, bảo vệ quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai nói riêng thì Tòa án giữ vị trí và vai trò quan trọng. Tòa án là cơ quan xét xử, nhân danh Nhà nước thực hiện quyền tư pháp. Khi quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai bị xâm phạm, quy trình bảo vệ họ có thể thông qua hoạt động tố tụng hình sự hoặc hoạt động tố tụng dân sự trong các vụ án tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình… Dù là quy trình bảo vệ nào, bằng con đường tố tụng nào thì điểm cuối cùng của cơ chế bảo vệ quyền của phụ nữ vẫn là hoạt động tố tụng của Tòa án nhằm ra bản án, quyết định đối với hành vi vi phạm. Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng và thực hiện.

2. Thực trạng bảo vệ quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai

Có thể thấy, về cơ bản, các quy định của pháp luật hiện hành đã bảo vệ được quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai. Tuy nhiên, trong thực tiễn thực hiện còn nhiều bất cập, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền của phụ nữ. Cụ thể:

2.1. Thực trạng thực hiện quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng

Khi quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng, để bảo vệ quyền tài sản của phụ nữ, tại khoản 4 Điều 98 Luật Đất đai năm 2013 quy định: Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người; trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng mà giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi họ, tên của vợ hoặc chồng thì được cấp đổi sang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng nếu có yêu cầu. Trên cơ sở đó, Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng thể hiện việc bảo vệ quyền của người phụ nữ về tải sản là quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân thông qua quy định: Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác; trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật. Nhằm bảo vệ quyền của phụ nữ, từng bước tạo điều kiện để người phụ nữ được chủ động tham gia các hoạt động về kinh tế, góp phần xóa đói, giảm nghèo, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có Công văn số 3362/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 18/6/2021 về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên cả vợ và chồng, theo đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quan tâm, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị có liên quan đẩy mạnh công tác tuyên truyền về bình đẳng giới, về quyền của người phụ nữ đối với tài sản của chung vợ và chồng, trong đó có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất giúp người dân hiểu được tầm quan trọng và nâng cao tính tự tin, thúc đẩy sự sáng tạo để nâng cao vị thế, vai trò của người phụ nữ, tạo sự bình đẳng trong xã hội; khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho việc cấp mới hoặc cấp đổi giấy chứng nhận đã chứng nhận về quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng mà giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi họ, tên của vợ hoặc chồng để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng khi người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất có nhu cầu theo quy định của pháp luật về đất đai. Các quy định trên đã giúp cho người phụ nữ có tiếng nói, vị thế hơn trong việc xây dựng và tham gia vào các hoạt động kinh tế gia đình, đặc biệt trong hoàn cảnh người phụ nữ chỉ làm công việc nội trợ, chăm sóc gia đình; đồng thời, đã làm tăng tỷ lệ giấy chứng nhận có cả tên vợ và chồng trong thời gian qua[5]. Qua đó, từng bước bảo vệ được quyền lợi của phụ nữ trong trường hợp chia tài sản là quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân hoặc khi vợ chồng ly hôn. Tuy nhiên, trên thực tế, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ, chồng nhưng chỉ có tên người chồng vẫn còn nhiều (khoảng 12 triệu giấy chứng nhận); tỷ lệ chuyển đổi giấy chứng nhận có cả tên vợ và chồng vẫn còn thấp[6].

Thực trạng trên xuất phát từ một số lý do như:

- Về quy định của pháp luật: Luật Đất đai năm 2013 quy định đăng ký đất đai là bắt buộc nhưng việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không bắt buộc. Trường hợp cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ và chồng nhưng trên giấy chỉ ghi tên người chồng pháp luật cũng không có cơ chế bắt buộc. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhiều giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa được cấp đổi mang tên cả vợ và chồng.

- Về phía người dân: Nhiều người dân chưa biết về quy định của pháp luật, chưa biết về cơ hội được chuyển và lợi ích của việc chuyển đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có ghi tên cả vợ và chồng; nhiều trường hợp coi việc ghi tên cả vợ và chồng trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là “phiền hà” về thủ tục, khó khăn khi mọi giao dịch liên quan đều cần có mặt của cả vợ và chồng hoặc không cũng phải có thủ tục ủy quyền.

- Về phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Một số địa phương hoạt động tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn người dân, đặc biệt người phụ nữ trong đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tên cả vợ và chồng đối với trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng chưa được đẩy mạnh. Điều này cũng là một rào cản trong quá trình thực hiện pháp luật trong thực tế.

2.2. Thực trạng bảo vệ quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai trong hoạt động xét xử

Thực trạng bảo vệ quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai từ hoạt động xét xử vô cùng đa dạng nhưng trong phạm vi bài viết, tác giả đánh giá trên hai vấn đề nổi bật và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền của phụ nữ, bao gồm: (i) Tranh chấp hôn nhân và gia đình có liên quan đến tài sản là quyền sử dụng đất; (ii) Tranh chấp về thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất. Về cơ bản, quá trình giải quyết các tranh chấp trên của Tòa án đã từng bước bảo vệ quyền lợi cho người phụ nữ. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử tại Tòa án vẫn còn hiện tượng chưa bảo vệ tốt các quyền của phụ nữ. Trong các vụ án hôn nhân và gia đình, các vướng mắc chủ yếu xuất phát từ việc xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung hay tài sản riêng; việc vận dụng nguyên tắc ưu tiên người phụ nữ khi giải quyết vấn đề tài sản của vợ, chồng trong trường hợp vợ, chồng ly hôn chưa phát huy tác dụng trong việc bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ; nhiều vụ án việc đánh giá công sức đóng góp vào tài sản chung của người vợ cho gia đình chưa chính xác. Bên cạnh đó, các vụ án hôn nhân và gia đình có tranh chấp về quyền sử dụng đất thường kéo dài; trong khi pháp luật cho phép vợ chồng được tự thỏa thuận về tài sản trong quá trình ly hôn cũng là nguyên nhân dẫn đến người phụ nữ chấp nhận chịu “thiệt thòi” để được “giải thoát”, chấm dứt tranh chấp. Còn trong các vụ án tranh chấp về thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất xuất phát từ những quan điểm từ thời xa xưa như trách nhiệm thờ cúng cha mẹ, lo hương hỏa cho tổ tiên thuộc về con trai; còn “con gái là con người ta” khi đã đi lấy chồng… mà phần lớn khi chia tài sản, con gái, cháu gái sẽ thiệt hòi hơn so với con trai, cháu trai; đa phần di chúc của cha mẹ để lại hết tài sản cho con trai. Cũng chính vì vậy mà các tranh chấp liên quan đến di sản thừa kế diễn ra khá phổ biến và kéo dài dẫn đến quyền lợi của người phụ nữ bị ảnh hưởng.

3. Kiến nghị

Từ những đánh giá, phân tích ở trên, để bảo vệ quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai, tác giả đưa ra một số kiến nghị sau:

Thứ nhất, pháp luật đất đai cần chỉnh sửa theo hướng, nếu quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng thì cần có cơ chế bắt buộc phải đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên vợ và chồng; trong trường hợp không đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải có văn bản thỏa thuận về việc tài sản chung nhưng chỉ ghi tên vợ hoặc chồng. Qua đó, sẽ sớm giải quyết triệt để việc đăng ký tài sản chung đứng tên cả hai vợ, chồng; đồng thời, đây sẽ là cơ sở pháp lý vững chắc để giải quyết các tranh chấp về tài sản là quyền sử dụng đất giữa các bên vợ, chồng theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bình đẳng giới nói chung, quyền của phụ nữ nói riêng trong lĩnh vực đất đai nói riêng thông qua các buổi tọa đàm, sinh hoạt, nói chuyện về bình đẳng giới trong các cơ quan, đơn vị, trong các khu dân cư..., dần dần thay đổi nhận thức của không chỉ phụ nữ mà cả nam giới trong việc thực hiện quyền của phụ nữ trong đất đai, tiến tới xóa bỏ hoàn toàn những phong tục, tập quán lạc hậu mang định kiến về phụ nữ.

Thứ ba, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bảo đảm hồ sơ quản lý đất đai, đăng ký quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải được thực hiện thường xuyên, liên tục. Đồng thời, đội ngũ cán bộ quản lý đất đai cũng cần được đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực quản lý nói chung và nhận thức về bình đẳng giới nói riêng.

Thứ tư, nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án để bảo vệ tốt hơn quyền của người phụ nữ trong lĩnh vực đất đai.

Quá trình Tòa án giải quyết các tranh chấp để bảo vệ quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai không chỉ đòi hỏi thẩm phán nắm vững các quy định của pháp luật, có kỹ năng xét xử tốt mà còn đòi hỏi sự am hiểu các vấn đề xã hội, đặc biệt các yếu tố “nhạy cảm” về giới. Chính vì lẽ đó, nâng cao trình độ xét xử, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ thẩm phán chuyên trách xét xử các vụ án đòi hỏi bảo vệ người phụ nữ trong lĩnh vực đất đai là yêu cầu cấp bách, nhất là trong công cuộc cải cách tư pháp hiện nay. Bên cạnh đó, cần có những biện pháp để lựa chọn và bồi dưỡng những hội thẩm nhân dân có điều kiện về trình độ chuyên môn và trách nhiệm tham gia xét xử, bảo vệ quyền lợi cho người phụ nữ trong lĩnh vực đất đai.

ThS. Phùng Thị Phương Thảo
Khoa Luật, Học viện Phụ nữ Việt Nam



[1]. https://ldld.quangbinh.gov.vn/3cms/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-binh-dang-gioi.htm, truy cập ngày 11/02/2022.

[2]. https://ldld.quangbinh.gov.vn/3cms/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-binh-dang-gioi.htm, truy cập ngày 11/02/2022.

[3]. Điều 166 Luật Đất đai năm 2013.

[4]. Điều 170 Luật Đất đai năm 2013.

[5]. Theo Báo cáo số 51/BC-BTNMT ngày 20/5/2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về nghiên cứu, đánh giá thực trạng việc cấp giấy chứng nhận mang tên cả vợ và chồng nhằm bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ, đến nay, tổng số giấy chứng nhận đã cấp cho hộ gia đình, cá nhân là 24,69 triệu giấy chứng nhận (hộ gia đình là 15,07 triệu giấy chứng nhận, cá nhân là 5,01 triệu giấy chứng nhận, cả vợ và chồng là 4,6 triệu giấy chứng nhận), trong đó có 15,68 triệu giấy chứng nhận có tên người phụ nữ. Như vậy, số giấy chứng nhận có tên người phụ nữ chiếm 64% trên tổng số giấy chứng nhận đã cấp cho đối tượng là hộ gia đình, vợ chồng và cá nhân, trong đó, Bắc Trung Bộ là vùng có tỷ lệ giấy chứng nhận có tên người phụ nữ cao nhất với tỷ lệ 76%, tương ứng với 4,01 triệu giấy chứng nhận, Tây Nam Bộ là vùng có tỷ lệ giấy chứng nhận có tên người phụ nữ là thấp nhất với 49%, tương ứng với 2,73 triệu giấy chứng nhận.

[6]. Báo cáo số 51/BC-BTNMT ngày 20/5/2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về nghiên cứu, đánh giá thực trạng việc cấp giấy chứng nhận mang tên cả vợ và chồng nhằm bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.

Theo dõi chúng tôi trên: