Thứ bảy 17/10/2026 12:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ quyền đối với thông tin dữ liệu của cá nhân trong môi trường mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Thông qua việc phân tích tình hình bảo vệ thông tin dữ liệu cá nhân tại Việt Nam hiện nay, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo vệ thông tin dữ liệu cá nhân trong môi trường mạng xã hội tại Việt Nam.

Tóm tắt: Thông qua việc phân tích tình hình bảo vệ thông tin dữ liệu cá nhân tại Việt Nam hiện nay, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo vệ thông tin dữ liệu cá nhân trong môi trường mạng xã hội tại Việt Nam.

Abstract: By analyzing the situation of protecting personal data in Vietnam today, the author proposes a number of solutions to complete and enhancing the effectiveness of the implementation of the law on personal data information protection in the social network environment in Vietnam.

1. Tình hình bảo vệ quyền đối với thông tin dữ liệu của cá nhân trong môi trường mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay

Trong xã hội hiện đại, khi công nghệ và internet phát triển mạnh mẽ trước những tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư thì thông tin cá nhân (TTCN) trở thành những tài sản có thể trao đổi và ngày càng có giá trị. Bên cạnh sự tích cực của những giá trị thông tin cá nhân mang lại cho mỗi người thì trong nhiều trường hợp, những thông tin đó có thể bị tiết lộ, mua bán, trao đổi... không theo mong muốn của chủ sở hữu thông tin cá nhân, gây ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống của mỗi người. Hệ thống mạng của nước ta nằm trong nhóm các quốc gia phải đối mặt với hoạt động tấn công mạng quy mô lớn, cường độ cao, tính chất nghiêm trọng và ngày càng nguy hiểm. Nước ta xếp thứ 20 trong các nước trên thế giới có hệ thống mạng bị tấn công bởi phần mềm độc hại, đứng thứ 08 trong số 10 quốc gia hàng đầu thế giới về tình trạng lây nhiễm mã độc cục bộ. Từ cuối năm 2015 đến nay, đã có 12.360 trang tin, cổng thông tin điện tử tên miền quốc gia (.vn) của Việt Nam bị tin tặc tấn công, thay đổi giao diện, trong đó có trên 400 trang tin, cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước; có 9.763 trang tin bị tấn công bởi tin tặc nước ngoài và 2.597 trang tin bị tấn công bởi các đối tượng, nhóm tin tặc trong nước (chiếm 21%)[1].

Trên mạng xã hội ở Việt Nam trong những năm trở lại đây đã tồn tại nhiều hành vi làm lộ bí mật đời tư của cá nhân, làm lộ bí mật của gia đình… ngoài ý chí của cá nhân và những gia đình bị làm lộ. Nhiều người đã không hiểu, hiểu sai hoặc cố tình không hiểu quyền tự do ngôn luận, tự do thể hiện quan điểm cá nhân, tự do báo chí… vì vậy đã vô tình hay hữu ý làm lộ quyền riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của người khác, gây ra những phản ứng trái chiều trên mạng xã hội; dư luận xã hội lan truyền nhanh chóng; gây nhiễu và lệch hướng cho một số bộ phận người thiếu thận trọng hoặc không trải nghiệm cuộc sống và hạn chế về nhận thức đã bị các luồng dư luận lôi kéo và nhấn chìm, mất phương hướng điều khiển hành vi trong các quan hệ xã hội. Tuy nhiên, để xác định được những cá nhân, tổ chức tung tin thất thiệt trên mạng xã hội làm lộ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của người khác là một vấn đề rất phức tạp, vì có những tên ảo, địa chỉ ảo. Do vậy, rất khó có thể quy trách nhiệm và xử lý hành vi trái pháp luật của những đối tượng này.

Việc làm lộ các thông tin dữ liệu cá nhân đối với môi trường mạng xã hội hiện nay xuất phát chủ yếu từ những hành vi sau:

Thứ nhất, hành vi mua bán dữ liệu cá nhân: Việc mua bán dữ liệu cá nhân đã diễn ra từ rất nhiều năm nay ở Việt Nam khá dễ dàng với chi phí thấp. Các thông tin bao gồm tên tuổi, số điện thoại, số nhà... của phụ huynh học sinh từ cấp 1 đến cấp 3 ở TP. Hồ Chí Minh đã được rao bán chỉ với giá 2,5 triệu đồng. Việc mua bán dữ liệu thí sinh cũng diễn ra tương tự như trường hợp trên. Dữ liệu cá nhân như tên tuổi, chức vụ, số điện thoại của giám đốc các doanh nghiệp ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành trên toàn quốc; khách hàng VIP mua chung cư cao cấp, mua bảo hiểm, xe hơi, vàng bạc, chứng khoán... được rao bán với giá dao động khoảng từ 400 ngàn đến vài triệu đồng, tùy vào độ mức độ “quan trọng” của thông tin[2].

Thứ hai, tiết lộ thông tin cá nhân của người nổi tiếng trên báo chí, mạng xã hội: Các vụ việc như tiết lộ giấy khai sinh, báo chí đưa tin không chính xác, hoặc không phỏng vấn mà có bài... liên quan đến người nổi tiếng là những vụ việc nổi bật trong thời gian qua. Việc tiết lộ những thông tin về đời sống hôn nhân, giấy khai sinh, thậm chí cả giới tính trên báo chí và mạng xã hội của những người nổi tiếng đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống riêng tư cũng như công việc và hình ảnh, danh dự nghệ sĩ.

Thứ ba, tiết lộ thông tin cá nhân của một số nhóm những người dễ bị tổn thương trong xã hội: Hiện nay, việc đưa thông tin và hình ảnh riêng tư của trẻ em trên mạng xã hội cũng như báo chí, truyền thông không phải là hiếm gặp, thậm chí còn diễn biến ở mức độ “nóng”. Các thông tin báo chí về các vụ bắt cóc, xâm hại tình dục trẻ em, trẻ em có HIV/AIDS, hoặc cung cấp hình ảnh những vụ giết người hàng loạt trong đó người bị giết là người thân của trẻ... không hề hiếm gặp trên báo chí, mạng xã hội cũng như các phương tiện truyền thông khác.

Thứ tư, thu thập thông tin dân cư không được bảo mật và trái quy định của pháp luật: Theo Điều 6 Nghị định số 90/2010/NĐ-CP ngày 18/8/2010 của Chính phủ quy định về Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (Nghị định số 90/2010/NĐ-CP), thông tin của công dân được thu thập, cập nhật trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư chỉ bao gồm 22 đầu mục thông tin; Thông tư số 10/2013/TT-BCA ngày 22/02/2013 của Bộ Công an quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 90/2010/NĐ-CP có ban hành kèm theo một mẫu Phiếu thu thập thông tin dân cư với những thông tin bắt buộc phải thực hiện khi thu thập thông tin dân cư, đó là: Họ và tên; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; nơi sinh; quê quán; dân tộc; tôn giáo; quốc tịch; số chứng minh nhân dân, ngày cấp, nơi cấp; trình độ học vấn; trình độ chuyên môn, kỹ thuật; nghề nghiệp hiện tại; nơi làm việc; nơi thường trú; nơi ở hiện tại; họ và tên cha, quốc tịch; họ tên mẹ, quốc tịch; họ tên vợ/chồng, quốc tịch; họ và tên chủ hộ; quan hệ với chủ hộ; sổ hộ khẩu; số hộ chiếu, ngày cấp, cơ quan cấp; số thẻ bảo hiểm y tế, ngày cấp, cơ quan cấp; mã số thuế cá nhân; tình trạng hôn nhân. Năm 2013, Công an TP. Hà Nội lại yêu cầu người dân kê tới 32 đầu mục TTCN là chưa phù hợp với các văn bản pháp luật trên. Hơn nữa, việc thu thập TTCN này lại diễn ra thủ công, phiếu kê khai được chuyển qua tay nhiều người. Điều đó có thể dẫn đến tình trạng người dân bị xâm phạm quyền bảo vệ TTCN[3].

Thứ năm, tiết lộ thông tin cá nhân của khách hàng trong giao dịch thương mại trực tuyến: Các TTCN được mã hóa, lưu trữ vào cơ sở dữ liệu của các trang web nhưng nếu hệ thống dữ liệu của doanh nghiệp không an toàn, rất có thể bị tin tặc tấn công dẫn tới mất cơ sở dữ liệu. Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 đã có quy định các đơn vị cung cấp dịch vụ lưu trữ, thu thập TTCN phải áp dụng các biện pháp quản lý theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật để bảo vệ TTCN như một tài sản của người sử dụng đang gửi; phải có biện pháp, ràng buộc nhân viên không làm lộ thông tin khách hàng. Mặc dù vậy, do cơ sở vật chất của doanh nghiệp chưa đạt yêu cầu hoặc các nhân viên của doanh nghiệp vẫn có hành vi cung cấp TTCN trái pháp luật dẫn đến người tiêu dùng bị mất TTCN trong các giao dịch thương mại.

Thứ sáu, thu thập thông tin cá nhân trái phép bằng mã độc: Việc sử dụng mã độc để thu thập TTCN đã trở nên ngày càng nghiêm trọng trong môi trường internet qua máy tính và điện thoại di động. Mã độc hay “Malicious software” là một loại phần mềm được tạo ra và chèn vào hệ thống một cách bí mật để thâm nhập, phá hoại hệ thống máy tính hoặc lấy cắp thông tin, làm gián đoạn, tổn hại tới tính bí mật, tính toàn vẹn và tính sẵn sàng của máy tính của người dùng. Vụ việc của Huỳnh Ngọc Đến (35 tuổi) cung cấp phần mềm COPYPHONE có chức năng quản lý điện thoại di động bằng cách ghi nhận lại tin nhắn, nhật ký cuộc gọi nhằm trục lợi đã bị Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh đưa ra xét xử về tội “Truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet hoặc thiết bị số của người khác nhằm trục lợi”[4]. Vụ việc hơn 14 nghìn điện thoại tại Việt Nam bị Công ty công nghệ Việt Hồng cài phần mềm nghe lén Ptracker đã âm thầm thu thập nhiều thông tin từ các điện thoại bị cài đặt như tin nhắn, danh bạ, ghi âm cuộc gọi, định vị điện thoại, quay phim, chụp ảnh, bật tắt 3G/4G. Bên cạnh đó còn xuất hiện hàng loạt các phần mềm như LG-SPY, SPY PHONE, VCTEL... với các chức năng tương tự COPYPHONE đã cho thấy việc thu thập TTCN qua mạng trở nên nghiêm trọng.

Từ những phân tích nêu trên, vấn đề đặt ra là đi đôi với việc phát triển của môi trường mạng xã hội là cần phải có sự quản lý, định hướng của các cơ quan chức năng nhằm xây dựng môi trường mạng xã hội thực sự có ích và mang lại hiệu quả tốt nhất. Đồng thời, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các nguy cơ, tác động xấu từ mạng xã hội đến quyền nhân thân của cá nhân nói chung cũng như quyền bảo vệ thông tin dữ liệu cá nhân nói riêng trong giai đoạn hiện nay.

2. Quy định về bảo vệ quyền đối với thông tin dữ liệu cá nhân trong môi trường mạng xã hội

Sự phát triển của không gian mạng cùng với Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang mang lại những lợi ích vô cùng to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, cũng như làm thay đổi nhận thức, hành vi và lối sống của con người. Song, bên cạnh những lợi ích mang lại, không gian mạng cũng đặt ra nhiều nguy cơ, thách thức, tác động trực tiếp đến chủ quyền, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, quyền lợi hợp pháp của các cá nhân. Các cuộc tấn công mạng với động cơ chính trị vào hệ thống thông tin trọng yếu của các nước ngày càng gia tăng, gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế, quốc phòng và an ninh. Tội phạm mạng ngày càng nguy hiểm với nhiều thủ đoạn tinh vi, kỹ thuật cao, sử dụng các loại mã độc ứng dụng trí tuệ nhân tạo để tấn công, xâm nhập, đánh cắp dữ liệu nhằm thực hiện các mục đích phi pháp, gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của các cá nhân.

Nhận thức được tầm quan trọng đó, hiện nay, đa số các nước đều xác định quyền riêng tư trong Hiến pháp - đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất. Quy định tối thiểu nhất là quyền bất khả xâm phạm về nơi ở và bí mật thông tin liên lạc. Gần đây, Hiến pháp của một số nước còn quy định cụ thể về quyền tiếp cận và kiểm soát thông tin dữ liệu cá nhân, điều đó cho thấy, việc bảo vệ các thông tin dữ liệu cá nhân, bí mật đời tư của cá nhân ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

So với các bản Hiến pháp trước, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã có bước tiến mới trong việc quy định về quyền riêng tư, thể hiện tập trung ở Điều 21. Cùng với đó, rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã cụ thể hóa tinh thần của Hiến pháp năm 2013 góp phần tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc bảo vệ TTCN trong thực tiễn, cụ thể như: Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật Dược năm 2016, Luật Thống kê năm 2015, Luật Căn cước công dân năm 2014, Luật Trẻ em năm 2016, Bộ luật Hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015…

Khoản 1 Điều 21 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 nêu rõ: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn”. Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Người làm lộ bí mật đời tư của người khác với tính chất nghiêm trọng còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều 159 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định về “Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác”. Bảo đảm bí mật TTCN của chủ thể là nguyên tắc tối ưu của pháp luật về bảo vệ TTCN: Điểm đ khoản 1 Điều 16 Luật Viễn thông năm 2009 quy định người sử dụng dịch vụ viễn thông được bảo đảm bí mật thông tin riêng theo quy định của pháp luật. Điều 510 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định người tố cáo có quyền yêu cầu giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích của mình. Để bảo vệ TTCN trong lĩnh vực tố tụng, pháp luật quy định xét xử kín để bảo vệ TTCN. Khoản 3 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: “Tòa án nhân dân xét xử công khai. Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự, Tòa án nhân dân có thể xét xử kín”. Tinh thần của quy định này đã được thể hiện trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và một số văn bản khác.

Các phương thức bảo vệ quyền đối với thông tin dữ liệu của cá nhân trong môi trường mạng xã hội ở Việt Nam

So với Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 bổ sung Chương II về “Xác lập, thực hiện và bảo vệ quyền dân sự”. Nội dung chương này quy định về giới hạn việc thực hiện quyền dân sự, cơ chế pháp lý về thực hiện, bảo vệ quyền dân sự, trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong việc bảo vệ quyền dân sự nói chung, quyền đảm bảo về thông tin dữ liệu cá nhân nói riêng.

Trước đây, nội dung của phương thức bảo vệ quyền dân sự được quy định trong nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự, thì nay được tách ra thành phương thức bảo vệ quyền dân sự. Cụ thể, khi quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, luật khác có liên quan hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền: Công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của mình; buộc chấm dứt hành vi xâm phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ; buộc bồi thường thiệt hại; hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền; yêu cầu khác theo quy định của luật.

Theo Điều 12 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Việc tự bảo vệ quyền dân sự phải phù hợp với tính chất, mức độ xâm phạm đến quyền dân sự đó và không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này”. Cụ thể gồm các hình thức như: Công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của mình; buộc chấm dứt hành vi xâm phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ; buộc bồi thường thiệt hại; hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền và yêu cầu khác theo quy định của luật.

Để thống nhất trong điều chỉnh pháp luật về phương thức bảo vệ quyền và để tạo cơ chế pháp lý cho cá nhân, pháp nhân lựa chọn phương thức bảo vệ quyền dân sự, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định cụ thể hơn, khi quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ theo quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác có liên quan hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện các biện pháp theo quy định pháp luật.

Để quyền dân sự của cá nhân nói chung và quyền đối với thông tin dữ liệu của cá nhân trong môi trường mạng xã hội nói riêng được bảo vệ kịp thời, phát huy vai trò bảo vệ công lý của Tòa án, phát huy trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền khác trước người dân, Bộ luật Dân sự hiện hành bổ sung quy định trách nhiệm của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác trong việc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân. Đặc biệt, Bộ luật quy định Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự với lý do chưa có điều luật để áp dụng. Trường hợp này nếu không có tập quán và không áp dụng được tương tự pháp luật thì Tòa án vận dụng nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết. Đây là quy định tiến bộ, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; phù hợp với vai trò của Tòa án là cơ quan bảo vệ công lý.

Có thể thấy, những quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam cũng như những điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về bảo vệ quyền riêng tư khá đầy đủ và phù hợp. Quy định của pháp luật Việt Nam không chỉ ghi nhận và thể hiện sự tôn trọng các quyền bí mật thư tín, bí mật đời tư, quyền đối với thông tin dữ liệu cá nhân, mà còn đề ra các biện pháp để bảo vệ những quyền này. Các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính, thậm chí xử lý hình sự đã được đặt ra để bảo vệ các quyền nói trên khỏi sự xâm phạm.

Như vậy, để bảo vệ thông tin dữ liệu cá nhân thì các biện pháp khoa học và công nghệ hỗ trợ cũng cần được áp dụng triệt để. Việt Nam đang trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong việc bảo vệ thông tin dữ liệu cá nhân trong môi trường mạng xã hội thì việc xây dựng hành lang pháp lý, các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề này hiện nay vẫn chưa đáp ứng kịp thời với sự phát triển cao của khoa học và công nghệ. Chính vì vậy, trong thời gian tới, việc bảo vệ thông tin dữ liệu cá nhân cần được hoàn thiện hơn trong việc bổ sung những biện pháp, hình thức và phương pháp công nghệ hiện đại nhằm đáp ứng được nhu cầu của các cá nhân trong việc bảo vệ thông tin dữ liệu cá nhân hiện nay.

3. Đề xuất hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền đối với dữ liệu thông tin của cá nhân

Một là, xây dựng Luật Bảo vệ thông tin cá nhân: Đã đến lúc Việt Nam cần xây dựng một luật chung về quyền bảo vệ TTCN để có thể đưa ra một hệ thống toàn diện, từ khái niệm, nguyên tắc đến thiết chế và cách thức bảo vệ TTCN của con người. Trên thế giới, bên cạnh sự ghi nhận quyền bảo vệ TTCN trong Hiến pháp như là một quyền con người cơ bản thì nhiều quốc gia đã quy định quyền này trong Luật Bảo vệ thông tin cá nhân hoặc Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, theo đó, Luật này quy định nguyên tắc bảo vệ TTCN; quy định về quyền của chủ thể TTCN, nghĩa vụ của chủ thể TTCN; quy định quyền và nghĩa vụ của chủ thể có trách nhiệm bảo vệ TTCN; quy định về xử lý dữ liệu cá nhân; quy định về các chế tài cụ thể đối với các hành vi vi phạm việc bảo vệ TTCN; quy định về cơ quan có trách nhiệm quản lý trong việc thực hiện bảo vệ dữ liệu cá nhân một cách rõ ràng và chi tiết hơn. Việc luật hóa các quy định pháp luật về bảo vệ TTCN sẽ là cơ sở pháp lý vững chắc trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay.

Hai là, sửa đổi, bổ sung các quy định bảo mật thông tin vào trong các luật chuyên ngành: Bên cạnh việc nghiên cứu xây dựng Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần rà soát một cách hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành có quy định về TTCN, theo đó cần:

- Quy định thống nhất và hoàn thiện về khái niệm TTCN, từ đó cập nhật, bổ sung các TTCN trong từng ngành, lĩnh vực, bảo đảm quy định đầy đủ những TTCN cần được bảo vệ.

- Xóa bỏ các quy định hạn chế quyền bảo vệ TTCN trái với quy định của Hiến pháp và luật chung do vi phạm về hình thức từ việc ban hành dưới hình thức văn bản dưới luật và về nội dung do hạn chế quyền khác với 04 trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013.

- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các phương thức bảo vệ TTCN trong từng ngành, lĩnh vực như: Các phương thức bảo mật thông tin tín dụng; vô danh hóa, mã hóa các thông tin trong lĩnh vực giáo dục, khám chữa bệnh; điều kiện về công nghệ đối với lĩnh vực kinh doanh thương mại điện tử, viễn thông...

Ba là, giáo dục nâng cao nhận thức và hiểu biết về quyền bảo vệ thông tin cá nhân và nâng cao các giải pháp công nghệ: Để mang lại những hiệu quả tích cực cho việc bảo đảm thực hiện quyền bảo vệ TTCN, đối tượng cần phải hướng đến trước tiên trong việc bảo vệ TTCN chính là mỗi cá nhân. Người dân cần hiểu và tôn trọng pháp luật về bảo vệ TTCN và các điều ước quốc tế về quyền con người có liên quan, thông qua các nhiều hình thức như quảng cáo, truyền hình, đặt panô, áp phích... đặc biệt đưa vào chương trình giáo dục ở các cấp. Mỗi cá nhân phải có ý thức tự bảo vệ TTCN của mình và tự chịu trách nhiệm khi cung cấp những thông tin đó, đồng thời phải có nghĩa vụ tôn trọng TTCN cá nhân của người khác, không được tiết lộ, cung cấp thông tin cá nhân của người khác khi chưa được sự đồng ý của họ. Bên cạnh đó, cần tuyên truyền để mỗi người có những nhận thức đúng đắn, đầy đủ về quyền được bảo vệ TTCN của mình, các hành vi xâm phạm quyền bảo vệ TTCN của họ cũng như các biện pháp để bảo vệ quyền này. Việc truyền thông không thể dừng lại đối với mỗi cá nhân mà cần đến với cả các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp. Bảo đảm quyền con người nói chung và quyền bảo vệ TTCN nói riêng trước hết là trách nhiệm của Nhà nước. Nhưng điều đó không chỉ phụ thuộc duy nhất vào những cơ quan, ban, ngành của Nhà nước mà vai trò của cộng đồng đặc biệt quan trọng. Bên cạnh đó, cần bổ sung, cập nhật những biện pháp, hình thức và phương pháp công nghệ hiện đại đáp ứng được nhu cầu về mã hóa và bảo mật thông tin, đặc biệt là các lĩnh vực như y tế, tài chính ngân hàng để bảo vệ TTCN.

Có thể nhận thấy rằng, việc xây dựng, hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến việc bảo vệ thông tin dữ liệu cá nhân đối với môi trường mạng xã hội được xem là một trong những vấn đề quan trọng trong thời gian tới, khi các quy định của pháp luật được hoàn thiện và áp dụng trên thực tế, nó sẽ tạo thành hệ thống pháp luật đồng bộ, đầy đủ cho công tác bảo vệ thông tin cá nhân của người sử dụng trong kỷ nguyên internet hiện nay, góp phần thúc đẩy hơn nữa sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời gian tới

PGS.TS. Nguyễn Thị Nhung

Đại học Mở Hà Nội







[1]. Https://conganquangbinh.gov.vn/mang-xa-hoi-mat-tich-cuc-va-tieu-cuc-nhung-van-de-dat-ra-cho-cong-tac-bao-dam-an-ninh-trat-tu/.

[2]. Http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/thuc-tien/item/2763-vi-pham-phap-luat-ve-bao-ve-thong-tin-ca-nhan-o-viet-nam-hien-nay-thuc-trang-nguyen-nhan-va-giai-phap.html.

[3]. Http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/thuc-tien/item/2763-vi-pham-phap-luat-ve-bao-ve-thong-tin-ca-nhan-o-viet-nam-hien-nay-thuc-trang-nguyen-nhan-va-giai-phap.html.

[4]. Https://anninhthudo.vn/phap-luat/truy-to-giam-doc-cong-ty-kinh-doanh-phan-mem-tham-tu-qua-dien-thoai-di-dong/739062.antd.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.

Theo dõi chúng tôi trên: