Thứ bảy 06/12/2025 04:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bất cập về thủ tục mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và đề xuất hoàn thiện pháp luật

Với quy định này cho thấy không thể phủ nhận những giá trị tích cực mà nó mang lại trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh, thể hiện sự đánh giá và nhìn nhận một cách toàn diện vấn đề quyền con người trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Bên cạnh đó, ngoài việc phát huy tốt những yếu tố tích cực thì việc hoàn thiện các quy phạm pháp luật về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là vô cùng cần thiết. Trong bài viết này, tác giả phân tích một số bất cập trong các quy định về thủ tục đề nghị thực hiện kĩ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo pháp luật Việt Nam hiện hành và trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh về vấn đề này.


Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là một trong những quy định mới của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Qua 05 năm thực hiện, quy định này đã và đang phát huy được những giá trị tích cực trong việc ghi nhận và bảo vệ các quyền nhân thân của cá nhân, mang lại hạnh phúc cho hàng trăm cặp vợ chồng bế tắc trong nỗ lực tìm kiếm cơ hội làm cha mẹ của những đứa con có cùng huyết thống với chính họ. Điều này cho thấy, các quy định về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong mục tiêu chung là xây dựng pháp luật vì nhân dân, vì con người. Tuy nhiên, với đặc thù là một quan hệ pháp luật mới, những quy định về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo hiện nay vẫn còn bộc lộ những bất cập, hạn chế trong quá trình áp dụng, trong đó có một số quy định về thủ tục mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, cần thiết phải sớm hoàn thiện nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tham gia quan hệ pháp luật, đồng thời nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về chế định đầy tính nhân văn này.

Trong trường hợp các bên có yêu cầu về việc thực hiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, trước hết phải gửi hồ sơ đề nghị thực hiện đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được phép thực hiện kỹ thuật này. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ sở được cho phép thực hiện kỹ thuật mang thai hộ phải có kế hoạch điều trị để thực hiện kỹ thuật mang thai hộ. Trường hợp không thể thực hiện được kỹ thuật này thì phải trả lời bằng văn bản, đồng thời nêu rõ lý do. Việc quy định về hồ sơ đề nghị thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được đề cập khá cụ thể tại khoản 1 Điều 14 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28/01/2015 của Chính phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (Nghị định số 10/2015/NĐ-CP) như sau: “Cặp vợ chồng vô sinh gửi hồ sơ đề nghị thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được phép thực hiện kỹ thuật này, gồm: a) Đơn đề nghị được thực hiện kỹ thuật mang thai hộ theo Mẫu số 04 ban hành kèm theo Nghị định này; b) Bản cam kết tự nguyện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo Mẫu số 05 ban hành kèm theo Nghị định này; c) Bản cam đoan của người đồng ý mang thai hộ là chưa mang thai hộ lần nào; d) Bản xác nhận tình trạng chưa có con chung của vợ chồng do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của vợ chồng nhờ mang thai hộ xác nhận; đ) Bản xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm về việc người vợ có bệnh lý, nếu mang thai sẽ có nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của người mẹ, thai nhi và người mẹ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; e) Bản xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm đối với người mang thai hộ về khả năng mang thai, đáp ứng quy định đối với người nhận phôi theo quy định tại khoản 4 Điều 5 Nghị định này và đã từng sinh con; g) Bản xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc người mang thai hộ, người nhờ mang thai hộ tự mình chứng minh về mối quan hệ thân thích cùng hàng trên cơ sở các giấy tờ hộ tịch có liên quan và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính xác thực của các giấy tờ này; h) Bản xác nhận của chồng người mang thai hộ (trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng) về việc đồng ý cho mang thai hộ; i) Bản xác nhận nội dung tư vấn về y tế của bác sỹ sản khoa; k) Bản xác nhận nội dung tư vấn về tâm lý của người có trình độ đại học chuyên khoa tâm lý trở lên; l) Bản xác nhận nội dung tư vấn về pháp luật của luật sư hoặc luật gia hoặc người trợ giúp pháp lý; m) Bản thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo giữa vợ chồng nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ theo quy định tại Mẫu số 06 ban hành kèm theo Nghị định này”.

Về cơ bản, hồ sơ đề nghị thực hiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo bao gồm các loại giấy tờ cần thiết nhằm mục đích chứng minh các yếu tố đảm bảo cho việc thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là đủ điều kiện và đúng pháp luật. Tuy nhiên, liên quan đến vấn đề này vẫn còn tồn tại một số quy định bộc lộ những điểm hạn chế, bất cập cần được cân nhắc, rà soát, điều chỉnh nhằm bảo vệ tốt hơn các quyền lợi hợp pháp của các chủ thể trong việc thực hiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Trong đó, đáng chú ý là một số vấn đề sau:

Một là, mặc dù Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không có quy phạm nào quy định trực tiếp người có quyền nhờ mang thai hộ, nhưng theo quy định tại khoản 2 Điều 95 của Luật này có thể xác định người có quyền nhờ mang thai hộ bắt buộc phải là “vợ chồng”. Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 3 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP quy định cặp vợ chồng vô sinh có quyền nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Việc quy định rõ ràng đối tượng, chủ thể nào có quyền nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là rất cần thiết. Bởi lẽ, đây là một trong những cơ sở quan trọng cho việc xây dựng cơ chế pháp lý chặt chẽ và phù hợp, đảm bảo hoạt động mang thai hộ là đúng mục đích nhân đạo. Tuy nhiên, Điều 14 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP không đề cập đến văn bản cần thiết cần có trong hồ sơ là các loại giấy tờ chứng minh mối quan hệ hôn nhân của vợ chồng nhờ mang thai hộ như giấy chứng nhận đăng ký kết hôn/xác nhận về quan hệ hôn nhân được xác lập trước ngày 03/01/1987 cho đến nay (trong trường hợp sống chung nhưng chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn). Bên cạnh đó, việc xác định tư cách chủ thể là vợ chồng trong trường hợp nam nữ kết hôn trái pháp luật vẫn còn tồn tại những băn khoăn nhất định. Nam nữ kết hôn trái pháp luật thì về nguyên tắc, họ không phải là vợ chồng hợp pháp nên cũng không thể trở thành chủ thể có quyền nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là điều đương nhiên. Đây cũng là cơ sở để nhằm đảm bảo rằng quyền lợi hợp pháp của những đứa trẻ được sinh ra không bị xâm phạm hoặc ít nhất là không bị ảnh hưởng. Song, thực tế hiện nay đường lối xử lý hủy việc kết hôn trái pháp luật là khá “linh động”. Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật được ghi nhận tại Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, cụ thể như sau: “Trường hợp tại thời điểm kết hôn, hai bên kết hôn không có đủ điều kiện kết hôn nhưng sau đó có đủ điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình thì Tòa án xử lý như sau: a) Nếu hai bên kết hôn cùng yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án quyết định công nhận quan hệ hôn nhân đó kể từ thời điểm các bên kết hôn có đủ điều kiện kết hôn…”. Tuy nhiên, văn bản công nhận của Tòa án có được xem xét là một văn bản để hợp pháp hóa quan hệ hôn nhân trái pháp luật của các bên trong việc quan hệ hôn nhân trái pháp luật trước đó hay không? Nếu các bên có văn bản của Tòa án công nhận hôn nhân, sau đó, họ có yêu cầu thực hiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thì đây có được xem là cơ sở để xác định chủ thể có quyền nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không? Những vấn đề này hiện nay vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể, tạo ra những vướng mắc nhất định trong việc thực hiện và tham gia quan hệ pháp luật về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo của các chủ thể trong thực tiễn hiện nay.

Vì vậy, nếu hồ sơ đề nghị không có các loại giấy tờ chứng minh mối quan hệ hôn nhân giữa họ thì không đủ căn cứ pháp lý để xác định bên nhờ mang thai hộ có phải là vợ chồng hay không. Do đó, tác giả cho rằng, các loại giấy tờ để chứng minh quan hệ hôn nhân giữa họ là văn bản mang tính bắt buộc trong hồ sơ đề nghị thực hiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

Hai là, điểm d khoản 1 Điều 14 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP cũng quy định hồ sơ đề nghị mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải có bản xác nhận tình trạng chưa có con chung của vợ chồng do Ủy ban nhân dân cấp xã “nơi thường trú” của vợ chồng nhờ mang thai hộ xác nhận. Tuy nhiên, quy định này dẫn đến sự thiếu đồng bộ, thống nhất với một số văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, trong đó điển hình là Luật Hộ tịch năm 2014. Bởi lẽ, theo quy định của Luật Hộ tịch năm 2014, nơi trường trú chỉ là một trong những nơi cư trú của cá nhân. Nơi cư trú được giải thích tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 31/2014/NĐ-CP ngày 18/4/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú như sau: “Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Mỗi công dân chỉ được đăng ký thường trú tại một chỗ ở hợp pháp và là nơi thường xuyên sinh sống”. Trong khi đó, theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 14 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, việc xác nhận tình trạng chưa có con chung chỉ thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của vợ chồng. Vậy, nếu trong trường hợp vợ chồng không có nơi thường trú mà chỉ có nơi tạm trú thì đương nhiên có thể họ sẽ không thể có bản xác nhận tình trạng đang không có con chung của Ủy ban nhân dân nơi thường trú, trong khi đó, việc xác nhận của Ủy ban nhân dân nơi tạm trú đương nhiên không có giá trị. Vì vậy, theo tác giả, quy định tại điểm d khoản 1 Điều 14 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP là chưa phù hợp và cần có sự điều chỉnh kịp thời nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp của chủ thể cũng như tăng tính kiểm soát xác thực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đồng thời tạo ra sự đồng bộ trong việc áp dụng pháp luật. Do đó, tác giả đề xuất, quy định này cần được điều chỉnh theo hướng, bản xác nhận chưa có con chung do Ủy ban nhân dân cấp xã “nơi cư trú” của vợ chồng nhờ mang thai hộ xác nhận.

Ba là, một trong những yêu cầu quan trọng về điều kiện của người mang thai hộ là bản thân người này phải đã từng sinh con[1]. Theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 14 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP thì có thể xác định, việc xác nhận người mang thai hộ đã từng sinh con thuộc thẩm quyền của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, nhưng theo tác giả, điều này là không cần thiết bởi lẽ sẽ làm tăng tính phức tạp về thủ tục, tạo ra sự rườm rà không cần thiết vì việc người mang thai hộ đã từng sinh con có thể chứng minh dễ dàng qua việc họ xuất trình giấy chứng sinh hoặc giấy khai sinh của bất kì người con nào của họ và như vậy sẽ trở nên đơn giản hóa về mặt thủ tục cũng như phù hợp với Luật Hộ tịch, tạo thuận lợi cho các bên trong việc thực hiện hồ sơ đề nghị mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Do đó, tác giả cho rằng, với điểm e khoản 1 Điều 14 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, bên nhờ mang thai hộ chỉ cần cung cấp “Bản xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm đối với người mang thai hộ về khả năng mang thai, đáp ứng quy định đối với người nhận phôi theo quy định tại khoản 4 Điều 5 Nghị định này”.

Bốn là, tại điểm h Điều 14 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP yêu cầu hồ sơ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cần phải có “Bản xác nhận của chồng người mang thai hộ (trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng) về việc đồng ý cho mang thai hộ”. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, pháp luật hiện hành chưa dự liệu về việc nếu rơi vào trường hợp người chồng của người mang thai hộ bị mất năng lực hành vi dân sự, khó khăn trong nhận thức và điều khiển hành vi thì sẽ được giải quyết như thế nào. Rõ ràng, đối với trường hợp người chồng mất năng lực hành vi dân dự hoặc có khó khăn trong nhận thức và điều khiển hành vi thì không thể có khả năng thể hiện ý chí về sự đồng ý hay không đồng ý để vợ thực hiện mang thai hộ, khi đó, yêu cầu về bản xác nhận nêu trên trong hồ sơ là không có cơ sở. Điều này tạo ra những khó khăn nhất định trong việc áp dụng pháp luật trên thực tế cho cả các bên tham gia cũng như cơ sở y tế khi thẩm định hồ sơ. Vì với điều kiện “cứng” này thì văn bản thể hiện sự đồng ý của người chồng của người mang thai hộ là bắt buộc, dẫn đến hệ quả là người mang thai hộ dù đủ các điều kiện khác nhưng không có văn bản đồng ý của người chồng thì cũng không thể thực hiện được. Do đó, quy định về điều kiện “người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng” tại điểm d khoản 3 Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và yêu cầu bản xác nhận của người chồng tại điểm h khoản 1 Điều 14 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP cần thiết có những hướng dẫn cụ thể nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia. Theo đó, tác giả đề nghị sửa quy định tại điểm h nêu trên theo hướng: “Bản xác nhận của chồng người mang thai hộ (trừ trường hợp người phụ nữ mang thai hộ độc thân hoặc chồng của người mang thai hộ bị mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức và điều khiển hành vi) về việc đồng ý cho mang thai hộ”.

Tóm lại, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là một trong những quy định tiến bộ và đầy chất nhân văn trong hệ thống pháp luật Việt Nam nhằm ghi nhận và bảo vệ quyền làm cha mẹ của các cá nhân kém may mắn trong cộng đồng. Với quy định này cho thấy không thể phủ nhận những giá trị tích cực mà nó mang lại trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh, thể hiện sự đánh giá và nhìn nhận một cách toàn diện vấn đề quyền con người trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Bên cạnh đó, ngoài việc phát huy tốt những yếu tố tích cực thì việc hoàn thiện các quy phạm pháp luật về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là vô cùng cần thiết. Trong đó, những vấn đề pháp lý có liên quan cụ thể như quy định về hồ sơ đề nghị thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cũng cần được cân nhắc và đảm bảo sự đồng bộ thống nhất, thuận lợi và hiệu quả, góp phần đảm bảo quyền lợi chính đáng của các chủ thể có liên quan trong quan hệ pháp luật về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo nói riêng và quan hệ pháp luật về hôn nhân và gia đình nói chung.

ThS. Nguyễn Thị Lê Huyền

Đại học Luật thuộc Đại học Huế



[1]. Xem quy định tại điểm b khoản 3 Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Người được nhờ mang thai hộ phải “đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần”.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.
Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Tóm tắt: Bài viết phân tích, làm rõ khái niệm người có ảnh hưởng, tình hình thực tiễn về mô hình quảng cáo thông qua người có ảnh hưởng và các hành vi quảng cáo gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với những yêu cầu đặt ra về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như yêu cầu tháo gỡ những “điểm nghẽn”, “nút thắt” có nguyên nhân từ quy định của pháp luật hiện nay, việc hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật về thi hành án dân sự nói riêng là cấp thiết, đặc biệt, dự án Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) dự kiến được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 10 vào tháng 10/2025. Trước bối cảnh đó, với vai trò là trụ cột, là nguồn lực chủ yếu để xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất mới, đồng thời là đội ngũ tiên phong tham gia các lĩnh vực mới, thanh niên ngành thi hành án dân sự cần tiếp tục phát huy vai trò và trách nhiệm trong việc tham gia vào công tác hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự.
Hoạt động giám sát của Quốc hội trong thực hiện điều ước quốc tế - Một số tồn tại, hạn chế và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện

Hoạt động giám sát của Quốc hội trong thực hiện điều ước quốc tế - Một số tồn tại, hạn chế và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam đối với việc thực hiện điều ước quốc tế, từ đó, đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, bảo đảm công tác giám sát thực hiện điều ước quốc tế ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả.

Theo dõi chúng tôi trên: