Thứ ba 10/03/2026 22:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Biện pháp bảo đảm cho bản án, quyết định về dân sự của Tòa án có tính khả thi

Hiện nay, sau khi Toà án ra phán quyết, ở giai đoạn thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự thường phải điều tra, xác minh tài sản, thu nhập của người phải thi hành án để buộc họ thực thi nghĩa vụ nếu không tự nguyện thi hành.

Việc điều tra, xác minh thu nhập, tài sản của người phải thi hành án thường mất rất nhiều thời gian và công sức, làm cho việc thi hành án bị kéo dài, vì có rất ít trường hợp đương sự tự nguyện cung cấp điều kiện thi hành án của mình, thậm chí nhiều trường hợp còn dùng nhiều cách tẩu tán, che giấu tài sản, thu nhập để trì hoãn, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án. Vì vậy, tìm ra một cơ chế bảo đảm cho bản án, quyết định về dân sự của Toà án có tính khả thi ngay sau khi Toà án ra phán quyết là vấn đề đang được quan tâm hiện nay.

Để phán quyết của Toà án được bảo đảm thi hành một cách nhanh chóng, hiệu quả nhất, qua thực tiễn, chúng tôi mạnh dạn đề xuất một số biện pháp bảo đảm tính khả thi của các bản án, quyết định về dân sự của Toà án để bạn đọc tham gia ý kiến.

1. Đối với các vụ kiện về nghĩa vụ trả tiền: Pháp luật cần sửa đổi theo hướng quy định khi vụ kiện xảy ra, Toà án yêu cầu người bị khởi kiện phải tạm nộp một khoản tiền bằng giá trị số tiền bị đòi nợ để chứng minh mình không có nghĩa vụ, người khởi kiện phải tạm nộp một khoản tiền bằng với khoản lãi suất tín dụng cho vay mà Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với khoản tiền khởi kiện và thời gian giải quyết vụ kiện cho cơ quan thi hành án dân sự, làm cơ sở để thụ lý và giải quyết vụ kiện. Nếu người bị khởi kiện không nộp số tiền trên, người khởi kiện có quyền yêu cầu Toà án kê biên bất kỳ tài sản nào tương ứng với số tiền khởi kiện hoặc toàn bộ tài sản của người bị khởi kiện để bảo đảm thực thi nghĩa vụ trả nợ sau này (nếu thắng kiện). Khi án có hiệu lực pháp luật, theo quyết định của Toà án, nếu nguời bị khởi kiện có nghĩa vụ trả tiền, cơ quan thi hành án dân sự chỉ cần dùng số tiền họ đã nộp trước trả cho người khởi kiện; nếu họ không có nghĩa vụ trả tiền, thì cơ quan thi hành án dân sự trả lại số tiền mà họ đã tạm nộp hoặc giải toả kê biên, trả lại tài sản cho họ, người khởi kiện phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị khởi kiện bằng toàn bộ khoản tiền theo mức lãi suất cho vay mà người khởi kiện đã tạm nộp trong giai đoạn xét xử vụ việc và những chi phí phát sinh khác, thậm chí còn phải chịu khoản tiền phạt nếu lợi dụng việc khởi kiện để gây thiệt hại về thời gian, công sức và tài sản đối với người bị khởi kiện.

2. Đối với các vụ tranh chấp, phân chia tài sản: Pháp luật cần sửa đổi theo hướng quy định khi giải quyết vụ kiện, cơ quan thi hành án dân sự được tham gia cùng Toà án trong việc xác minh tài sản, vẽ sơ đồ hiện trạng, xác định mốc giới đối với nhà đất..., để có sự định hình và thống nhất giữa các dữ kiện cho việc thi hành án sau này. Thực tế hiện nay khi giải quyết các vụ việc loại này, Toà án cũng vẫn phải phối hợp với các cơ quan hữu quan khác để tiến hành những công việc trên. Nếu cơ quan thi hành án dân sự được tham gia vào công việc này thì cũng là chỉ thêm một thành phần, nhưng hiệu quả khi thi hành án là rất to lớn. Bởi vì, khi tổ chức thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự chỉ cần căn cứ vào quyết định của Toà án, các dữ kiện đã thu thập được trước đây để xác định tài sản, phân chia tài sản tranh chấp, đảm bảo được tính chính xác của bản án. Quy định như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành án, hạn chế được tình trạng vướng mắc, sai sót giữa bản án của Toà án với thực tế khi thi hành án, mà vướng mắc này hiện nay vẫn đang là nguyên nhân dẫn đến nhiều vụ việc thi hành án còn tồn đọng do bản án không thi hành được.

3. Đối với các việc dân sự trong vụ án hình sự: Như bồi thường thiệt hại, tịch thu tài sản, truy thu do thu lợi bất chính..., pháp luật cần quy định rõ trong khi giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng như: Công an, Toà án phải có trách nhiệm uớc tính tất cả nghĩa vụ dân sự mà bị can, bị cáo sẽ phải thi hành, đồng thời phải triệt để thực hiện việc kê biên, tạm giữ tài sản của họ để đảm bảo cho việc thi hành án sau này.

Trước thực trạng một số người phạm tội trong các vụ án hình sự phải thi hành khoản bồi thường thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức, nhưng chưa có tài sản để thi hành án, dẫn đến những tổn hại về tính mạng, vật chất hay tinh thần của người bị hại trong vụ án không được đảm bảo, công lý không được thực thi và làm cho vụ việc tồn đọng, cần thành lập Quỹ bảo đảm bồi thường thiệt hại trong các vụ án hình sự để chi trả thay cho người phải thi hành án. Quỹ bảo đảm bồi thường thiệt hại trong các vụ án hình sự có thể được thành lập ở trung ương, do Uỷ ban các vấn đề về xã hội của Quốc hội quản lý. Nguồn kinh phí của Quỹ có thể do Nhà nước bảo đảm một phần (vì Nhà nước có trách nhiệm trong việc quản lý xã hội và duy trì trật tự pháp luật, khi người bị hại không được bồi thường bởi hành vi phạm tội thì trật tự xã hội không được bảo đảm, phán quyết của Toà án nhân danh Nhà nước không được hiện thực hoá) và đóng góp của các tổ chức, cá nhân khác. Các tổ chức, cá nhân này sẽ được Nhà nước ưu đãi, tạo điều kiện trong một số hoạt động xã hội nào đó vì đã giúp Nhà nước hoàn thành tốt chức năng đảm bảo trật tự xã hội. Khi bản án, quyết định của Toà án về bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự được thi hành, người bị hại yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự áp dụng các biện pháp để buộc người phạm tội phải bồi thường thiệt hại cho họ. Trong trường hợp người phạm tội chưa có khả năng bồi thường như không có tài sản, đang chấp hành hình phạt tù không có tài sản, không có thu nhập nào khác..., trên cơ sở xác nhận của cơ quan thi hành án dân sự, người bị hại có quyền làm đơn đến Quỹ bảo đảm bồi thường thiệt hại trong các vụ án hình sự để yêu cầu được bồi thường thiệt hại thay cho người phải thi hành án. Dựa vào bản án, quyết định của Toà án, xác nhận của cơ quan thi hành án dân sự về việc người phải thi hành án chưa có điều kiện để thi hành án, Quỹ bảo đảm bồi thường thiệt hại trong các vụ án hình sự sẽ chịu trách nhiệm chi trả cho người bị hại khoản bồi thường thiệt hại mà họ được hưởng theo quyết định của Toà án. Quỹ này sau đó sẽ kiện yêu cầu người có hành vi phạm tội hoàn lại các khoản này. Người có hành vi phạm tội sẽ hoàn trả lại Quỹ bằng khoản thu nhập do lao động tại nơi chấp hành hình phạt tù hay trả dần sau khi hết hạn tù, hoặc do người thân trả giúp. Hiện nay, đặc xá là chủ trương lớn, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của Đảng, Nhà nước và truyền thống của dân tộc ta đối với người bị kết án tù. Một trong những điều kiện để người bị kết án được đặc xá là họ phải thực hiện xong phần trách nhiệm dân sự trong bản án hình sự. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp, do họ chưa thực hiện xong phần trách nhiệm dân sự trong bản án hình sự nên chậm được hưởng chính sách đặc xá, mặc dù đáp ứng được các điều kiện khác. Vì vậy, đối với những trường hợp này, nên áp dụng chính sách “đặc xá có điều kiện”, tức là vẫn xét cho họ được đặc xá không phải chấp hành hình phạt tù nữa nhưng với điều kiện họ phải ở lại lao động tại trại giam một thời gian để có thu nhập hoàn trả khoản tiền mà Quỹ đã trả thay cho họ, tất nhiên trong thời gian này họ được đối xử khác với những người đang phải chấp hành án. Khi đã hoàn trả Quỹ đầy đủ hoặc khi Quỹ thấy không cần thiết phải giữ họ ở lại lao động nữa thì sẽ trao quyết định đặc xá cho họ. Với cơ chế thi hành án như vậy quyền lợi của người bị hại trong các vụ án hình sự sẽ được bảo đảm, phán quyết của Toà án sẽ được thi hành một cách nhanh chóng, công lý được thực thi, nhưng quan trọng nhất là Nhà nước đã thực hiện tốt chức năng, vai trò của mình trong việc đảm bảo ổn định trật tự xã hội.

4. Đối với các vụ có thế chấp tài sản: Thực tế công tác thi hành án dân sự cho thấy, có rất nhiều vụ việc, khi một người (ví dụ người chồng) có nhu cầu vay tiền tại các tổ chức tín dụng pháp luật và phải thế chấp tài sản để bảo đảm tiền vay, họ thường mang thế chấp tài sản thuộc sở hữu chung của gia đình như nhà, quyền sử dụng đất..., có giá trị lớn hơn hoặc bằng khoản tiền cần vay của tổ chức tín dụng. Người đồng sở hữu (người vợ) thường ký tên vào hợp đồng thế chấp tài sản với ý nghĩa là đồng sở hữu tài sản cũng đồng ý với việc thế chấp tài sản. Khi không trả được nợ, tổ chức tín dụng khởi kiện ra Toà án, Toà án quyết định chỉ buộc một mình người vay phải trả nợ cho tổ chức tín dụng, vì chỉ có mình họ đứng tên trong hợp đồng tín dụng. Khi xử lý tài sản thế chấp, việc thi hành án gặp vướng mắc, vì về nguyên tắc, chỉ được dùng tài sản của người phải thi hành án để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án của họ, trong khi đó tài sản thế chấp là tài sản chung, đồng sở hữu còn lại không có nghĩa vụ phải trả nợ theo quyết định của bản án, nên không thể xử lý phần tài sản của họ (mặc dù họ đã đồng ý mang thế chấp) để thi hành án được, vì vậy vụ việc không thể thi hành dứt điểm được và tồn đọng kéo dài. Để giải quyết những trường hợp này, pháp luật cần được sửa đổi theo hướng quy định rõ cơ quan thi hành án dân sự có quyền xử lý ngay và toàn bộ tài sản đã đem thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ tiền vay theo quyết định của Toà án. Người đồng sở hữu có quyền khởi kiện để buộc người phải thi hành án có trách nhiệm trả lại cho mình phần tài sản trong tài sản thế chấp đã bị xử lý.

5. Đối với những vụ việc mà đương sự phải tự mình thực hiện, nhưng có thể thuê người khác làm thay được (ví dụ nghĩa vụ tháo dỡ bức tường xây lấn chiếm trên đất của người khác): Khi thụ lý vụ kiện, Toà án cần dự tính khoản tiền chi phí để thuê người khác thực hiện thay (nếu sau này đương sự thua kiện không tự nguyện thi hành án) và buộc cả 2 bên đương sự đều phải nộp trước khi xét xử. Khi thi hành án, nếu người có nghĩa vụ không tự nguyện thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự chỉ cần dùng khoản tiền nộp trước của họ thuê người khác thực hiện thay, khoản tiền của người thắng kiện đã nộp được trả lại cho họ.

6. Đối với khoản án phí dân sự: Pháp luật cần quy định các đương sự phải nộp tạm ứng toàn bộ số tiền án phí nếu họ phải nộp khi thua kiện là điều kiện để toà án thụ lý xét xử vụ việc dân sự. Bất cứ một bản án, quyết định giải quyết một vụ việc dân sự nào được Toà án xét xử đều có phần quyết định về án phí, lệ phí Toà án (trừ những trường hợp được Toà án miễn nộp án phí, lệ phí theo quy định của pháp luật). án phí, lệ phí Toà án là khoản thu nộp ngân sách nhà nước nên cơ quan thi hành án dân sự phải chủ động ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành. Thực tế công tác thi hành án dân sự hiện nay cho thấy, có rất nhiều vụ việc thi hành án dân sự bị tồn đọng là do đương sự (bao gồm cả người thắng kiện) không nộp tiền án phí sau khi vụ việc được toà án xét xử. Điều này xuất phát từ việc pháp luật hiện nay quy định chỉ có người khởi kiện vụ kiện dân sự mới có nghĩa vụ phải nộp tiền tạm ứng án phí và coi đây là một điều kiện bắt buộc để toà án có cơ sở xem xét, thụ lý đơn khởi kiện. Tuy nhiên, trong vụ án dân sự có giá ngạch người khởi kiện chỉ phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bằng 50% mức án phí dân sự sơ thẩm mà Tòa án dự tính theo giá trị tài sản có tranh chấp mà đương sự yêu cầu giải quyết. Số tiền tạm ứng án phí này được nộp cho cơ quan thi hành án dân sự nơi Toà án xét xử sơ thẩm. Khi ra bản án, quyết định, Toà án quyết định nghĩa vụ chịu án phí theo nguyên tắc đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận, theo đó, nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn không được Tòa án chấp nhận; bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận; nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận. Như vậy, trong rất nhiều trường hợp, người thua kiện phải chịu 100% án phí dân sự, nhưng do trước đó họ không phải nộp một khoản tiền tạm ứng án phí nào cả, nên khi bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan thi hành án dân sự là đi thu khoản án phí này. Tuy nhiên, những người thua kiện thường có tâm lý đã thua kiện lại phải mất tiền án phí nên tìm mọi cách để trì hoãn, trốn tránh nghĩa vụ nộp án phí. Bên cạnh đó, nhiều vụ việc do tài sản tranh chấp có giá trị lớn như nhà, đất, chia thừa kế là bất động sản (xuất hiện nhiều ở nông thôn trong thời gian gần đây)..., nên số tiền án phí cũng không nhỏ (thường là từ vài triệu đồng tới hàng trăm triệu đồng). Việc buộc người thua kiện (nhất là ở nông thôn) nộp toàn bộ số tiền án phí này một lúc là rất khó khăn, vì vậy, cơ quan thi hành án dân sự phải mất rất nhiều thời gian và công sức mới có thể thu được đầy đủ số tiền án phí theo quyết định của Toà án, làm cho nhiều vụ việc tồn đọng kéo dài.

Để giải quyết những trường hợp này, theo chúng tôi, pháp luật về án phí, lệ phí Toà án cần sửa đổi quy định người khởi kiện chỉ phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bằng 50% mức án phí dân sự sơ thẩm mà Tòa án dự tính theo giá trị tài sản có tranh chấp mà đương sự yêu cầu giải quyết, người bị khởi kiện không phải nộp bất cứ một khoản tiền tạm ứng án phí nào trong vụ án dân sự có giá ngạch như hiện nay, thành quy định tất cả các bên đương sự đều phải nộp số tiền tạm ứng án phí bằng 100% mức án phí dân sự sơ thẩm mà Tòa án dự tính theo giá trị tài sản có tranh chấp mà đương sự yêu cầu giải quyết cho cơ quan thi hành án dân sự nơi Toà án thụ lý vụ việc. Qua việc thu tiền tạm ứng án phí ở các cơ quan thi hành án dân sự cho thấy, ở thời điểm phát sinh vụ kiện, tâm lý của các bên đương sự lúc này là sẵn sàng nộp ngay số tiền tạm ứng án phí này để được Toà án phân xử. Số tiền tạm ứng án phí này sẽ được hoàn trả toàn bộ cho người không phải chịu án phí hoặc hoàn trả một phần khi họ phải chịu một phần án phí theo quyết định của Toà án khi xét xử vụ kiện. Khi tổ chức thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự chỉ phải làm thủ tục nộp ngân sách nhà nước số tiền án phí đương sự phải nộp hoặc trả cho đương sự số tiền tạm ứng án phí họ được hoàn trả theo quyết định của Toà án. Như vậy quyền lợi của các bên đương sự vẫn được đảm bảo, đồng thời phần bản án, quyết định về án phí dân sự của Toà án được thi hành xong một cách dứt điểm với thời gian ngắn nhất, không bị tồn đọng.

7. Đối với án phí hình sự: Pháp luật nên bỏ quy định người bị kết án phải chịu án phí hình sự. án phí là khoản chi phí về xét xử một vụ án mà đương sự phải nộp trong mỗi vụ án do cơ quan có thẩm quyền quy định. Tuy nhiên, án phí hình sự mà người bị kết án phải nộp thì chỉ mang tính chất tượng trưng, vì số tiền mà họ phải nộp (hiện nay là 200.000 đồng) không đủ để chi phí cho bất kỳ việc xét xử vụ án hình sự nào. Nhưng dù ít như vậy, cũng có rất nhiều đương sự không có khả năng nộp khoản tiền này, dẫn đến việc thi hành án bị tồn đọng. Vì vậy, cơ quan có thẩm quyền phải quy định họ được miễn thi hành khoản tiền này khi hết một khoảng thời gian nhất định mà họ vẫn không có điều kiện để thi hành án. Như vậy, phần phán quyết này của bản án, mặc dù chỉ mang tính chất tượng trưng, nhưng cuối cùng cũng không thi hành được mà lại làm cho việc thi hành án bị kéo dài. Thực chất, pháp luật hình sự là công việc chủ động của Nhà nước nhằm giữ gìn trật tự, kỷ cương xã hội, trừng trị những người phạm tội dù họ không mong muốn. Do đó, Nhà nước cần xoá bỏ việc thu án phí hình sự. Như vậy, cũng sẽ giải quyết được nguồn gốc phát sinh lượng án tồn đọng. Về lâu dài, cần sửa đổi các luật có liên quan như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự... theo hướng, khi quyết định trách nhiệm về tài sản, Tòa án chỉ tuyên án trong khả năng có điều kiện thi hành của đương sự. Nghiên cứu xây dựng tiêu chí cơ chế cho phép xoá nợ đối với những khoản qua xác minh chắc chắn không thể thi hành được trên thực tế.

Đặng Đình Quyền

Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.

Theo dõi chúng tôi trên: