Chủ nhật 12/07/2026 03:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Biện pháp bảo đảm cho bản án, quyết định về dân sự của Tòa án có tính khả thi

Hiện nay, sau khi Toà án ra phán quyết, ở giai đoạn thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự thường phải điều tra, xác minh tài sản, thu nhập của người phải thi hành án để buộc họ thực thi nghĩa vụ nếu không tự nguyện thi hành.

Việc điều tra, xác minh thu nhập, tài sản của người phải thi hành án thường mất rất nhiều thời gian và công sức, làm cho việc thi hành án bị kéo dài, vì có rất ít trường hợp đương sự tự nguyện cung cấp điều kiện thi hành án của mình, thậm chí nhiều trường hợp còn dùng nhiều cách tẩu tán, che giấu tài sản, thu nhập để trì hoãn, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án. Vì vậy, tìm ra một cơ chế bảo đảm cho bản án, quyết định về dân sự của Toà án có tính khả thi ngay sau khi Toà án ra phán quyết là vấn đề đang được quan tâm hiện nay.

Để phán quyết của Toà án được bảo đảm thi hành một cách nhanh chóng, hiệu quả nhất, qua thực tiễn, chúng tôi mạnh dạn đề xuất một số biện pháp bảo đảm tính khả thi của các bản án, quyết định về dân sự của Toà án để bạn đọc tham gia ý kiến.

1. Đối với các vụ kiện về nghĩa vụ trả tiền: Pháp luật cần sửa đổi theo hướng quy định khi vụ kiện xảy ra, Toà án yêu cầu người bị khởi kiện phải tạm nộp một khoản tiền bằng giá trị số tiền bị đòi nợ để chứng minh mình không có nghĩa vụ, người khởi kiện phải tạm nộp một khoản tiền bằng với khoản lãi suất tín dụng cho vay mà Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với khoản tiền khởi kiện và thời gian giải quyết vụ kiện cho cơ quan thi hành án dân sự, làm cơ sở để thụ lý và giải quyết vụ kiện. Nếu người bị khởi kiện không nộp số tiền trên, người khởi kiện có quyền yêu cầu Toà án kê biên bất kỳ tài sản nào tương ứng với số tiền khởi kiện hoặc toàn bộ tài sản của người bị khởi kiện để bảo đảm thực thi nghĩa vụ trả nợ sau này (nếu thắng kiện). Khi án có hiệu lực pháp luật, theo quyết định của Toà án, nếu nguời bị khởi kiện có nghĩa vụ trả tiền, cơ quan thi hành án dân sự chỉ cần dùng số tiền họ đã nộp trước trả cho người khởi kiện; nếu họ không có nghĩa vụ trả tiền, thì cơ quan thi hành án dân sự trả lại số tiền mà họ đã tạm nộp hoặc giải toả kê biên, trả lại tài sản cho họ, người khởi kiện phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị khởi kiện bằng toàn bộ khoản tiền theo mức lãi suất cho vay mà người khởi kiện đã tạm nộp trong giai đoạn xét xử vụ việc và những chi phí phát sinh khác, thậm chí còn phải chịu khoản tiền phạt nếu lợi dụng việc khởi kiện để gây thiệt hại về thời gian, công sức và tài sản đối với người bị khởi kiện.

2. Đối với các vụ tranh chấp, phân chia tài sản: Pháp luật cần sửa đổi theo hướng quy định khi giải quyết vụ kiện, cơ quan thi hành án dân sự được tham gia cùng Toà án trong việc xác minh tài sản, vẽ sơ đồ hiện trạng, xác định mốc giới đối với nhà đất..., để có sự định hình và thống nhất giữa các dữ kiện cho việc thi hành án sau này. Thực tế hiện nay khi giải quyết các vụ việc loại này, Toà án cũng vẫn phải phối hợp với các cơ quan hữu quan khác để tiến hành những công việc trên. Nếu cơ quan thi hành án dân sự được tham gia vào công việc này thì cũng là chỉ thêm một thành phần, nhưng hiệu quả khi thi hành án là rất to lớn. Bởi vì, khi tổ chức thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự chỉ cần căn cứ vào quyết định của Toà án, các dữ kiện đã thu thập được trước đây để xác định tài sản, phân chia tài sản tranh chấp, đảm bảo được tính chính xác của bản án. Quy định như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành án, hạn chế được tình trạng vướng mắc, sai sót giữa bản án của Toà án với thực tế khi thi hành án, mà vướng mắc này hiện nay vẫn đang là nguyên nhân dẫn đến nhiều vụ việc thi hành án còn tồn đọng do bản án không thi hành được.

3. Đối với các việc dân sự trong vụ án hình sự: Như bồi thường thiệt hại, tịch thu tài sản, truy thu do thu lợi bất chính..., pháp luật cần quy định rõ trong khi giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng như: Công an, Toà án phải có trách nhiệm uớc tính tất cả nghĩa vụ dân sự mà bị can, bị cáo sẽ phải thi hành, đồng thời phải triệt để thực hiện việc kê biên, tạm giữ tài sản của họ để đảm bảo cho việc thi hành án sau này.

Trước thực trạng một số người phạm tội trong các vụ án hình sự phải thi hành khoản bồi thường thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức, nhưng chưa có tài sản để thi hành án, dẫn đến những tổn hại về tính mạng, vật chất hay tinh thần của người bị hại trong vụ án không được đảm bảo, công lý không được thực thi và làm cho vụ việc tồn đọng, cần thành lập Quỹ bảo đảm bồi thường thiệt hại trong các vụ án hình sự để chi trả thay cho người phải thi hành án. Quỹ bảo đảm bồi thường thiệt hại trong các vụ án hình sự có thể được thành lập ở trung ương, do Uỷ ban các vấn đề về xã hội của Quốc hội quản lý. Nguồn kinh phí của Quỹ có thể do Nhà nước bảo đảm một phần (vì Nhà nước có trách nhiệm trong việc quản lý xã hội và duy trì trật tự pháp luật, khi người bị hại không được bồi thường bởi hành vi phạm tội thì trật tự xã hội không được bảo đảm, phán quyết của Toà án nhân danh Nhà nước không được hiện thực hoá) và đóng góp của các tổ chức, cá nhân khác. Các tổ chức, cá nhân này sẽ được Nhà nước ưu đãi, tạo điều kiện trong một số hoạt động xã hội nào đó vì đã giúp Nhà nước hoàn thành tốt chức năng đảm bảo trật tự xã hội. Khi bản án, quyết định của Toà án về bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự được thi hành, người bị hại yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự áp dụng các biện pháp để buộc người phạm tội phải bồi thường thiệt hại cho họ. Trong trường hợp người phạm tội chưa có khả năng bồi thường như không có tài sản, đang chấp hành hình phạt tù không có tài sản, không có thu nhập nào khác..., trên cơ sở xác nhận của cơ quan thi hành án dân sự, người bị hại có quyền làm đơn đến Quỹ bảo đảm bồi thường thiệt hại trong các vụ án hình sự để yêu cầu được bồi thường thiệt hại thay cho người phải thi hành án. Dựa vào bản án, quyết định của Toà án, xác nhận của cơ quan thi hành án dân sự về việc người phải thi hành án chưa có điều kiện để thi hành án, Quỹ bảo đảm bồi thường thiệt hại trong các vụ án hình sự sẽ chịu trách nhiệm chi trả cho người bị hại khoản bồi thường thiệt hại mà họ được hưởng theo quyết định của Toà án. Quỹ này sau đó sẽ kiện yêu cầu người có hành vi phạm tội hoàn lại các khoản này. Người có hành vi phạm tội sẽ hoàn trả lại Quỹ bằng khoản thu nhập do lao động tại nơi chấp hành hình phạt tù hay trả dần sau khi hết hạn tù, hoặc do người thân trả giúp. Hiện nay, đặc xá là chủ trương lớn, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của Đảng, Nhà nước và truyền thống của dân tộc ta đối với người bị kết án tù. Một trong những điều kiện để người bị kết án được đặc xá là họ phải thực hiện xong phần trách nhiệm dân sự trong bản án hình sự. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp, do họ chưa thực hiện xong phần trách nhiệm dân sự trong bản án hình sự nên chậm được hưởng chính sách đặc xá, mặc dù đáp ứng được các điều kiện khác. Vì vậy, đối với những trường hợp này, nên áp dụng chính sách “đặc xá có điều kiện”, tức là vẫn xét cho họ được đặc xá không phải chấp hành hình phạt tù nữa nhưng với điều kiện họ phải ở lại lao động tại trại giam một thời gian để có thu nhập hoàn trả khoản tiền mà Quỹ đã trả thay cho họ, tất nhiên trong thời gian này họ được đối xử khác với những người đang phải chấp hành án. Khi đã hoàn trả Quỹ đầy đủ hoặc khi Quỹ thấy không cần thiết phải giữ họ ở lại lao động nữa thì sẽ trao quyết định đặc xá cho họ. Với cơ chế thi hành án như vậy quyền lợi của người bị hại trong các vụ án hình sự sẽ được bảo đảm, phán quyết của Toà án sẽ được thi hành một cách nhanh chóng, công lý được thực thi, nhưng quan trọng nhất là Nhà nước đã thực hiện tốt chức năng, vai trò của mình trong việc đảm bảo ổn định trật tự xã hội.

4. Đối với các vụ có thế chấp tài sản: Thực tế công tác thi hành án dân sự cho thấy, có rất nhiều vụ việc, khi một người (ví dụ người chồng) có nhu cầu vay tiền tại các tổ chức tín dụng pháp luật và phải thế chấp tài sản để bảo đảm tiền vay, họ thường mang thế chấp tài sản thuộc sở hữu chung của gia đình như nhà, quyền sử dụng đất..., có giá trị lớn hơn hoặc bằng khoản tiền cần vay của tổ chức tín dụng. Người đồng sở hữu (người vợ) thường ký tên vào hợp đồng thế chấp tài sản với ý nghĩa là đồng sở hữu tài sản cũng đồng ý với việc thế chấp tài sản. Khi không trả được nợ, tổ chức tín dụng khởi kiện ra Toà án, Toà án quyết định chỉ buộc một mình người vay phải trả nợ cho tổ chức tín dụng, vì chỉ có mình họ đứng tên trong hợp đồng tín dụng. Khi xử lý tài sản thế chấp, việc thi hành án gặp vướng mắc, vì về nguyên tắc, chỉ được dùng tài sản của người phải thi hành án để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án của họ, trong khi đó tài sản thế chấp là tài sản chung, đồng sở hữu còn lại không có nghĩa vụ phải trả nợ theo quyết định của bản án, nên không thể xử lý phần tài sản của họ (mặc dù họ đã đồng ý mang thế chấp) để thi hành án được, vì vậy vụ việc không thể thi hành dứt điểm được và tồn đọng kéo dài. Để giải quyết những trường hợp này, pháp luật cần được sửa đổi theo hướng quy định rõ cơ quan thi hành án dân sự có quyền xử lý ngay và toàn bộ tài sản đã đem thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ tiền vay theo quyết định của Toà án. Người đồng sở hữu có quyền khởi kiện để buộc người phải thi hành án có trách nhiệm trả lại cho mình phần tài sản trong tài sản thế chấp đã bị xử lý.

5. Đối với những vụ việc mà đương sự phải tự mình thực hiện, nhưng có thể thuê người khác làm thay được (ví dụ nghĩa vụ tháo dỡ bức tường xây lấn chiếm trên đất của người khác): Khi thụ lý vụ kiện, Toà án cần dự tính khoản tiền chi phí để thuê người khác thực hiện thay (nếu sau này đương sự thua kiện không tự nguyện thi hành án) và buộc cả 2 bên đương sự đều phải nộp trước khi xét xử. Khi thi hành án, nếu người có nghĩa vụ không tự nguyện thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự chỉ cần dùng khoản tiền nộp trước của họ thuê người khác thực hiện thay, khoản tiền của người thắng kiện đã nộp được trả lại cho họ.

6. Đối với khoản án phí dân sự: Pháp luật cần quy định các đương sự phải nộp tạm ứng toàn bộ số tiền án phí nếu họ phải nộp khi thua kiện là điều kiện để toà án thụ lý xét xử vụ việc dân sự. Bất cứ một bản án, quyết định giải quyết một vụ việc dân sự nào được Toà án xét xử đều có phần quyết định về án phí, lệ phí Toà án (trừ những trường hợp được Toà án miễn nộp án phí, lệ phí theo quy định của pháp luật). án phí, lệ phí Toà án là khoản thu nộp ngân sách nhà nước nên cơ quan thi hành án dân sự phải chủ động ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành. Thực tế công tác thi hành án dân sự hiện nay cho thấy, có rất nhiều vụ việc thi hành án dân sự bị tồn đọng là do đương sự (bao gồm cả người thắng kiện) không nộp tiền án phí sau khi vụ việc được toà án xét xử. Điều này xuất phát từ việc pháp luật hiện nay quy định chỉ có người khởi kiện vụ kiện dân sự mới có nghĩa vụ phải nộp tiền tạm ứng án phí và coi đây là một điều kiện bắt buộc để toà án có cơ sở xem xét, thụ lý đơn khởi kiện. Tuy nhiên, trong vụ án dân sự có giá ngạch người khởi kiện chỉ phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bằng 50% mức án phí dân sự sơ thẩm mà Tòa án dự tính theo giá trị tài sản có tranh chấp mà đương sự yêu cầu giải quyết. Số tiền tạm ứng án phí này được nộp cho cơ quan thi hành án dân sự nơi Toà án xét xử sơ thẩm. Khi ra bản án, quyết định, Toà án quyết định nghĩa vụ chịu án phí theo nguyên tắc đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận, theo đó, nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn không được Tòa án chấp nhận; bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận; nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận. Như vậy, trong rất nhiều trường hợp, người thua kiện phải chịu 100% án phí dân sự, nhưng do trước đó họ không phải nộp một khoản tiền tạm ứng án phí nào cả, nên khi bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan thi hành án dân sự là đi thu khoản án phí này. Tuy nhiên, những người thua kiện thường có tâm lý đã thua kiện lại phải mất tiền án phí nên tìm mọi cách để trì hoãn, trốn tránh nghĩa vụ nộp án phí. Bên cạnh đó, nhiều vụ việc do tài sản tranh chấp có giá trị lớn như nhà, đất, chia thừa kế là bất động sản (xuất hiện nhiều ở nông thôn trong thời gian gần đây)..., nên số tiền án phí cũng không nhỏ (thường là từ vài triệu đồng tới hàng trăm triệu đồng). Việc buộc người thua kiện (nhất là ở nông thôn) nộp toàn bộ số tiền án phí này một lúc là rất khó khăn, vì vậy, cơ quan thi hành án dân sự phải mất rất nhiều thời gian và công sức mới có thể thu được đầy đủ số tiền án phí theo quyết định của Toà án, làm cho nhiều vụ việc tồn đọng kéo dài.

Để giải quyết những trường hợp này, theo chúng tôi, pháp luật về án phí, lệ phí Toà án cần sửa đổi quy định người khởi kiện chỉ phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bằng 50% mức án phí dân sự sơ thẩm mà Tòa án dự tính theo giá trị tài sản có tranh chấp mà đương sự yêu cầu giải quyết, người bị khởi kiện không phải nộp bất cứ một khoản tiền tạm ứng án phí nào trong vụ án dân sự có giá ngạch như hiện nay, thành quy định tất cả các bên đương sự đều phải nộp số tiền tạm ứng án phí bằng 100% mức án phí dân sự sơ thẩm mà Tòa án dự tính theo giá trị tài sản có tranh chấp mà đương sự yêu cầu giải quyết cho cơ quan thi hành án dân sự nơi Toà án thụ lý vụ việc. Qua việc thu tiền tạm ứng án phí ở các cơ quan thi hành án dân sự cho thấy, ở thời điểm phát sinh vụ kiện, tâm lý của các bên đương sự lúc này là sẵn sàng nộp ngay số tiền tạm ứng án phí này để được Toà án phân xử. Số tiền tạm ứng án phí này sẽ được hoàn trả toàn bộ cho người không phải chịu án phí hoặc hoàn trả một phần khi họ phải chịu một phần án phí theo quyết định của Toà án khi xét xử vụ kiện. Khi tổ chức thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự chỉ phải làm thủ tục nộp ngân sách nhà nước số tiền án phí đương sự phải nộp hoặc trả cho đương sự số tiền tạm ứng án phí họ được hoàn trả theo quyết định của Toà án. Như vậy quyền lợi của các bên đương sự vẫn được đảm bảo, đồng thời phần bản án, quyết định về án phí dân sự của Toà án được thi hành xong một cách dứt điểm với thời gian ngắn nhất, không bị tồn đọng.

7. Đối với án phí hình sự: Pháp luật nên bỏ quy định người bị kết án phải chịu án phí hình sự. án phí là khoản chi phí về xét xử một vụ án mà đương sự phải nộp trong mỗi vụ án do cơ quan có thẩm quyền quy định. Tuy nhiên, án phí hình sự mà người bị kết án phải nộp thì chỉ mang tính chất tượng trưng, vì số tiền mà họ phải nộp (hiện nay là 200.000 đồng) không đủ để chi phí cho bất kỳ việc xét xử vụ án hình sự nào. Nhưng dù ít như vậy, cũng có rất nhiều đương sự không có khả năng nộp khoản tiền này, dẫn đến việc thi hành án bị tồn đọng. Vì vậy, cơ quan có thẩm quyền phải quy định họ được miễn thi hành khoản tiền này khi hết một khoảng thời gian nhất định mà họ vẫn không có điều kiện để thi hành án. Như vậy, phần phán quyết này của bản án, mặc dù chỉ mang tính chất tượng trưng, nhưng cuối cùng cũng không thi hành được mà lại làm cho việc thi hành án bị kéo dài. Thực chất, pháp luật hình sự là công việc chủ động của Nhà nước nhằm giữ gìn trật tự, kỷ cương xã hội, trừng trị những người phạm tội dù họ không mong muốn. Do đó, Nhà nước cần xoá bỏ việc thu án phí hình sự. Như vậy, cũng sẽ giải quyết được nguồn gốc phát sinh lượng án tồn đọng. Về lâu dài, cần sửa đổi các luật có liên quan như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự... theo hướng, khi quyết định trách nhiệm về tài sản, Tòa án chỉ tuyên án trong khả năng có điều kiện thi hành của đương sự. Nghiên cứu xây dựng tiêu chí cơ chế cho phép xoá nợ đối với những khoản qua xác minh chắc chắn không thể thi hành được trên thực tế.

Đặng Đình Quyền

Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.

Theo dõi chúng tôi trên: