Thứ sáu 16/01/2026 15:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bình luận về một số quy định trong dự thảo lần 2 của Luật Biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi khởi kiện

Trong quá trình xây dựng Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nhiều ý kiến cho rằng cần quy định về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi khởi kiện và sau khi khởi kiện

Trong quá trình xây dựng Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nhiều ý kiến cho rằng cần quy định về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi khởi kiện và sau khi khởi kiện. Tuy nhiên, đa số các ý kiến cho rằng việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi khởi kiện chưa thuộc quy trình tố tụng dân sự, vì vậy, vấn đề này cần được điều chỉnh bởi một văn bản quy phạm pháp luật khác. Vì vậy, tại Nghị quyết số 22/2016/QH14 ngày 22/7/2016 của Quốc hội về điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016 và chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2017, dự thảo Luật Biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi khởi kiện (sau đây gọi tắt là dự thảo Luật) dự kiến trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ ba. Hiện nay, dự án Luật đã được Ủy ban Tư pháp của Quốc hội thẩm tra và trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả nhất trí với sự cần thiết ban hành dự thảo Luật này, tuy nhiên, để hoàn thiện dự thảo thêm một bước, trong phạm vi bài viết này, tác giả bình luận về một số quy định trong dự thảo lần 2 của Luật và đưa ra đề xuất, kiến nghị hoàn thiện.

Thứ nhất, về tên gọi của dự thảo Luật

Đối chiếu với Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, cho thấy, so với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã bổ sung thêm một số các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong đó có biện pháp bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án. Trước khi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được ban hành, các biện pháp bắt giữ tàu bay, tàu biển đã được quy định trong Pháp lệnh thủ tục bắt giữ tàu biển năm 2008 và Pháp lệnh Thủ tục bắt giữ tàu bay năm 2010. Tuy nhiên, Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật; vì vậy, để bảo đảm giá trị pháp lý của các quy định về bắt giữ tàu bay, tàu biển theo quy định của Hiến pháp năm 2013, hai biện pháp này đã được đưa vào các biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Trong quá trình xây dựng dự thảo Luật, có ý kiến khác nhau về tên gọi của dự thảo Luật, vì vậy, tại dự thảo lần 2 cơ quan được phân công chủ trì soạn thảo đã đổi tên dự án thành “Luật Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi khởi kiện; thủ tục bắt giữ tàu biển, tàu bay”, với lý do việc bắt giữ tài biển, tàu bay thực chất cũng là biện pháp khẩn cấp tạm thời. Về vấn đề này, tác giả cho rằng, hai biện pháp bắt giữ tàu biển và tàu bay là một trong số các biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được quy định tại Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, do đó, không nên thay đổi tên gọi của dự thảo Luật mà thay vào đó, nên giữ nguyên tên gọi là “Luật Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi khởi kiện” đã được nêu tại Nghị quyết số 22/2016/QH14 ngày 22/7/2016 của Quốc hội.

Thứ hai, về trách nhiệm bồi thường của Tòa án do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi khởi kiện, bắt giữ tàu biển, tàu bay không đúng

Khoản 3 Điều 6 dự thảo Luật quy định: Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi khởi kiện, bắt giữ tàu biển, tàu bay không đúng mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 113 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện kháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba thì Tòa án phải bồi thường theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Do đó, để bảo đảm thống nhất với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, cần tiếp tục nghiên cứu, chỉnh lý lại theo hướng quy định cụ thể việc bồi thường trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 6 dự thảo Luật được thực hiện theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Bên cạnh đó, dự thảo Luật quy định Tòa án trong trường hợp ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi khởi kiện, bắt giữ tàu biển, tàu bay không đúng mà gây thiệt hại thì phải bổi thường. Tuy nhiên, trường hợp có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi khởi kiện nhưng Thẩm phán được phân công giải quyết không ra quyết định hoặc chậm ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi khởi kiện mà gây thiệt hại cho người yêu cầu thì Tòa án có trách nhiệm bồi thường hay không?

Điều 28 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 và Điều 19 dự thảo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi) mà Chính phủ trình Quốc hội theo Tờ trình số 336/TTr-CP ngày 23/9/2016 quy định Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người tiến hành tố tụng dân sự gây ra trong các trường hợp:

“1. Tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trái pháp luật.

2. Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác với biện pháp khẩn cấp tạm thời mà cá nhân, tổ chức có yêu cầu.

3. Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cá nhân, tổ chức.

4. Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật hoặc không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không có lý do chính đáng.

5. Ra bản án, quyết định trái pháp luật tố tụng dân sự, tố tụng hành chính hoặc làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc.”

Do đó, để bảo đảm tính thống nhất cũng như bao quát đầy đủ các trường hợp phát sinh trong thực tiễn, cần nghiên cứu, bổ sung trong dự thảo về trách nhiệm bồi thường của Tòa án trong trường hợp không ra quyết định hoặc chậm ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi khởi kiện mà gây thiệt hại cho người yêu cầu.

Thứ ba, về thời hạn xử lý đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi khởi kiện

Khoản 2 Điều 29 dự thảo Luật quy định: “Trong thời hạn 48 giờ, kể từ thời điểm nhận được đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Thẩm phán phải xem xét đơn và ra một trong các quyết định...”. Về vấn đề này, tác giả cho rằng cần cân nhắc về tính khả thi của quy định này. Cụ thể, Luật này được ban hành để giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có, tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc để đảm bảo thi hành án. Tuy nhiên, đối với một số biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi khởi kiện, như phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ (khoản 6 Điều 4 dự thảo Luật) hoặc phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước, phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ (khoản 5 Điều 4 dự thảo Luật) thì 48 giờ là quá dài để trong thời gian đó đương sự có thể tẩu tán tài sản, lẩn tránh nghĩa vụ thi hành án. Bên cạnh đó, có trường hợp người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi khởi kiện nộp đơn và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho Tòa án vào chiều thứ sáu thì sau 48 giờ, nghĩa là đến chủ nhật, thẩm phán được phân công giải quyết đơn có ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi khởi kiện được không? Do đó, cần nghiên cứu về tính khả thi của quy định tại Điều 2 Điều 29 dự thảo Luật. Trường hợp giữ nguyên như dự thảo thì cần thiết phải bổ sung quy định về cơ chế thực hiện để bảo đảm tính khả thi của quy định.

Thịnh Anh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: