Thứ sáu 06/03/2026 07:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bổ sung các quy định về tham vấn chính sách giúp các đối tượng liên quan tiếp cận “từ sớm, từ xa” các chính sách do Chính phủ quyết định

Nội dung này được Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Hải Ninh nhấn mạnh khi báo cáo làm rõ hơn một số vấn đề lớn liên quan đến dự thảo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi) được nhiều đại biểu Quốc hội góp ý trong phiên thảo luận tại hội trường chiều 13/02/2025.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định điều hành nội dung phiên họp.

Chất lượng chính sách sẽ quyết định đến chất lượng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

Về vấn đề tham vấn chính sách, các đại biểu Quốc hội tập trung vào 03 vấn đề liên quan đến tham vấn chính sách là sự cần thiết quy định về tham vấn chính sách; làm rõ sự khác biệt giữa tham vấn chính sách và lấy ý kiến góp ý; việc đề nghị cơ quan chủ trì đề xuất chính sách chủ trì việc tổ chức hội nghị tham vấn chính sách chứ không phải là Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban Quốc hội. Bộ trưởng Nguyễn Hải Ninh cho biết, theo dự thảo Luật, chính sách đóng vai trò rất quan trọng, là cơ sở để quy phạm hóa chính sách, hay nói cách khác là căn cứ để dịch từ chính sách sang ngôn ngữ pháp lý là dự thảo luật. Chất lượng chính sách sẽ quyết định đến chất lượng của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Việc bổ sung các quy định này là rất cần thiết nhằm mục đích thể chế hóa ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Kết luận số 119-KL/TW ngày 20/01/2025 và của Tổng Bí thư tại Thông báo số 108-TB/VPTW về việc nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật và trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật không để lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ, chính sách phải cụ thể, rõ ràng, đánh giá tác động phải thực chất; để khắc phục những tồn tại, hạn chế hiện nay trong quy trình xây dựng pháp luật và để Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội và các tổ chức, cá nhân có liên quan tiếp cận “từ sớm, từ xa” đối với các chính sách do Chính phủ quyết định.

Về phân biệt giữa tham vấn chính sách và lấy ý kiến góp ý, qua tham khảo kinh nghiệm của một số nước, Bộ trưởng chỉ ra nhiều nước đã sử dụng thuật ngữ “tham vấn chính sách”, bản chất của tham vấn chính sách cũng là việc lấy ý kiến. Tuy nhiên, có sự khác biệt về đối tượng, nội dung, phương thức, tùy thuộc vào từng hệ thống pháp luật và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng nước. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của các nước và từ điều kiện cụ thể của nước ta, bên cạnh quy định việc lấy ý kiến, dự thảo Luật lần này bổ sung quy định về khái niệm tham vấn chính sách và các quy định cụ thể về tham vấn chính sách tại Điều 30, Điều 68. Bộ trưởng cũng làm rõ sự khác nhau giữa tham vấn chính sách và lấy ý kiến góp ý, thể hiện ở 3 tiêu chí cơ bản về đối tượng lấy ý kiến, nội dung lấy ý kiến và phương thức lấy ý kiến.

Về ý kiến của một số đại biểu đề nghị phải “đổi vai”, trong dự thảo Luật quy định Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội chủ trì tổ chức hội nghị tham vấn, Bộ trưởng lý giải, với tinh thần “vừa chạy vừa xếp hàng”, Bộ Tư pháp cùng với Ủy ban Pháp luật của Quốc hội đã dự kiến tiếp thu điều này với “vai” là cơ quan đề xuất chính sách sẽ chủ trì việc tham vấn chính sách đối với Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội. Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội có quyền yêu cầu cơ quan đề xuất chính sách mời các đối tượng có liên quan đến để bảo đảm hội nghị tham vấn này thực chất và cũng bỏ quy định trong thời hạn 20 ngày Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội phải gửi văn bản tham vấn tới cơ quan đề xuất tham vấn.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Hải Ninh tiếp thu, giải trình tại phiên họp.

Dự thảo luật không đủ điều kiện để thông qua tại một kỳ họp thì vẫn có thể thông qua tại các kỳ tiếp theo

Đối với quy định luật thông qua tại một kỳ họp, theo Bộ trưởng Nguyễn Hải Ninh, quy trình trong dự thảo Luật xác định Chính phủ là cơ quan quyết định chính sách để làm cơ sở xây dựng dự thảo luật để trình Quốc hội, “vai” của Chính phủ bây giờ là chịu trách nhiệm đến cùng, do vậy Chính phủ thấy khi nào đủ điều kiện, đủ chất lượng thì trình ra Quốc hội. Trong trường hợp dự thảo luật đưa ra Quốc hội mà Quốc hội thấy không đủ điều kiện để thông qua thì vẫn có thể thông qua tại các kỳ tiếp theo như quy định của dự thảo Luật, tức là về nguyên tắc thì có thể thông qua một kỳ nhưng không đủ chất lượng thì vẫn có thể thông qua kỳ tiếp theo.

Liên quan đến hướng dẫn văn bản áp dụng pháp luật, Bộ trưởng khẳng định, đây là vấn đề mới nhằm thể chế hóa ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Kết luận số 119-KL/TW và ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư tại Thông báo số 108-TB/VPTW. Theo Bộ trưởng, hiện nay Hiến pháp quy định Ủy ban Thường vụ Quốc hội có quyền giải thích luật và nghị quyết. Nhưng với văn bản dưới luật, đang có “khoảng trống” do chúng ta chưa quy định về việc này, trong khi thực tiễn đặt ra đối với những văn bản có nội dung dẫn đến cách hiểu khác nhau thì người dân, doanh nghiệp và kể cả chính quyền địa phương thường gửi văn bản lên Trung ương.

“Tôi đã làm ở địa phương nên biết khi gửi lên Trung ương cũng có những Bộ giải thích và hướng dẫn rất cụ thể nhưng cũng có những cơ quan, những Bộ chỉ liệt kê tất cả văn bản, nói rằng làm theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật và chịu trách nhiệm toàn diện về việc đấy. Như vậy, thì không giải quyết được vấn đề”, Bộ trưởng chia sẻ và cho biết, kinh nghiệm quốc tế và Công ước Vienna về các luật, điều ước quốc tế năm 1969, dự thảo Luật tại Điều 31, 32 đã quy định các quy tắc chung về giải thích và giải thích các điều ước.

Trường hợp có hình thức bằng văn bản hành chính trái pháp luật, Bộ trưởng cho hay, nếu cơ quan có thẩm quyền phát hiện hoặc tự phát hiện văn bản của mình trái thì có quyền sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản đó hoặc khi xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức doanh nghiệp, các đối tượng có quyền khởi kiện hành chính theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Cần quan tâm, lấy ý kiến các đối tượng chịu tác động liên quan đến dự thảo luật

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga phát biểu tại phiên họp.

Về nội dung mới của dự thảo Luật là bổ sung quy định về tham vấn chính sách các cơ quan, đối tượng chịu sự tác động, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội trong quá trình xây dựng dự án luật, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn Hải Dương) nhận thấy, đây là quy định rất cần thiết. Sự tham gia từ sớm của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội sẽ góp phần hoàn thiện dự thảo ngay từ khâu xây dựng hồ sơ, dự thảo của Chính phủ; thể hiện sự đồng hành, vào cuộc và trách nhiệm của Quốc hội từ sớm trong quá trình xây dựng Luật. Đặc biệt, việc tham vấn ý kiến các đối tượng tác động là vô cùng quan trọng, đồng thời, cũng là hình thức tuyên truyền cho Nhân dân, các đối tượng chịu tác động trực tiếp về các quan điểm, chính sách mới sắp được ban hành.

Theo đại biểu Phạm Văn Hòa (Đoàn Đồng Tháp) việc tham vấn chính sách cực kỳ quan trọng để trước khi cơ quan trình hoặc cơ quan thẩm tra lấy ý kiến của các ngành, những người có liên quan, đặc biệt là những đối tượng chịu sự tác động của chính sách. Cho nên, việc họp tham vấn chính sách, đề nghị các cơ quan soạn thảo phải lưu ý cần lấy ý kiến rộng rãi, đặt mục tiêu doanh nghiệp và người dân là trên hết, đặc biệt là những đối tượng chịu tác động liên quan đến dự thảo luật cần lấy ý kiến. Đối với các đại biểu Quốc hội, cũng cần nhưng không nhất thiết phải lấy nhiều, vì các đại biểu Quốc hội sẽ tham gia thảo luận ở hội trường, ở tổ.

Đại biểu Vũ Thị Lưu Mai (Đoàn Hà Nội) cho rằng, việc quy định tham vấn là cần thiết, nhưng đó là tham vấn với các chuyên gia, với các nhà khoa học, với các cá nhân đại biểu Quốc hội, thậm chí với từng thành viên Ủy ban. Theo đại biểu, tham vấn phải đúng đối tượng, đúng bản chất và việc áp dụng đúng bản chất sẽ bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp, bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật, đặc biệt, phù hợp với sự chỉ đạo của Bộ Chính trị cũng như phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm yêu cầu, đúng “vai”, thuộc bài theo đúng chức năng, nhiệm vụ.

Tiếp cận ở góc độ khác về phản biện xã hội và tham vấn chính sách, đại biểu Nguyễn Thị Hồng Hạnh (Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh) nhận thấy, các nội dung thiết kế của Điều 6 dự thảo Luật tập trung quy định về việc phản biện xã hội và tham vấn chính sách, các văn bản do Quốc hội và các cơ quan Trung ương ban hành. Nêu ví dụ, nội dung quy định tại khoản 2 hoặc tại khoản 3 Điều 6 quy định về sự tham gia của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), từ đó, đại biểu đề nghị làm rõ phạm vi lấy ý kiến của VCCI. Nếu xác định Điều 6 là quy định chung, có nghĩa văn bản của địa phương cũng phải lấy ý kiến của VCCI. Tuy nhiên, theo đại biểu Nguyễn Thị Hồng Hạnh, hiện nay VCCI chỉ có trụ sở chi nhánh và văn phòng đại diện tại một số địa phương nên cần đánh giá thêm về việc lấy ý kiến của VCCI đối với văn bản quy phạm pháp luật của địa phương để bảo đảm tính khả thi và thống nhất trong việc áp dụng. Trường hợp quy định này chỉ áp dụng đối với quá trình xây dựng văn bản của Trung ương thì cần quy định cụ thể để tránh “lúng túng” cho địa phương khi thực hiện.

Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo luật, nghị quyết trong một kỳ họp là “một sự thay đổi rất lớn và bứt phá”

Đại biểu Trần Văn Khải phát biểu tại phiên họp.

Đại biểu Trần Văn Khải (Đoàn Hà Nam) quan tâm đến việc Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo luật, nghị quyết trong một kỳ họp, thay vì hai kỳ họp như trước đây, trừ một số trường hợp đặc biệt. Theo đại biểu, đây là sự thay đổi rất lớn và bứt phá, nhằm đẩy nhanh tiến độ xây dựng pháp luật, phù hợp với yêu cầu cải cách lập pháp và hành chính và thực hiện nghiêm chủ trương của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và chỉ đạo của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn trong việc đổi mới tư duy trong công tác lập pháp của Quốc hội.

Theo đại biểu, quy trình lập pháp rút gọn (thông qua trong một kỳ họp) quy định tại dự thảo Luật nếu được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp bất thường này sẽ tạo ra 4 thách thức và chúng ta phải có phương án xử lý hiệu quả những thách thức này. Thách thức về chất lượng lập pháp có nguy cơ giảm do rút ngắn thời gian thì cần xây dựng quy trình thẩm định nghiêm ngặt trước khi trình Quốc hội; tăng cường vai trò của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp và các cơ quan của Quốc hội trong việc thẩm tra nội dung dự thảo. Với thách thức thiếu thời gian phản biện và lấy ý kiến xã hội, cần bổ sung quy trình tham vấn từ sớm, ngay từ khi xây dựng chính sách; yêu cầu bắt buộc tổ chức hội thảo, lấy ý kiến rộng rãi trong ít nhất 60 ngày. Về thách thức tạo áp lực lớn lên các cơ quan lập pháp, cần tăng cường năng lực tài chính và nhân sự cho cơ quan soạn thảo và thẩm định, thẩm tra luật; xây dựng cơ chế hỗ trợ kỹ thuật như ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong phân tích dữ liệu pháp luật. Liên quan tới nguy cơ không đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, cần xây dựng cơ sở dữ liệu liên kết giữa các bộ luật để tránh mâu thuẫn, chồng chéo; Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm chính trong việc rà soát dự thảo trước khi trình Quốc hội.

Đại biểu Trần Văn Khải cũng đề xuất quy định rõ tiêu chí nào thì được áp dụng quy trình một kỳ họp; tăng cường trách nhiệm của cơ quan soạn thảo và thẩm định, trong đó Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm chính trong việc rà soát, đánh giá tác động; ứng dụng công nghệ trong lập pháp, sử dụng dữ liệu lớn để phân tích, đối chiếu các dự án luật, đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật; tăng cường giám sát sau ban hành; có cơ chế điều chỉnh kịp thời nếu phát hiện sai sót trong thực thi./.

PV

Ảnh: quochoi.vn

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tăng cường cải cách hành chính, phân cấp thẩm quyền trong lĩnh vực y tế

Tăng cường cải cách hành chính, phân cấp thẩm quyền trong lĩnh vực y tế

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số luật thuộc lĩnh vực y tế được xây dựng nhằm triển khai thực hiện quy định của Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19/02/2025 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước và tăng cường cải cách hành chính, phân cấp thẩm quyền trong lĩnh vực y tế; đồng thời giải quyết những nội dung còn vướng mắc trong quá trình thực hiện theo đề xuất, kiến nghị của các địa phương, đơn vị.
Tháo gỡ

Tháo gỡ 'nút thắt' trong việc viện dẫn văn bản quy phạm pháp luật

Chiều ngày 04/3/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Hải Ninh làm việc với Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật về dự án Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh hợp nhất văn bản (dự thảo Pháp lệnh).
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Cơ chế phối hợp đặc thù - chìa khóa nâng hiệu quả xử lý tranh chấp đầu tư quốc tế

Cơ chế phối hợp đặc thù - chìa khóa nâng hiệu quả xử lý tranh chấp đầu tư quốc tế

Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế quy định cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù trong phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, việc hòa giải trong tranh chấp đầu tư quốc tế, tổ chức và hoạt động của Trung tâm phòng ngừa và giải quyết đầu tư quốc tế.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Vai trò và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp địa phương trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, ngành Tư pháp luôn song hành cùng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những ngày đầu thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1945) đến nay, trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Tư pháp luôn khẳng định vị thế là cơ quan tham mưu nòng cốt trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, trước yêu cầu đột phá về thể chế để đất nước phát triển bền vững, vai trò của công tác tư pháp tại địa phương càng quan trọng, đặc biệt, trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Bộ, ngành Tư pháp: Kiến tạo thể chế thành lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển bền vững

Năm 2025 được xác định là năm có ý nghĩa “bản lề” để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và triển khai các nghị quyết quan trọng của Đảng. Trước bối cảnh đó, Bộ, ngành Tư pháp đóng vai trò then chốt trong công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc phỏng vấn đồng chí Lê Tiến Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hải Phòng về vai trò, những đóng góp nổi bật trong năm 2025 và kiến nghị đối với Bộ, ngành Tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới

Thể chế, pháp luật và lợi thế cạnh tranh quốc gia có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Hệ thống thể chế, pháp luật được xây dựng đồng bộ, thống nhất khả thi, phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, thông thoáng và có sức cạnh tranh trong hội nhập. Đồng thời, để giữ lợi thế cạnh tranh quốc gia trong hội nhập, hệ thống thể chế, pháp luật phải được quan tâm hoàn thiện để “đánh thức” mọi tiềm năng, thế mạnh, khơi thông và thu hút nguồn lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang thực hiện những giải pháp hoàn thiện thể chế, pháp luật để nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia mình trong nền kinh tế toàn cầu. Trong suốt hành trình hơn 80 năm qua, Bộ Tư pháp xứng đáng là “cơ quan trọng yếu của chính quyền”, luôn được Đảng, Nhà nước giao trọng trách thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, thi hành pháp luật. Bước vào giai đoạn phát triển mới, việc nhận diện đầy đủ và phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của Bộ, ngành Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong hội nhập là rất cần thiết, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Hoàn thiện thể chế pháp luật để khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển quốc gia

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu. Đối với Việt Nam, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu cấp bách để bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa khát vọng dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công nghệ luôn vận động với tốc độ vượt xa khả năng thích ứng của pháp luật hiện hành. Do đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại và mang tính kiến tạo được xem là chìa khóa để giải phóng nguồn lực, đưa KHCN&ĐMST và CĐS thực sự trở thành động lực chính cho sự phát triển bền vững của quốc gia.
Tạo lập khuôn khổ pháp lý đủ mạnh cho sự phát triển bền vững của Thủ đô

Tạo lập khuôn khổ pháp lý đủ mạnh cho sự phát triển bền vững của Thủ đô

Chiều ngày 09/02/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú chủ trì Phiên họp tham vấn chuyên gia kinh tế, đầu tư về Luật Thủ đô (sửa đổi). Cùng dự có Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội Phạm Thị Thanh Mai.
Nghiên cứu chính sách "cấm theo thế hệ" bảo vệ tương lai khỏi tác hại thuốc lá

Nghiên cứu chính sách "cấm theo thế hệ" bảo vệ tương lai khỏi tác hại thuốc lá

Chiều ngày 05/02/2026, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì cuộc họp thẩm định hồ sơ chính sách Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá.

Theo dõi chúng tôi trên: