Thứ ba 13/01/2026 03:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bổ sung quy định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy

Trong quá trình xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có nhiều ý kiến đề nghị sửa đổi, bổ sung Luật Xử lý vi phạm hành chính theo hướng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, do sử dụng ma túy

Trong quá trình xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có nhiều ý kiến đề nghị sửa đổi, bổ sung Luật Xử lý vi phạm hành chính theo hướng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, do sử dụng ma túy là hành vi có chủ đích, xử lý sớm hành vi này sẽ giúp họ từ bỏ hành vi trước khi bị lệ thuộc vào chất ma túy, mang lại hiệu quả cao hơn so với biện pháp xử lý khi họ đã bị nghiện. Trong bài viết này, tác giả tập trung làmcác hình thức xử lý của pháp luật hiện hành đối với hành vi sử dụng ma túy, trên cơ sở phân tích rõ các hạn chế, bất cập của pháp luật ở thời điểm hiện tại để đưa ra những đề xuất, khuyến nghị một số nội dung liên quan đến hành vi sử dụng ma túy trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Xử lý vi phạm hành chính.

1. Đặt vấn đề
Ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần, có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, được quy định trong danh mục do Chính phủ ban hành[1]. Các chất này khi xâm nhập vào cơ thể người sẽ làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý, có thể dẫn đến nghiện và từ đó gây tác hại về nhiều mặt của cuộc sống người sử dụng và cộng đồng. Vì vậy, Luật Phòng, chống ma túy năm 2000 được Quốc hội thông qua ngày 09/12/2000, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2001 và được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2008 (sau đây gọi chung là Luật Phòng, chống ma túy), đã tạo hành lang pháp lý cho công tác phòng, chống ma túy, góp phần quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng, chống ma túy, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội. Luật Phòng chống ma túy đã nêu rõ “tệ nạn ma túy là tình trạng nghiện ma túy, tội phạm về ma túy và các hành vi trái phép khác về ma túy” (khoản 8 Điều 2). Quy định của Luật Phòng, chống ma túy thể hiện rõ việc sử dụng ma túy, nghiện ma túy và tội phạm ma túy là hành vi trái pháp luật, vậy chế tài xử lý đối với vi phạm này hiện tại được pháp luật quy định như thế nào? Chế tài đó còn hạn chế gì cần bổ sung, hoàn thiện không để góp phần hiệu quả trong việc bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội ở thời điểm hiện nay và trong những năm sau này.
Sử dụng ma túy, chống lại hoặc cản trở việc cai nghiện ma túy là một trong những hành vi bị nghiêm cấm trong phòng, chống ma túy[2], theo đó, người có hành vi sử dụng ma túy sẽ bị áp dụng chế tài xử phạt vi phạm hành chính (VPHC)[3], người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên sẽ bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính hạn chế tự do và bị quản lý, giáo dục, cai nghiện[4] theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đã được cai nghiện tại gia đình, cộng đồng hoặc đã được giáo dục nhiều lần tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc không có nơi cư trú nhất định thì được đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc dành riêng cho họ, tuy nhiên, việc cai nghiện ma túy đối với người nghiện ma túy trong độ tuổi này không coi là việc xử lý VPHC[5]. Như vậy, hành vi sử dụng ma túy hiện nay chỉ bị xử phạt VPHC, trường hợp VPHC nhiều lần hoặc tái phạm không bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính và cũng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trên thực tế, chế tài hành chính hiện hành chưa đủ sức răn đe đối với người có hành vi sử dụng ma túy trái pháp luật, đặc biệt là trong bối cảnh, tình hình mới, việc sử dụng ma túy tổng hợp là xu hướng mới, có biểu hiện tăng mạnh, khó kiểm soát, xảy ra những vụ việc vô cùng nghiêm trọng trong xã hội. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cần phải có quy phạm điều chỉnh như xác định thế nào là hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và việc quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy[6], đặc biệt là các quy phạm chế tài có tính chất răn đe, phòng ngừa mạnh mẽ hơn nữa để bảo đảm xử lý nghiêm khắc, triệt để hơn.
2. Tình hình sử dụng trái phép chất ma túy, người nghiện ma túy và quy định pháp luật hiện hành đối với vi phạm pháp luật về ma túy
Theo Báo cáo số 1016/BC-BCA ngày 19/12/2019 của Bộ Công an tổng kết thi hành Luật Phòng, chống ma túy (số liệu thống kê trong Báo cáo được tính từ ngày 01/01/2009 - ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống ma túy năm 2000 có hiệu lực thi hành, đến ngày 31/12/2018) thì tình hình sử dụng trái phép chất ma túy ở Việt Nam có diễn biến phức tạp, ma túy sử dụng chủ yếu là heroin và ma túy tổng hợp, xu hướng sử dụng ma túy tổng hợp mang tính phổ biến, số lượng người nghiện ma túy không giảm mà tiếp tục gia tăng.
Vi phạm pháp luật về ma túy hiện nay thể hiện bằng các hành vi khác nhau, điển hình nhất là hành vi sử dụng ma túy, tàng trữ, vận chuyển hoặc chiếm đoạt chất ma túy trái phép... Bên cạnh đó, người nghiện ma túy cũng bị coi là đối tượng vi phạm và bị áp dụng chế tài theo quy định của pháp luật.
2.1. Quy định của Luật Phòng, chống ma túy
Luật Phòng, chống ma túy quy định về phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống tệ nạn ma túy; kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy; trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống ma túy. Đặc biệt, Điều 3 của Luật này quy định cụ thể các hành vi bị nghiêm cấm như sử dụng, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; xúi giục, cưỡng bức, lôi kéo, chứa chấp, hỗ trợ việc sử dụng trái phép chất ma túy…, trong đó, người có hành vi sử dụng ma túy sẽ bị xử phạt VPHC theo quy định pháp luật.
2.2. Quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình (Nghị định số 167/2013/NĐ-CP), tại Điều 21 quy định các vi phạm về phòng, chống và kiểm soát ma túy, bao gồm các hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tàng trữ, vận chuyển hoặc chiếm đoạt chất ma túy trái phép; cung cấp trái pháp luật địa điểm, phương tiện cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy…
Ngoài việc bị phạt tiền với tính chất là hình thức xử phạt chính, cá nhân, tổ chức vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với các hành vi liệt kê ở trên. Người nước ngoài tùy theo mức độ vi phạm có thể bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất.
2.3. Quy định pháp luật hình sự đối với tội phạm ma túy
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định việc xử lý đối với các hành vi phạm tội liên quan đến ma túy: Điều 247 (tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy); Điều 253 (tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 254 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 255 (tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 256 (tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 257 (tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 258 (tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 259 (tội vi phạm quy định về quản lý chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần).
2.4. Quy định về biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người nghiện ma túy
Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định 04 biện pháp xử lý hành chính là: Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong 04 biện pháp xử lý hành chính liệt kê ở trên, 02 biện pháp liên quan đến người nghiện ma túy là giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
2.5. Quy định của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) về các biện pháp can thiệp giảm tác hại liên quan đến phòng, chống ma túy
Hai văn bản pháp luật hiện hành về phòng, chống HIV/AIDS có quy định về biện pháp can thiệp giảm tác hại, bao gồm nội dung liên quan đến phòng, chống ma túy, đó là: (i) Luật số 64/2006/QH11 ngày 29/6/2006 về phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) và (ii) Nghị định số 90/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Theo Nghị định số 90/2016/NĐ-CP, người nghiện chất dạng thuốc phiện là người bị bệnh mãn tính cần được điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Nghị định này chưa điều chỉnh đối tượng sử dụng ma túy trái phép (nhưng không nghiện), chẳng hạn như người sử dụng ma túy tổng hợp.
3. Một số chủ trương của Đảng, Nhà nước trong điều kiện, bối cảnh mới và đề xuất trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính
Pháp luật hiện hành chỉ quy định về xử phạt VPHC đối với đối tượng người sử dụng ma túy, đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng). Ở thời điểm hiện nay, chế tài này là quá nhẹ, không đủ sức răn đe, đặt ra yêu cầu quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đi đôi với chế tài với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Ngày 16/8/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 36-CT/TW về tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy (gọi tắt là Chỉ thị số 36), Chỉ thị đã đưa ra giải pháp về hoàn thiện pháp luật là tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo thuận lợi cho công tác phòng, chống ma túy, có chế tài nghiêm khắc hơn đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy...
Có thể nói, Chỉ thị số 36 đã chỉ rõ, trực tiếp việc hoàn thiện pháp luật liên quan đến vấn đề sử dụng và nghiện ma túy. Đây là cơ sở chính trị, định hướng cho việc hoàn thiện pháp luật về vấn đề này, trong đó rõ nét nhất là Luật Xử lý vi phạm hành chính. Theo nội dung dự thảo Luật mới nhất Chính phủ trình Quốc hội, các quy định đối với người có hành vi sử dụng ma túy, người nghiện ma túy được đề xuất sửa đổi như sau:
Thứ nhất, tiếp tục quy định việc xử phạt VPHC đối với người có hành vi sử dụng ma túy trái phép và tăng mức phạt tiền đối với hành vi này.
Thứ hai, bổ sung quy định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên sử dụng ma túy trái phép.
Do Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành chỉ quy định xử phạt VPHC đối với người sử dụng trái phép chất ma túy nhưng chưa quy định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với đối tượng này. Hơn nữa, số lượng người sử dụng ma túy không được quản lý chặt chẽ, xử lý nghiêm chính là nguồn nguy cơ hình thành, dẫn đến tăng số lượng người nghiện ma túy cũng như các vấn đề xã hội khác. Vì vậy, cần phải nghiên cứu, đề xuất cơ chế mới để quản lý, xử lý người sử dụng trái phép chất ma túy từ đó phòng ngừa, ngăn chặn hậu quả của việc sử dụng trái phép chất ma túy gây ra cho xã hội, đồng thời, hạn chế tối đa tình trạng đối tượng sử dụng ma túy nhiều lần, dẫn đến lệ thuộc, nghiện ma túy. Nhà nước cần bảo đảm nhân lực, kinh phí cai nghiện, quản lý những người này.
Trong bối cảnh đó, thời gian qua, nhiều ý kiến[7] đề nghị sửa đổi, bổ sung Luật Xử lý vi phạm hành chính theo hướng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, do sử dụng ma túy là hành vi có chủ đích, xử lý sớm hành vi này sẽ giúp họ từ bỏ hành vi trước khi bị lệ thuộc vào chất ma túy, mang lại hiệu quả cao hơn so với biện pháp xử lý khi họ đã bị nghiện[8].
Tại lần sửa đổi, bổ sung này, Bộ Tư pháp với tư cách cơ quan chủ trì soạn thảo theo phân công của Chính phủ đã đề xuất quy định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Thứ ba, đề xuất áp dụng biện pháp xử lý hành chính và biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và nghiện ma túy.
Đối với biện pháp thay thế XLVPHC quản lý tại gia đình đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi sử dụng trái phép chất ma túy, đây là biện pháp mang tính xã hội, dựa vào chính người chưa thành niên (NCTN), cộng đồng và gia đình của NCTN để thực hiện giáo dục, quản lý NCTN tại gia đình, cộng đồng và việc áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình đối với NCTN thì sẽ không coi là NCTN đã bị xử lý vi phạm hành chính (khoản 1 Điều 140 Luật Xử lý vi phạm hành chính).
Ngoài các điều kiện hiện hành để áp dụng biện pháp thay thế XLVPHC - quản lý tại gia đình đối với NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 18, dự thảo Luật quy định bổ sung điều kiện chuyển sang áp dụng biện pháp thay thế XLVPHC - quản lý tại gia đình đối với NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi sử dụng trái phép chất ma túy thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn quy định tại khoản 5 Điều 90 Luật Xử lý vi phạm hành chính là NCTN có nơi cư trú ổn định (khoản 1 Điều 140 dự kiến sửa đổi, bổ sung).
Đối với biện pháp thay thế XLVPHC giáo dục dựa vào cộng đồng đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đây là một đề xuất mới hoàn toàn trong dự thảo Luật. Điểm b khoản 3 Điều 40 Công ước quốc tế về quyền trẻ em quy định: Bất cứ khi nào xét thấy phù hợp và nên làm phải khuyến khích thúc đẩy việc thiết lập các biện pháp xử lý NCTN vi phạm pháp luật mà không cần viện đến các thủ tục tư pháp trong điều kiện đảm bảo quyền con người và sự nghiêm minh của pháp luật.
Để bảo đảm sự phù hợp với Công ước quốc tế về quyền trẻ em, dự thảo Luật quy định bổ sung 01 biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính - giáo dục dựa vào cộng đồng (tại Điều 140a dự kiến sửa đổi, bổ sung). Đây cũng là một biện pháp xử lý chuyển hướng mang tính xã hội đối với NCTN vi phạm pháp luật để quản lý giáo dục NCTN nghiện ma túy tại cộng đồng. Biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính này là biện pháp mới trong Luật Xử lý vi phạm hành chính, chỉ áp dụng riêng đối với NCTN nghiện ma túy và cũng như 02 biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính (nhắc nhở và quản lý tại gia đình), việc áp dụng biện pháp thay thế - giáo dục dựa vào cộng đồng đối với NCTN thì không coi là NCTN đã bị xử lý vi phạm hành chính.
Theo quan điểm của tác giả, việc bổ sung quy định về áp dụng biện pháp xử lý hành chính và biện pháp thay thế XLVPHC đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hay nghiện ma túy như trong dự thảo Luật là hết sức cần thiết. Bên cạnh đó, việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong quá trình thực hiện thẩm quyền, quy trình, thủ tục đối với đối tượng người dưới 18 tuổi cũng phải bảo đảm lợi ích của trẻ em, NCTN được quy định trong Phần thứ năm của Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành (chẳng hạn như quá trình lập hồ sơ phải có sự tham gia của cha mẹ, người giám hộ; việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp này do Tòa án thực hiện theo thủ tục đặc biệt hơn so với người đã thành niên…
Vấn đề phòng chống ma túy hiện nay đang được quy định ở nhiều văn bản khác nhau nhưng còn có những bất cập và có những quy định chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Trên cơ sở phân tích rõ các hạn chế, bất cập của pháp luật liên quan đến vấn đề ma túy và sử dụng ma túy ở thời điểm hiện tại cũng như bối cảnh, tình hình thực tiễn, việc nghiên cứu đề xuất cơ chế quản lý, xử lý đối tượng sử dụng ma túy ở các độ tuổi khác nhau là phù hợp ở thời điểm hiện tại. Do đó, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính cần bổ sung quy định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy góp phần phòng ngừa, ngăn chặn hệ quả nghiêm trọng hơn do hành vi này gây ra nhằm bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

ThS. Nguyễn Thanh Hà
Cục Quản lý XLVPHC & TDTHPL



[1]. Xem khoản 1 Điều 2 Luật Phòng chống ma túy và Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2028 của Chính phủ quy định danh mục các chất ma túy và tiền chất.
[2]. Xem Điều 3 Luật Phòng, chống ma túy.
[3]. Khoản 1 Điều 21 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP: “Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy”.
[4]. Xem khoản 4 Điều 90 và Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
[5]. Xem Điều 29 Luật Phòng, chống ma túy.
[6]. Vấn đề này đang được nghiên cứu, đề xuất trong dự thảo Luật Phòng, chống ma túy (sửa đổi) đăng tải trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ.
[7]. Kiến nghị của cử tri tỉnh Kiên Giang tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIV; Báo cáo số 13/BC-QLXLVPHC &TDTHPL ngày 02/4/2019 của Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp về kết quả khảo sát thực tiễn thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính về các quy định liên quan đến người chưa thành niên.
[8]. Các tổ chức quốc tế cũng đã khuyến cáo can thiệp càng sớm hiệu quả càng cao đối với người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (theo Báo cáo số 13/BC-QLXLVPHC&TDTHPL ngày 02/4/2019 của Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp về kết quả khảo sát thực tiễn thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính về các quy định liên quan đến người chưa thành niên).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: