Thứ ba 25/08/2026 21:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bổ sung quy định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy

Trong quá trình xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có nhiều ý kiến đề nghị sửa đổi, bổ sung Luật Xử lý vi phạm hành chính theo hướng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, do sử dụng ma túy

Trong quá trình xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có nhiều ý kiến đề nghị sửa đổi, bổ sung Luật Xử lý vi phạm hành chính theo hướng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, do sử dụng ma túy là hành vi có chủ đích, xử lý sớm hành vi này sẽ giúp họ từ bỏ hành vi trước khi bị lệ thuộc vào chất ma túy, mang lại hiệu quả cao hơn so với biện pháp xử lý khi họ đã bị nghiện. Trong bài viết này, tác giả tập trung làmcác hình thức xử lý của pháp luật hiện hành đối với hành vi sử dụng ma túy, trên cơ sở phân tích rõ các hạn chế, bất cập của pháp luật ở thời điểm hiện tại để đưa ra những đề xuất, khuyến nghị một số nội dung liên quan đến hành vi sử dụng ma túy trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Xử lý vi phạm hành chính.

1. Đặt vấn đề
Ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần, có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, được quy định trong danh mục do Chính phủ ban hành[1]. Các chất này khi xâm nhập vào cơ thể người sẽ làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý, có thể dẫn đến nghiện và từ đó gây tác hại về nhiều mặt của cuộc sống người sử dụng và cộng đồng. Vì vậy, Luật Phòng, chống ma túy năm 2000 được Quốc hội thông qua ngày 09/12/2000, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2001 và được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2008 (sau đây gọi chung là Luật Phòng, chống ma túy), đã tạo hành lang pháp lý cho công tác phòng, chống ma túy, góp phần quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng, chống ma túy, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội. Luật Phòng chống ma túy đã nêu rõ “tệ nạn ma túy là tình trạng nghiện ma túy, tội phạm về ma túy và các hành vi trái phép khác về ma túy” (khoản 8 Điều 2). Quy định của Luật Phòng, chống ma túy thể hiện rõ việc sử dụng ma túy, nghiện ma túy và tội phạm ma túy là hành vi trái pháp luật, vậy chế tài xử lý đối với vi phạm này hiện tại được pháp luật quy định như thế nào? Chế tài đó còn hạn chế gì cần bổ sung, hoàn thiện không để góp phần hiệu quả trong việc bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội ở thời điểm hiện nay và trong những năm sau này.
Sử dụng ma túy, chống lại hoặc cản trở việc cai nghiện ma túy là một trong những hành vi bị nghiêm cấm trong phòng, chống ma túy[2], theo đó, người có hành vi sử dụng ma túy sẽ bị áp dụng chế tài xử phạt vi phạm hành chính (VPHC)[3], người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên sẽ bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính hạn chế tự do và bị quản lý, giáo dục, cai nghiện[4] theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đã được cai nghiện tại gia đình, cộng đồng hoặc đã được giáo dục nhiều lần tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc không có nơi cư trú nhất định thì được đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc dành riêng cho họ, tuy nhiên, việc cai nghiện ma túy đối với người nghiện ma túy trong độ tuổi này không coi là việc xử lý VPHC[5]. Như vậy, hành vi sử dụng ma túy hiện nay chỉ bị xử phạt VPHC, trường hợp VPHC nhiều lần hoặc tái phạm không bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính và cũng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trên thực tế, chế tài hành chính hiện hành chưa đủ sức răn đe đối với người có hành vi sử dụng ma túy trái pháp luật, đặc biệt là trong bối cảnh, tình hình mới, việc sử dụng ma túy tổng hợp là xu hướng mới, có biểu hiện tăng mạnh, khó kiểm soát, xảy ra những vụ việc vô cùng nghiêm trọng trong xã hội. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cần phải có quy phạm điều chỉnh như xác định thế nào là hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và việc quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy[6], đặc biệt là các quy phạm chế tài có tính chất răn đe, phòng ngừa mạnh mẽ hơn nữa để bảo đảm xử lý nghiêm khắc, triệt để hơn.
2. Tình hình sử dụng trái phép chất ma túy, người nghiện ma túy và quy định pháp luật hiện hành đối với vi phạm pháp luật về ma túy
Theo Báo cáo số 1016/BC-BCA ngày 19/12/2019 của Bộ Công an tổng kết thi hành Luật Phòng, chống ma túy (số liệu thống kê trong Báo cáo được tính từ ngày 01/01/2009 - ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống ma túy năm 2000 có hiệu lực thi hành, đến ngày 31/12/2018) thì tình hình sử dụng trái phép chất ma túy ở Việt Nam có diễn biến phức tạp, ma túy sử dụng chủ yếu là heroin và ma túy tổng hợp, xu hướng sử dụng ma túy tổng hợp mang tính phổ biến, số lượng người nghiện ma túy không giảm mà tiếp tục gia tăng.
Vi phạm pháp luật về ma túy hiện nay thể hiện bằng các hành vi khác nhau, điển hình nhất là hành vi sử dụng ma túy, tàng trữ, vận chuyển hoặc chiếm đoạt chất ma túy trái phép... Bên cạnh đó, người nghiện ma túy cũng bị coi là đối tượng vi phạm và bị áp dụng chế tài theo quy định của pháp luật.
2.1. Quy định của Luật Phòng, chống ma túy
Luật Phòng, chống ma túy quy định về phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống tệ nạn ma túy; kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy; trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống ma túy. Đặc biệt, Điều 3 của Luật này quy định cụ thể các hành vi bị nghiêm cấm như sử dụng, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; xúi giục, cưỡng bức, lôi kéo, chứa chấp, hỗ trợ việc sử dụng trái phép chất ma túy…, trong đó, người có hành vi sử dụng ma túy sẽ bị xử phạt VPHC theo quy định pháp luật.
2.2. Quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình (Nghị định số 167/2013/NĐ-CP), tại Điều 21 quy định các vi phạm về phòng, chống và kiểm soát ma túy, bao gồm các hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tàng trữ, vận chuyển hoặc chiếm đoạt chất ma túy trái phép; cung cấp trái pháp luật địa điểm, phương tiện cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy…
Ngoài việc bị phạt tiền với tính chất là hình thức xử phạt chính, cá nhân, tổ chức vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với các hành vi liệt kê ở trên. Người nước ngoài tùy theo mức độ vi phạm có thể bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất.
2.3. Quy định pháp luật hình sự đối với tội phạm ma túy
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định việc xử lý đối với các hành vi phạm tội liên quan đến ma túy: Điều 247 (tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy); Điều 253 (tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 254 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 255 (tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 256 (tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 257 (tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 258 (tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 259 (tội vi phạm quy định về quản lý chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần).
2.4. Quy định về biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người nghiện ma túy
Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định 04 biện pháp xử lý hành chính là: Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong 04 biện pháp xử lý hành chính liệt kê ở trên, 02 biện pháp liên quan đến người nghiện ma túy là giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
2.5. Quy định của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) về các biện pháp can thiệp giảm tác hại liên quan đến phòng, chống ma túy
Hai văn bản pháp luật hiện hành về phòng, chống HIV/AIDS có quy định về biện pháp can thiệp giảm tác hại, bao gồm nội dung liên quan đến phòng, chống ma túy, đó là: (i) Luật số 64/2006/QH11 ngày 29/6/2006 về phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) và (ii) Nghị định số 90/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Theo Nghị định số 90/2016/NĐ-CP, người nghiện chất dạng thuốc phiện là người bị bệnh mãn tính cần được điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Nghị định này chưa điều chỉnh đối tượng sử dụng ma túy trái phép (nhưng không nghiện), chẳng hạn như người sử dụng ma túy tổng hợp.
3. Một số chủ trương của Đảng, Nhà nước trong điều kiện, bối cảnh mới và đề xuất trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính
Pháp luật hiện hành chỉ quy định về xử phạt VPHC đối với đối tượng người sử dụng ma túy, đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng). Ở thời điểm hiện nay, chế tài này là quá nhẹ, không đủ sức răn đe, đặt ra yêu cầu quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đi đôi với chế tài với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Ngày 16/8/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 36-CT/TW về tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy (gọi tắt là Chỉ thị số 36), Chỉ thị đã đưa ra giải pháp về hoàn thiện pháp luật là tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo thuận lợi cho công tác phòng, chống ma túy, có chế tài nghiêm khắc hơn đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy...
Có thể nói, Chỉ thị số 36 đã chỉ rõ, trực tiếp việc hoàn thiện pháp luật liên quan đến vấn đề sử dụng và nghiện ma túy. Đây là cơ sở chính trị, định hướng cho việc hoàn thiện pháp luật về vấn đề này, trong đó rõ nét nhất là Luật Xử lý vi phạm hành chính. Theo nội dung dự thảo Luật mới nhất Chính phủ trình Quốc hội, các quy định đối với người có hành vi sử dụng ma túy, người nghiện ma túy được đề xuất sửa đổi như sau:
Thứ nhất, tiếp tục quy định việc xử phạt VPHC đối với người có hành vi sử dụng ma túy trái phép và tăng mức phạt tiền đối với hành vi này.
Thứ hai, bổ sung quy định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên sử dụng ma túy trái phép.
Do Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành chỉ quy định xử phạt VPHC đối với người sử dụng trái phép chất ma túy nhưng chưa quy định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với đối tượng này. Hơn nữa, số lượng người sử dụng ma túy không được quản lý chặt chẽ, xử lý nghiêm chính là nguồn nguy cơ hình thành, dẫn đến tăng số lượng người nghiện ma túy cũng như các vấn đề xã hội khác. Vì vậy, cần phải nghiên cứu, đề xuất cơ chế mới để quản lý, xử lý người sử dụng trái phép chất ma túy từ đó phòng ngừa, ngăn chặn hậu quả của việc sử dụng trái phép chất ma túy gây ra cho xã hội, đồng thời, hạn chế tối đa tình trạng đối tượng sử dụng ma túy nhiều lần, dẫn đến lệ thuộc, nghiện ma túy. Nhà nước cần bảo đảm nhân lực, kinh phí cai nghiện, quản lý những người này.
Trong bối cảnh đó, thời gian qua, nhiều ý kiến[7] đề nghị sửa đổi, bổ sung Luật Xử lý vi phạm hành chính theo hướng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, do sử dụng ma túy là hành vi có chủ đích, xử lý sớm hành vi này sẽ giúp họ từ bỏ hành vi trước khi bị lệ thuộc vào chất ma túy, mang lại hiệu quả cao hơn so với biện pháp xử lý khi họ đã bị nghiện[8].
Tại lần sửa đổi, bổ sung này, Bộ Tư pháp với tư cách cơ quan chủ trì soạn thảo theo phân công của Chính phủ đã đề xuất quy định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Thứ ba, đề xuất áp dụng biện pháp xử lý hành chính và biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và nghiện ma túy.
Đối với biện pháp thay thế XLVPHC quản lý tại gia đình đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi sử dụng trái phép chất ma túy, đây là biện pháp mang tính xã hội, dựa vào chính người chưa thành niên (NCTN), cộng đồng và gia đình của NCTN để thực hiện giáo dục, quản lý NCTN tại gia đình, cộng đồng và việc áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình đối với NCTN thì sẽ không coi là NCTN đã bị xử lý vi phạm hành chính (khoản 1 Điều 140 Luật Xử lý vi phạm hành chính).
Ngoài các điều kiện hiện hành để áp dụng biện pháp thay thế XLVPHC - quản lý tại gia đình đối với NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 18, dự thảo Luật quy định bổ sung điều kiện chuyển sang áp dụng biện pháp thay thế XLVPHC - quản lý tại gia đình đối với NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi sử dụng trái phép chất ma túy thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn quy định tại khoản 5 Điều 90 Luật Xử lý vi phạm hành chính là NCTN có nơi cư trú ổn định (khoản 1 Điều 140 dự kiến sửa đổi, bổ sung).
Đối với biện pháp thay thế XLVPHC giáo dục dựa vào cộng đồng đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đây là một đề xuất mới hoàn toàn trong dự thảo Luật. Điểm b khoản 3 Điều 40 Công ước quốc tế về quyền trẻ em quy định: Bất cứ khi nào xét thấy phù hợp và nên làm phải khuyến khích thúc đẩy việc thiết lập các biện pháp xử lý NCTN vi phạm pháp luật mà không cần viện đến các thủ tục tư pháp trong điều kiện đảm bảo quyền con người và sự nghiêm minh của pháp luật.
Để bảo đảm sự phù hợp với Công ước quốc tế về quyền trẻ em, dự thảo Luật quy định bổ sung 01 biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính - giáo dục dựa vào cộng đồng (tại Điều 140a dự kiến sửa đổi, bổ sung). Đây cũng là một biện pháp xử lý chuyển hướng mang tính xã hội đối với NCTN vi phạm pháp luật để quản lý giáo dục NCTN nghiện ma túy tại cộng đồng. Biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính này là biện pháp mới trong Luật Xử lý vi phạm hành chính, chỉ áp dụng riêng đối với NCTN nghiện ma túy và cũng như 02 biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính (nhắc nhở và quản lý tại gia đình), việc áp dụng biện pháp thay thế - giáo dục dựa vào cộng đồng đối với NCTN thì không coi là NCTN đã bị xử lý vi phạm hành chính.
Theo quan điểm của tác giả, việc bổ sung quy định về áp dụng biện pháp xử lý hành chính và biện pháp thay thế XLVPHC đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hay nghiện ma túy như trong dự thảo Luật là hết sức cần thiết. Bên cạnh đó, việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong quá trình thực hiện thẩm quyền, quy trình, thủ tục đối với đối tượng người dưới 18 tuổi cũng phải bảo đảm lợi ích của trẻ em, NCTN được quy định trong Phần thứ năm của Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành (chẳng hạn như quá trình lập hồ sơ phải có sự tham gia của cha mẹ, người giám hộ; việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp này do Tòa án thực hiện theo thủ tục đặc biệt hơn so với người đã thành niên…
Vấn đề phòng chống ma túy hiện nay đang được quy định ở nhiều văn bản khác nhau nhưng còn có những bất cập và có những quy định chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Trên cơ sở phân tích rõ các hạn chế, bất cập của pháp luật liên quan đến vấn đề ma túy và sử dụng ma túy ở thời điểm hiện tại cũng như bối cảnh, tình hình thực tiễn, việc nghiên cứu đề xuất cơ chế quản lý, xử lý đối tượng sử dụng ma túy ở các độ tuổi khác nhau là phù hợp ở thời điểm hiện tại. Do đó, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính cần bổ sung quy định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy góp phần phòng ngừa, ngăn chặn hệ quả nghiêm trọng hơn do hành vi này gây ra nhằm bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

ThS. Nguyễn Thanh Hà
Cục Quản lý XLVPHC & TDTHPL



[1]. Xem khoản 1 Điều 2 Luật Phòng chống ma túy và Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2028 của Chính phủ quy định danh mục các chất ma túy và tiền chất.
[2]. Xem Điều 3 Luật Phòng, chống ma túy.
[3]. Khoản 1 Điều 21 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP: “Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy”.
[4]. Xem khoản 4 Điều 90 và Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
[5]. Xem Điều 29 Luật Phòng, chống ma túy.
[6]. Vấn đề này đang được nghiên cứu, đề xuất trong dự thảo Luật Phòng, chống ma túy (sửa đổi) đăng tải trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ.
[7]. Kiến nghị của cử tri tỉnh Kiên Giang tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIV; Báo cáo số 13/BC-QLXLVPHC &TDTHPL ngày 02/4/2019 của Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp về kết quả khảo sát thực tiễn thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính về các quy định liên quan đến người chưa thành niên.
[8]. Các tổ chức quốc tế cũng đã khuyến cáo can thiệp càng sớm hiệu quả càng cao đối với người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (theo Báo cáo số 13/BC-QLXLVPHC&TDTHPL ngày 02/4/2019 của Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp về kết quả khảo sát thực tiễn thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính về các quy định liên quan đến người chưa thành niên).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: