Thứ bảy 02/05/2026 19:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bổ sung quy định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy

Trong quá trình xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có nhiều ý kiến đề nghị sửa đổi, bổ sung Luật Xử lý vi phạm hành chính theo hướng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, do sử dụng ma túy

Trong quá trình xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có nhiều ý kiến đề nghị sửa đổi, bổ sung Luật Xử lý vi phạm hành chính theo hướng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, do sử dụng ma túy là hành vi có chủ đích, xử lý sớm hành vi này sẽ giúp họ từ bỏ hành vi trước khi bị lệ thuộc vào chất ma túy, mang lại hiệu quả cao hơn so với biện pháp xử lý khi họ đã bị nghiện. Trong bài viết này, tác giả tập trung làmcác hình thức xử lý của pháp luật hiện hành đối với hành vi sử dụng ma túy, trên cơ sở phân tích rõ các hạn chế, bất cập của pháp luật ở thời điểm hiện tại để đưa ra những đề xuất, khuyến nghị một số nội dung liên quan đến hành vi sử dụng ma túy trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Xử lý vi phạm hành chính.

1. Đặt vấn đề
Ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần, có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, được quy định trong danh mục do Chính phủ ban hành[1]. Các chất này khi xâm nhập vào cơ thể người sẽ làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý, có thể dẫn đến nghiện và từ đó gây tác hại về nhiều mặt của cuộc sống người sử dụng và cộng đồng. Vì vậy, Luật Phòng, chống ma túy năm 2000 được Quốc hội thông qua ngày 09/12/2000, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2001 và được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2008 (sau đây gọi chung là Luật Phòng, chống ma túy), đã tạo hành lang pháp lý cho công tác phòng, chống ma túy, góp phần quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng, chống ma túy, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội. Luật Phòng chống ma túy đã nêu rõ “tệ nạn ma túy là tình trạng nghiện ma túy, tội phạm về ma túy và các hành vi trái phép khác về ma túy” (khoản 8 Điều 2). Quy định của Luật Phòng, chống ma túy thể hiện rõ việc sử dụng ma túy, nghiện ma túy và tội phạm ma túy là hành vi trái pháp luật, vậy chế tài xử lý đối với vi phạm này hiện tại được pháp luật quy định như thế nào? Chế tài đó còn hạn chế gì cần bổ sung, hoàn thiện không để góp phần hiệu quả trong việc bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội ở thời điểm hiện nay và trong những năm sau này.
Sử dụng ma túy, chống lại hoặc cản trở việc cai nghiện ma túy là một trong những hành vi bị nghiêm cấm trong phòng, chống ma túy[2], theo đó, người có hành vi sử dụng ma túy sẽ bị áp dụng chế tài xử phạt vi phạm hành chính (VPHC)[3], người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên sẽ bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính hạn chế tự do và bị quản lý, giáo dục, cai nghiện[4] theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đã được cai nghiện tại gia đình, cộng đồng hoặc đã được giáo dục nhiều lần tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc không có nơi cư trú nhất định thì được đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc dành riêng cho họ, tuy nhiên, việc cai nghiện ma túy đối với người nghiện ma túy trong độ tuổi này không coi là việc xử lý VPHC[5]. Như vậy, hành vi sử dụng ma túy hiện nay chỉ bị xử phạt VPHC, trường hợp VPHC nhiều lần hoặc tái phạm không bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính và cũng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trên thực tế, chế tài hành chính hiện hành chưa đủ sức răn đe đối với người có hành vi sử dụng ma túy trái pháp luật, đặc biệt là trong bối cảnh, tình hình mới, việc sử dụng ma túy tổng hợp là xu hướng mới, có biểu hiện tăng mạnh, khó kiểm soát, xảy ra những vụ việc vô cùng nghiêm trọng trong xã hội. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cần phải có quy phạm điều chỉnh như xác định thế nào là hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và việc quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy[6], đặc biệt là các quy phạm chế tài có tính chất răn đe, phòng ngừa mạnh mẽ hơn nữa để bảo đảm xử lý nghiêm khắc, triệt để hơn.
2. Tình hình sử dụng trái phép chất ma túy, người nghiện ma túy và quy định pháp luật hiện hành đối với vi phạm pháp luật về ma túy
Theo Báo cáo số 1016/BC-BCA ngày 19/12/2019 của Bộ Công an tổng kết thi hành Luật Phòng, chống ma túy (số liệu thống kê trong Báo cáo được tính từ ngày 01/01/2009 - ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống ma túy năm 2000 có hiệu lực thi hành, đến ngày 31/12/2018) thì tình hình sử dụng trái phép chất ma túy ở Việt Nam có diễn biến phức tạp, ma túy sử dụng chủ yếu là heroin và ma túy tổng hợp, xu hướng sử dụng ma túy tổng hợp mang tính phổ biến, số lượng người nghiện ma túy không giảm mà tiếp tục gia tăng.
Vi phạm pháp luật về ma túy hiện nay thể hiện bằng các hành vi khác nhau, điển hình nhất là hành vi sử dụng ma túy, tàng trữ, vận chuyển hoặc chiếm đoạt chất ma túy trái phép... Bên cạnh đó, người nghiện ma túy cũng bị coi là đối tượng vi phạm và bị áp dụng chế tài theo quy định của pháp luật.
2.1. Quy định của Luật Phòng, chống ma túy
Luật Phòng, chống ma túy quy định về phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống tệ nạn ma túy; kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy; trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống ma túy. Đặc biệt, Điều 3 của Luật này quy định cụ thể các hành vi bị nghiêm cấm như sử dụng, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; xúi giục, cưỡng bức, lôi kéo, chứa chấp, hỗ trợ việc sử dụng trái phép chất ma túy…, trong đó, người có hành vi sử dụng ma túy sẽ bị xử phạt VPHC theo quy định pháp luật.
2.2. Quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình (Nghị định số 167/2013/NĐ-CP), tại Điều 21 quy định các vi phạm về phòng, chống và kiểm soát ma túy, bao gồm các hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tàng trữ, vận chuyển hoặc chiếm đoạt chất ma túy trái phép; cung cấp trái pháp luật địa điểm, phương tiện cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy…
Ngoài việc bị phạt tiền với tính chất là hình thức xử phạt chính, cá nhân, tổ chức vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với các hành vi liệt kê ở trên. Người nước ngoài tùy theo mức độ vi phạm có thể bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất.
2.3. Quy định pháp luật hình sự đối với tội phạm ma túy
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định việc xử lý đối với các hành vi phạm tội liên quan đến ma túy: Điều 247 (tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy); Điều 253 (tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 254 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 255 (tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 256 (tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 257 (tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 258 (tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy); Điều 259 (tội vi phạm quy định về quản lý chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần).
2.4. Quy định về biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người nghiện ma túy
Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định 04 biện pháp xử lý hành chính là: Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong 04 biện pháp xử lý hành chính liệt kê ở trên, 02 biện pháp liên quan đến người nghiện ma túy là giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
2.5. Quy định của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) về các biện pháp can thiệp giảm tác hại liên quan đến phòng, chống ma túy
Hai văn bản pháp luật hiện hành về phòng, chống HIV/AIDS có quy định về biện pháp can thiệp giảm tác hại, bao gồm nội dung liên quan đến phòng, chống ma túy, đó là: (i) Luật số 64/2006/QH11 ngày 29/6/2006 về phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) và (ii) Nghị định số 90/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Theo Nghị định số 90/2016/NĐ-CP, người nghiện chất dạng thuốc phiện là người bị bệnh mãn tính cần được điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Nghị định này chưa điều chỉnh đối tượng sử dụng ma túy trái phép (nhưng không nghiện), chẳng hạn như người sử dụng ma túy tổng hợp.
3. Một số chủ trương của Đảng, Nhà nước trong điều kiện, bối cảnh mới và đề xuất trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính
Pháp luật hiện hành chỉ quy định về xử phạt VPHC đối với đối tượng người sử dụng ma túy, đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng). Ở thời điểm hiện nay, chế tài này là quá nhẹ, không đủ sức răn đe, đặt ra yêu cầu quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đi đôi với chế tài với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Ngày 16/8/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 36-CT/TW về tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy (gọi tắt là Chỉ thị số 36), Chỉ thị đã đưa ra giải pháp về hoàn thiện pháp luật là tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo thuận lợi cho công tác phòng, chống ma túy, có chế tài nghiêm khắc hơn đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy...
Có thể nói, Chỉ thị số 36 đã chỉ rõ, trực tiếp việc hoàn thiện pháp luật liên quan đến vấn đề sử dụng và nghiện ma túy. Đây là cơ sở chính trị, định hướng cho việc hoàn thiện pháp luật về vấn đề này, trong đó rõ nét nhất là Luật Xử lý vi phạm hành chính. Theo nội dung dự thảo Luật mới nhất Chính phủ trình Quốc hội, các quy định đối với người có hành vi sử dụng ma túy, người nghiện ma túy được đề xuất sửa đổi như sau:
Thứ nhất, tiếp tục quy định việc xử phạt VPHC đối với người có hành vi sử dụng ma túy trái phép và tăng mức phạt tiền đối với hành vi này.
Thứ hai, bổ sung quy định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên sử dụng ma túy trái phép.
Do Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành chỉ quy định xử phạt VPHC đối với người sử dụng trái phép chất ma túy nhưng chưa quy định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với đối tượng này. Hơn nữa, số lượng người sử dụng ma túy không được quản lý chặt chẽ, xử lý nghiêm chính là nguồn nguy cơ hình thành, dẫn đến tăng số lượng người nghiện ma túy cũng như các vấn đề xã hội khác. Vì vậy, cần phải nghiên cứu, đề xuất cơ chế mới để quản lý, xử lý người sử dụng trái phép chất ma túy từ đó phòng ngừa, ngăn chặn hậu quả của việc sử dụng trái phép chất ma túy gây ra cho xã hội, đồng thời, hạn chế tối đa tình trạng đối tượng sử dụng ma túy nhiều lần, dẫn đến lệ thuộc, nghiện ma túy. Nhà nước cần bảo đảm nhân lực, kinh phí cai nghiện, quản lý những người này.
Trong bối cảnh đó, thời gian qua, nhiều ý kiến[7] đề nghị sửa đổi, bổ sung Luật Xử lý vi phạm hành chính theo hướng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, do sử dụng ma túy là hành vi có chủ đích, xử lý sớm hành vi này sẽ giúp họ từ bỏ hành vi trước khi bị lệ thuộc vào chất ma túy, mang lại hiệu quả cao hơn so với biện pháp xử lý khi họ đã bị nghiện[8].
Tại lần sửa đổi, bổ sung này, Bộ Tư pháp với tư cách cơ quan chủ trì soạn thảo theo phân công của Chính phủ đã đề xuất quy định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Thứ ba, đề xuất áp dụng biện pháp xử lý hành chính và biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và nghiện ma túy.
Đối với biện pháp thay thế XLVPHC quản lý tại gia đình đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi sử dụng trái phép chất ma túy, đây là biện pháp mang tính xã hội, dựa vào chính người chưa thành niên (NCTN), cộng đồng và gia đình của NCTN để thực hiện giáo dục, quản lý NCTN tại gia đình, cộng đồng và việc áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình đối với NCTN thì sẽ không coi là NCTN đã bị xử lý vi phạm hành chính (khoản 1 Điều 140 Luật Xử lý vi phạm hành chính).
Ngoài các điều kiện hiện hành để áp dụng biện pháp thay thế XLVPHC - quản lý tại gia đình đối với NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 18, dự thảo Luật quy định bổ sung điều kiện chuyển sang áp dụng biện pháp thay thế XLVPHC - quản lý tại gia đình đối với NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi sử dụng trái phép chất ma túy thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn quy định tại khoản 5 Điều 90 Luật Xử lý vi phạm hành chính là NCTN có nơi cư trú ổn định (khoản 1 Điều 140 dự kiến sửa đổi, bổ sung).
Đối với biện pháp thay thế XLVPHC giáo dục dựa vào cộng đồng đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đây là một đề xuất mới hoàn toàn trong dự thảo Luật. Điểm b khoản 3 Điều 40 Công ước quốc tế về quyền trẻ em quy định: Bất cứ khi nào xét thấy phù hợp và nên làm phải khuyến khích thúc đẩy việc thiết lập các biện pháp xử lý NCTN vi phạm pháp luật mà không cần viện đến các thủ tục tư pháp trong điều kiện đảm bảo quyền con người và sự nghiêm minh của pháp luật.
Để bảo đảm sự phù hợp với Công ước quốc tế về quyền trẻ em, dự thảo Luật quy định bổ sung 01 biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính - giáo dục dựa vào cộng đồng (tại Điều 140a dự kiến sửa đổi, bổ sung). Đây cũng là một biện pháp xử lý chuyển hướng mang tính xã hội đối với NCTN vi phạm pháp luật để quản lý giáo dục NCTN nghiện ma túy tại cộng đồng. Biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính này là biện pháp mới trong Luật Xử lý vi phạm hành chính, chỉ áp dụng riêng đối với NCTN nghiện ma túy và cũng như 02 biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính (nhắc nhở và quản lý tại gia đình), việc áp dụng biện pháp thay thế - giáo dục dựa vào cộng đồng đối với NCTN thì không coi là NCTN đã bị xử lý vi phạm hành chính.
Theo quan điểm của tác giả, việc bổ sung quy định về áp dụng biện pháp xử lý hành chính và biện pháp thay thế XLVPHC đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hay nghiện ma túy như trong dự thảo Luật là hết sức cần thiết. Bên cạnh đó, việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong quá trình thực hiện thẩm quyền, quy trình, thủ tục đối với đối tượng người dưới 18 tuổi cũng phải bảo đảm lợi ích của trẻ em, NCTN được quy định trong Phần thứ năm của Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành (chẳng hạn như quá trình lập hồ sơ phải có sự tham gia của cha mẹ, người giám hộ; việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp này do Tòa án thực hiện theo thủ tục đặc biệt hơn so với người đã thành niên…
Vấn đề phòng chống ma túy hiện nay đang được quy định ở nhiều văn bản khác nhau nhưng còn có những bất cập và có những quy định chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Trên cơ sở phân tích rõ các hạn chế, bất cập của pháp luật liên quan đến vấn đề ma túy và sử dụng ma túy ở thời điểm hiện tại cũng như bối cảnh, tình hình thực tiễn, việc nghiên cứu đề xuất cơ chế quản lý, xử lý đối tượng sử dụng ma túy ở các độ tuổi khác nhau là phù hợp ở thời điểm hiện tại. Do đó, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính cần bổ sung quy định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy góp phần phòng ngừa, ngăn chặn hệ quả nghiêm trọng hơn do hành vi này gây ra nhằm bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

ThS. Nguyễn Thanh Hà
Cục Quản lý XLVPHC & TDTHPL



[1]. Xem khoản 1 Điều 2 Luật Phòng chống ma túy và Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2028 của Chính phủ quy định danh mục các chất ma túy và tiền chất.
[2]. Xem Điều 3 Luật Phòng, chống ma túy.
[3]. Khoản 1 Điều 21 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP: “Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy”.
[4]. Xem khoản 4 Điều 90 và Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
[5]. Xem Điều 29 Luật Phòng, chống ma túy.
[6]. Vấn đề này đang được nghiên cứu, đề xuất trong dự thảo Luật Phòng, chống ma túy (sửa đổi) đăng tải trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ.
[7]. Kiến nghị của cử tri tỉnh Kiên Giang tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIV; Báo cáo số 13/BC-QLXLVPHC &TDTHPL ngày 02/4/2019 của Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp về kết quả khảo sát thực tiễn thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính về các quy định liên quan đến người chưa thành niên.
[8]. Các tổ chức quốc tế cũng đã khuyến cáo can thiệp càng sớm hiệu quả càng cao đối với người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (theo Báo cáo số 13/BC-QLXLVPHC&TDTHPL ngày 02/4/2019 của Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp về kết quả khảo sát thực tiễn thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính về các quy định liên quan đến người chưa thành niên).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: