Thứ tư 06/05/2026 23:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bổ sung quy định về công chứng điện tử

Tiếp tục phiên họp chuyên đề, ngày 1/4, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Công chứng (sửa đổi).

Quang cảnh phiên họp chuyên đề ngày 1/4. (Ảnh: Phạm Thắng)
Quang cảnh phiên họp chuyên đề ngày 1/4. (Ảnh: Phạm Thắng)

Trình bày Tờ trình dự án Luật, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long nêu rõ sự cần thiết ban hành dự án Luật Công chứng (CC) (sửa đổi) nhằm tiếp tục thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới tổ chức và hoạt động CC; khắc phục hạn chế, bất cập về thể chế, tạo cơ sở pháp lý cho bước phát triển mới của hoạt động CC theo chủ trương xã hội hóa, chuyển đổi số, nâng cao chất lượng và tính bền vững của hoạt động CC, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về CC.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long.

Về quan điểm xây dựng dự án Luật, Bộ trưởng Lê Thành Long cho biết, dự án Luật tiếp tục thể chế hóa kịp thời, đầy đủ các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực bổ trợ tư pháp; bảo đảm phân cấp, phân quyền hợp lý; tiếp tục xã hội hóa, giảm tải cho bộ máy nhà nước; đơn giản hóa thủ tục, tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch trong xã hội; đề cao trách nhiệm và vai trò đóng góp của công chứng viên (CCV), tổ chức hành nghề (TCHN) CC đối với xã hội; tiếp tục xác định CC không phải là hoạt động kinh doanh đơn thuần mà là một nghề bổ trợ tư pháp; CCV là người đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện chặt chẽ, được Nhà nước bổ nhiệm để cung cấp dịch vụ công do Nhà nước ủy nhiệm thực hiện; hoạt động CC phải góp phần bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch trong xã hội, phòng ngừa tranh chấp, khiếu kiện, hỗ trợ hoạt động xét xử, qua đó góp phần bảo đảm trật tự an toàn xã hội, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội; kế thừa, phát triển những quy định đã được thực tiễn kiểm nghiệm; nghiên cứu, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của các nước, thông lệ quốc tế, tạo điều kiện để CC nước ta hội nhập quốc tế, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của Liên minh CC quốc tế…

Cho ý kiến vào dự thảo Luật, Chủ tịch Quốc hội (QH) Vương Đình Huệ đánh giá dự án Luật được chuẩn bị công phu, sửa khá toàn diện khi Luật hiện hành có 81 điều thì chỉ giữ nguyên có 9 điều, sửa 61 điều và bổ sung nhiều điều mới. Nhấn mạnh CC là ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo Luật Đầu tư, đồng thời đây là loại hình dịch vụ sự nghiệp công thiết yếu và cơ bản, Chủ tịch QH cho rằng, nguyên tắc Chính phủ chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về lĩnh vực này, Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ, còn địa phương thực hiện chức năng quản lý theo quy định của pháp luật.

Luật Quy hoạch đã bỏ quy hoạch về sản phẩm dịch vụ, hàng hóa nên Chính phủ phải có chiến lược, định hướng phát triển trong từng giai đoạn, Bộ quản lý phải ban hành tiêu chuẩn, tiêu chí, điều kiện thì địa phương có căn cứ làm. “Trong này có nói tiêu chuẩn, tiêu chí, điều kiện nhưng chưa rõ ai ban hành. Đây là trách nhiệm quản lý nhà nước của các Bộ. Chính phủ ban hành chiến lược, định hướng chung. Bộ Tư pháp phải ban hành tiêu chuẩn, tiêu chí, điều kiện thành lập TCHNCC. Bỏ quy hoạch không có nghĩa không có quản lý, mà quản lý bằng phương pháp khác”, Chủ tịch QH nói.

Báo cáo tiếp thu bước đầu và bổ sung một số thông tin, Bộ trưởng Lê Thành Long nhấn mạnh, pháp luật về CC của nước ta kế thừa và phát triển liên tục qua các thời kỳ từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa năm 1945. Điểm qua một số nguyên lý cơ bản về hoạt động CC ở nước ta, theo Bộ trưởng, CC của chúng ta là CC nội dung, xác định tính xác thực hợp pháp của hợp đồng giao dịch; là một nghề bổ trợ tư pháp; là dịch vụ công cơ bản do Nhà nước ủy nhiệm cho CCV thực hiện; văn bản CC có giá trị chứng cứ trước Tòa, hoạt động CC như “thẩm phán phòng ngừa”…

Giải trình thêm về thành lập TCHNCC phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, Bộ trưởng Lê Thành Long cho rằng, phải xem xét thực tế, đồng thời nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm quốc tế để đánh giá, xử lý vấn đề. Về xã hội hóa hoạt động CC, Bộ trưởng cho biết, thực tế hiện nay không thành lập mới PCC. Cả nước có 1.425 TCHNCC, trong đó có 1.320 VPCC và 105 PCC, những PCC đang hoạt động đều đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết 18, 19, nhất là tự trang trải về kinh phí, thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động CC của Đảng, Nhà nước.

Về nội dung của dự thảo Luật, theo Bộ trưởng Bộ Tư pháp, so với Luật CC năm 2014, dự thảo Luật đã xác định CC là việc CCV chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của giao dịch dân sự bằng văn bản; việc chứng nhận bản dịch không còn thuộc phạm vi CC mà là hoạt động chứng thực chữ ký người dịch theo quy định của pháp luật về chứng thực. Như vậy, trong trường hợp CCV chỉ thực hiện việc chứng thực thì không được xem là hành nghề CC. Đồng thời, bổ sung quy định về một số hành vi bị nghiêm cấm đối với CCV, TCHNCC, cá nhân, tổ chức có liên quan nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CCV, góp phần phát triển các TCHNCC ổn định, bền vững, tăng cường trách nhiệm, ý thức của cá nhân, tổ chức có liên quan đến việc CC.

Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CCV, bảo đảm số lượng phù hợp với nhu cầu CC và phát triển ổn định, bền vững, so với Luật CC năm 2014, dự thảo Luật quy định người muốn bổ nhiệm CCV phải được đào tạo nghề CC (bỏ quy định miễn đào tạo), theo đó những trường hợp được miễn đào tạo và tham gia khóa bồi dưỡng 03 tháng theo quy định của Luật hiện hành thì phải tham gia khóa đào tạo 06 tháng; bổ sung một số đối tượng được tham dự khoá đào tạo nghề CC 06 tháng như: Chấp hành viên trung cấp, kiểm tra viên chính ngành kiểm sát, trợ giúp viên pháp lý hạng II, thanh tra viên chính ngành tư pháp…

Dự thảo Luật còn quy định thời gian tập sự hành nghề CC là 12 tháng đối với tất cả các đối tượng để đảm bảo sự thống nhất và để người tập sự đủ thời gian trải nghiệm, vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học vào thực tiễn; người tập sự phải bảo đảm thời gian tập sự theo ngày, giờ làm việc của TCHNCC; bổ sung quy định về thời hạn hiệu lực của giấy chứng nhận kiểm tra kết quả tập sự để bảo đảm người được bổ nhiệm CCV có kiến thức, kỹ năng cập nhật. Bổ sung một số trường hợp không được bổ nhiệm CCV, trường hợp bị miễn nhiệm CCV, trường hợp được và không được bổ nhiệm lại CCV cũng như điều kiện bổ nhiệm lại nhằm bảo đảm những người đáp ứng đầy đủ các điều kiện, tiêu chuẩn CCV mới được bổ nhiệm.

Với mục tiêu phát triển các TCHNCC ổn định, bền vững, phù hợp với nhu cầu CC của xã hội và có sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước, so với Luật CC năm 2014, dự thảo Luật quy định nguyên tắc phát triển TCHNCC phải căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội, diện tích, số lượng và mật độ phân bố dân cư, nhu cầu CC hợp đồng, giao dịch trên địa bàn cấp huyện dự kiến thành lập. Cùng với đó, quy định Giám đốc Sở Tư pháp bổ nhiệm Trưởng phòng CC (PCC) thay vì giao cho Chủ tịch UBND tỉnh, TP trực thuộc Trung ương bổ nhiệm như hiện nay, quy định Sở Tư pháp là cơ quan tiếp nhận hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng CC (VPCC) thay vì UBND cấp tỉnh như hiện nay để tăng cường phân cấp, phân quyền…

Với mục tiêu xây dựng quy trình CC khoa học, tạo cơ sở pháp lý để triển khai việc chuyển đổi số trong hoạt động CC theo lộ trình phù hợp, so với Luật CC năm 2014, dự thảo Luật bỏ Phiếu yêu cầu CC trong thành phần hồ sơ yêu cầu CC nhằm đơn giản hóa hồ sơ này; cho phép xuất trình bản sao từ sổ gốc hoặc bản sao có chứng thực nếu không có bản chính giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng trong một số trường hợp cụ thể; quy định rõ các trường hợp được CC ngoài trụ sở; quy định chi tiết hơn về lời chứng nhằm làm rõ hơn trách nhiệm của CCV đối với việc CC... Đối với thủ tục CC một số giao dịch cụ thể, dự thảo Luật đã quy định rõ nguyên tắc tuân thủ trình tự, thủ tục chung, đồng thời phải thực hiện thêm một số quy định đặc thù tương ứng đối với từng giao dịch cụ thể, như việc CC hợp đồng ủy quyền trong trường hợp hai bên không thể cùng đến một TCHNCC, việc CC văn bản phân chia di sản, từ chối nhận di sản...

Đặc biệt, dự thảo Luật đã bổ sung 4 điều mới để quy định về CC điện tử là việc CC được thực hiện bằng phương tiện điện tử để tạo lập văn bản CC điện tử; việc CC điện tử phải bảo đảm các nguyên tắc cụ thể; việc cung cấp dịch vụ CC điện tử chỉ được thực hiện khi đáp ứng các điều kiện cụ thể, đồng thời, cũng quy định về khái niệm, thời điểm có hiệu lực, giá trị của văn bản CC điện tử và việc chuyển đổi hình thức giữa văn bản CC điện tử và văn bản CC giấy; quy định về quy trình CC điện tử nhằm tạo cơ sở pháp lý cho chuyển đổi số hoạt động CC, là cơ sở để Chính phủ quy định các vấn đề cụ thể về CC điện tử và triển khai thực hiện quá trình chuyển đổi số hoạt động CC trên thực tế.

Trình bày báo cáo thẩm tra, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Ngô Trung Thành nhấn mạnh, Thường trực Ủy ban Pháp luật tán thành việc sửa đổi toàn diện Luật Công chứng với các lý do đã nêu trong Tờ trình của Chính phủ.

Riêng về CC điện tử, theo ông Ngô Trung Thành, Thường trực Ủy ban Pháp luật tán thành việc bổ sung quy định về CC điện tử trong dự thảo Luật nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong hoạt động CC, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong các giao dịch dân sự, kinh tế; bảo đảm đồng bộ với các quy định mới của Luật Giao dịch điện tử năm 2023. Đồng thời cho rằng, CC điện tử là sự thay đổi về phương thức thực hiện CC chứ không được làm thay đổi bản chất và đặc điểm của mô hình CC nước ta là CC nội dung, hoạt động CC phải bảo đảm chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch.

Về phạm vi CC điện tử, trong quá trình thẩm tra có 2 loại ý kiến. Cụ thể, loại ý kiến thứ nhất tán thành với dự thảo Luật không giới hạn phạm vi CC điện tử mà giao Chính phủ quy định lộ trình cụ thể. Tuy nhiên, để thực hiện chính sách này, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo lưu ý xác định rõ khái niệm, nội hàm của CC điện tử để thống nhất cách hiểu và áp dụng pháp luật; nêu giải pháp khắc phục được các hạn chế mà công nghệ chưa thể thực hiện thay con người như đã nêu trong báo cáo thẩm tra đầy đủ để có cơ sở thực hiện theo lộ trình; bổ sung quy định cụ thể hơn về trình tự, thủ tục, hồ sơ CC điện tử để bảo đảm kiểm soát việc thực thi lộ trình CC điện tử do Chính phủ quy định vẫn phải đáp ứng các yêu cầu của CC nội dung, bảo đảm tính xác thực, hợp pháp của các giao dịch được CC, tương xứng với giá trị pháp lý của văn bản CC là có giá trị chứng cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của dự thảo Luật.

Loại ý kiến thứ hai cho rằng, trong điều kiện hiện nay, công nghệ chưa thể bảo đảm thay thế hoàn toàn vai trò của con người trong việc thực hiện các yếu tố bảo đảm tính xác thực về ý chí, bảo đảm giấy tờ và chứng cứ được đối soát chính xác, đầy đủ, bảo đảm nội dung của giao dịch là hợp pháp nên việc thực hiện CC điện tử cần tiến hành thận trọng, có bước đi hợp lý, trước mắt trong Luật chỉ nên quy định ở phạm vi hẹp với một số giao dịch đơn giản, không nên áp dụng đối với các giao dịch về bất động sản, thừa kế...

Bên cạnh đó, có ý kiến trong Thường trực Ủy ban Pháp luật đề nghị trước mắt chỉ nên thí điểm CC điện tử, trên cơ sở đó tiến hành tổng kết thực tiễn làm cơ sở luật hóa nội dung này. Ý kiến khác đề nghị giao Chính phủ căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội xác định lộ trình mở rộng phạm vi giao dịch được CC điện tử, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.

Theo ông Ngô Trung Thành, đa số ý kiến trong Thường trực Ủy ban Pháp luật tán thành với loại ý kiến thứ nhất.

Sơn Phan

Nguồn: Báo Pháp luật Việt Nam điện tử

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cắt giảm nhiều ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện

Cắt giảm nhiều ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện

Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về cắt giảm ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện đã quy định sửa đổi 14 ngành, nghề đầu tư kinh doanh; bãi bỏ 60 ngành, nghề thuộc 12 nhóm ngành, nghề do bộ, cơ quan ngang bộ quản lý và 01 nhóm ngành, nghề chưa xác định điều kiện kinh doanh hoặc chưa xác định cơ quan quản lý.
Xây dựng môi trường kinh doanh bất động sản thông thoáng, minh bạch, an toàn, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân

Xây dựng môi trường kinh doanh bất động sản thông thoáng, minh bạch, an toàn, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân

Chính sách xây dựng Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) tập trung hoàn thiện các quy định hiện hành liên quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản; làm rõ quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia thị trường; đồng thời tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý

Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý

Chiều ngày 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý. Kết quả biểu quyết có 494/494 đại biểu Quốc hội có mặt tham gia biểu quyết tán thành với việc thông qua Luật này, chiếm tỷ lệ 100% số đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết và chiếm 98,80% tổng số đại biểu Quốc hội.
Quốc hội thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) với tỷ lệ 98,40%

Quốc hội thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) với tỷ lệ 98,40%

Tiếp tục Kỳ họp thứ Nhất, chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội khóa XVI biểu quyết thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả biểu quyết cho thấy, có 492/493 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành thông qua luật này (chiếm tỷ lệ 98,04% số ĐBQH).
Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng

Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khoá XVI, chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, các đại biểu tiến hành biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Quốc hội thông qua Luật Hộ tịch (sửa đổi) với tỷ lệ 97,60%

Quốc hội thông qua Luật Hộ tịch (sửa đổi) với tỷ lệ 97,60%

Chiều ngày 23/4, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, với sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, các đại biểu Quốc hội đã tiến hành biểu quyết thông qua Luật Hộ tịch (sửa đổi) với tỷ lệ 97,60% tán thành.
Bảo đảm chính sách ưu tiên đối với các nhóm đối tượng đặc thù trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Bảo đảm chính sách ưu tiên đối với các nhóm đối tượng đặc thù trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Các chính sách của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) được xây dựng nhằm giải quyết các hạn chế, khó khăn, vướng mắc do quy định của Luật năm 2012; đồng thời đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đa dạng phương thức, truyền thông chính sách ngay từ khi soạn thảo.
Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn mới

Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn mới

Chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) với 492/492 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (đạt tỷ lệ 100%).
Thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất để quản lý viên chức theo vị trí việc làm

Thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất để quản lý viên chức theo vị trí việc làm

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, chiều ngày 22/4/2026, Bộ Tư pháp tổ chức cuộc họp Hội đồng thẩm định đối với dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định về vị trí việc làm (dự thảo Nghị định). Đồng chí Nguyễn Thị Hạnh, Cục trưởng Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp chủ trì cuộc họp. Tham dự cuộc họp có đồng chí Trương Hải Long, Thứ trưởng Bộ Nội vụ và các thành viên Hội đồng thẩm định gồm đại diện các bộ Công an, Quốc phòng, Tài chính, Ngoại giao, Khoa học và Công nghệ, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Y tế, Giáo dục và Đào tạo; Sở Nội vụ thành phố Hà Nội và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định quan trọng, góp phần bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Bài viết phân tích các rào cản pháp lý và thực tiễn trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam, thông qua phân tích, so sánh giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù khuôn khổ pháp lý đã bước đầu được thiết lập, nhưng tồn tại một số hạn chế liên quan đến phạm vi thông tin, chủ thể cung cấp, cơ chế phân loại thông tin, phương thức cung cấp và giám sát thực thi. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trong bối cảnh chuyển đổi số.
Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.
Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam đang định hình ranh giới giữa minh bạch thông tin và quyền riêng tư với việc ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, cùng dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) (dự thảo Luật). Điều này dẫn đến nguy cơ xung đột giữa quyền được biết của công chúng với quyền riêng tư của cá nhân. Bài viết làm rõ về bản chất pháp lý giữa khái niệm “thông tin” và “dữ liệu cá nhân”, đồng thời, đánh giá quy định tại dự thảo Luật, đặc biệt là cơ chế “tiếp cận có điều kiện” đối với thông tin liên quan đến đời tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân và so sánh với thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam thông qua giới hạn ngoại lệ, xây dựng quy trình đánh giá lợi ích công và biện pháp hài hòa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 trong kỷ nguyên số.
Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Chế định cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp là cơ chế pháp lý quan trọng để bảo đảm thực thi quyền tiếp cận thông tin. Nghiên cứu phân tích nội dung chế định này theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, chỉ ra một số hạn chế trong quá trình triển khai thi hành, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Thụy Điển và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định trong dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) ở Việt Nam.
Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin, đặc biệt là thông tin do cơ quan nhà nước nắm giữ trở thành chuẩn mực quan trọng của quản trị dân chủ và Nhà nước pháp quyền trên thế giới. Nội dung và cũng là yêu cầu cốt lõi trong bảo đảm quyền này là cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp, bên cạnh nghĩa vụ chủ động công bố thông tin của các cơ quan công quyền. Nghiên cứu phân tích quy định về cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới và theo Luật mẫu của ARTICLE 19, làm rõ những ưu điểm về bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cơ chế cung cấp thông tin hiệu quả theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp không chỉ gồm quy định về chủ thể có quyền và trách nhiệm, mà còn gắn với các yếu tố như cơ chế giám sát độc lập, chuẩn hóa quy trình xử lý yêu cầu và ứng dụng công nghệ số trong quản lý, cung cấp thông tin. Trên cơ sở đó, nghiên cứu, đề xuất Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc một số kinh nghiệm có giá trị trong việc hoàn thiện khung pháp luật về cung cấp thông tin theo yêu cầu, đặc biệt, trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền, thúc đẩy quản trị minh bạch và phát triển Chính phủ số.

Theo dõi chúng tôi trên: