Chủ nhật 09/08/2026 20:35
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế số đồng bộ, an toàn, dễ tuân thủ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia

Ngày 31/7/2026, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật tổ chức Hội thảo khoa học “Hoàn thiện thể chế về kinh tế số đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” bằng hình thức trực tiếp tại Hà Nội, kết hợp trực tuyến tại khoảng 120 điểm cầu trên cả nước. Thứ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì có đồng chí Trương Thế Côn, Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật; đồng chí Nguyễn Văn Cương, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý.

Hội thảo có sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực pháp lý, kinh tế số, chuyển đổi số; đại diện lãnh đạo một số bộ, ngành; một số đại biểu Quốc hội; đại diện Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội; đại diện Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đại diện lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp; Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân; tổ chức pháp chế các bộ, cơ quan ngang bộ; Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành, Sở Tư pháp, Sở Tài chính, Sở Khoa học và Công nghệ; Liên đoàn Luật sư Việt Nam và các Đoàn Luật sư; Hội Luật gia Việt Nam và Hội Luật gia các tỉnh/thành phố; Hiệp hội các doanh nghiệp Việt Nam, Hội doanh nghiệp; các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế; các viện, trung tâm nghiên cứu về kinh tế; cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu;...

Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế số đồng bộ, an toàn, dễ tuân thủ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia
Hội thảo khoa học “Hoàn thiện thể chế về kinh tế số đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” được tổ chức bằng hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến

Kinh tế số là một trong hai cấu thành quan trọng của nền kinh tế Việt Nam

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú cho biết, ngày 28/7 vừa qua, tại Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Trong đó xác định mục tiêu đến năm 2035, Việt Nam cần xây dựng mô hình kinh tế hiệu quả cao, sáng tạo, xanh, tự chủ, bao trùm và hội nhập. Kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế tuần hoàn, kinh tế carbon thấp và khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới trở thành cấu trúc quan trọng đặc trưng của nền kinh tế.

Có thể thấy, thực chất kinh tế số và kinh tế dữ liệu có bản chất là kinh tế số; còn kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế carbon thấp thực chất cũng gom về là kinh tế xanh. Từ đó cho thấy, Nghị quyết số 19-NQ/TW đã xác định kinh tế số là một trong hai cấu thành quan trọng của nền kinh tế Việt Nam định hướng đến năm 2035. Vì vậy, Thứ trưởng nhận định, Hội thảo rất kịp thời, thực tiễn, góp phần triển khai nhanh, hiệu quả, kịp thời các nghị quyết của Hội nghị Trung ương 3, trong đó có Nghị quyết số 19-NQ/TW.

Bổ sung khung pháp lý truyền thống hiện hành để xử lý đặc trưng, đặc thù của nền kinh tế số

Thứ trưởng nhấn mạnh, từ kinh nghiệm quốc tế cũng như Việt Nam thời gian qua cho thấy, không thể tạo ra khung pháp lý mới hoàn toàn, mà thực chất là dựa trên khung truyền thống hiện hành nhưng có bổ sung để xử lý đặc trưng, đặc thù của nền kinh tế số.

Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế số đồng bộ, an toàn, dễ tuân thủ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú phát biểu khai mạc Hội thảo

Thứ trưởng nêu ba nhóm vấn đề: (i) Phạm vi điều chỉnh khung pháp luật về thể chế nói chung của kinh tế số sẽ xử lý quan hệ kinh tế phát sinh trên môi trường số, công nghệ số; (ii) Pháp luật, thực thi pháp luật cũng như chức năng quản lý nhà nước trong kinh tế số sẽ hướng đến kiến tạo phát triển và bảo đảm cạnh tranh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh (trong đó có an ninh mạng) nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao hiệu suất, năng suất, bảo đảm trật tự pháp lý và phát triển kinh tế số bền vững; (iii) Tương tự như các lĩnh vực kinh tế truyền thống, trọng tâm của kinh tế số cũng tập trung vào ba nhóm vấn đề gắn với đặc trưng, đặc thù của kinh tế số, đó là bảo vệ quyền sở hữu tài sản, quyền tự do hợp đồng (trong đó bao gồm quyền tự do kinh doanh), cơ chế giải quyết tranh chấp nhanh chóng, hiệu quả, ít chi phí nhất. Vì có những đặc trưng, đặc thù của kinh tế số nên cũng cần có những đặc thù trong khung pháp luật liên quan đến bảo vệ quyền sở hữu tài sản. Do tài sản này nằm trên môi trường số nên có những đặc thù.

Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tú nhận định, thực chất kinh tế số và khung pháp luật cho kinh tế số không phải là vấn đề mới mà chúng ta đã có, đang có và tiếp tục hoàn thiện. Vấn đề đặt ra là chúng ta cần phải thêm, bớt, sửa đổi, bổ sung gì để phản ánh được đặc thù của kinh tế số. Bên cạnh đó là vấn đề thực thi, nếu khung pháp lý có hoàn thiện nhưng thực thi không hiệu quả, không chất lượng và tốn kém chi phí thì dẫn đến không thể thúc đẩy phát triển được kinh tế số.

Dù hoàn thiện pháp luật hay tổ chức thi hành pháp luật, cũng là vấn đề con người. Con người nếu chúng ta không nắm, không am hiểu được kinh tế số thì cũng không thể thúc đẩy phát triển được kinh tế số.

Tồn tại sự “phân mảnh” của hệ thống pháp luật đòi hỏi cần kiến trúc quản trị thống nhất

Đây là nhận định của nhiều đại biểu tại Hội thảo. Cụ thể:

Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế số đồng bộ, an toàn, dễ tuân thủ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia
TS. Lê Minh Nghĩa, Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam cho rằng hạn chế lớn nhất hiện nay là sự “phân mảnh” của hệ thống pháp luật

Đối với khung pháp lý về kinh tế số, theo TS. Lê Minh Nghĩa, Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam, hạn chế lớn nhất hiện nay là sự “phân mảnh” của hệ thống pháp luật; thứ hai là khoảng cách giữa “công nhận giao dịch điện tử” và “số hóa thực chất”; thứ ba là an ninh, an toàn và bảo vệ người dùng chưa theo kịp với độ mở của thị trường; thứ tư là mâu thuẫn tiềm ẩn giữa khai thác dữ liệu và bảo vệ dữ liệu cá nhân; thứ năm là khoảng cách số và năng lực tuân thủ. Chính vì vậy, đại biểu nhấn mạnh Việt Nam cần chuyển trọng tâm sang “làm cho các luật vận hành như một kiến trúc quản trị thống nhất”, dễ tuân thủ, dựa trên dữ liệu và tương xứng với rủi ro. Một khuôn khổ như vậy sẽ đồng thời thực hiện hai mục tiêu bảo vệ con người, dữ liệu, tài sản và an ninh quốc gia, đồng thời tạo không gian đủ rộng cho đổi mới sáng tạo, cạnh tranh và tham gia của mọi doanh nghiệp, người dân vào kinh tế số.

Đồng quan điểm, PGS.TS. Ngô Trí Long, Trường Đại học thành Đông cho rằng, thể chế kinh tế số Việt Nam đã có nền móng nhưng chưa hoàn chỉnh mà cần phải đổi mới tư duy quản lý từ đã có, đang có sang kiến tạo phát triển, quản lý theo rủi ro và thích ứng nhanh với công nghệ mới. Khái quát một cách cơ bản, điểm nghẽn lớn nhất không phải là thiếu quy định mà là pháp luật còn phân tán, chậm thích ứng và thực thi chưa đồng bộ. Theo Phó giáo sư, có ba nguồn lực cần được khơi thông là dữ liệu; tài sản vô hình và dòng vốn đầu tư; không gian đổi mới và tính sáng tạo. Với định hướng hoàn thiện thể chế kinh tế số mới hiện nay, có năm yêu cầu cốt lõi là minh bạch; đồng bộ; linh hoạt; an toàn; khả năng thích ứng. Qua đó sẽ giải phóng được các nguồn lực công nghệ, vốn, nhân lực và sáng tạo phục vụ phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế số đồng bộ, an toàn, dễ tuân thủ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia
Theo PGS.TS. Ngô Trí Long, Trường Đại học thành Đông, có ba nguồn lực cần được khơi thông là dữ liệu; tài sản vô hình và dòng vốn đầu tư; không gian đổi mới và tính sáng tạo

Từ đó, đại biểu Ngô Trí Long kiến nghị các nhiệm vụ trọng tâm: Xây dựng kiến trúc tổng thể của pháp luật về kinh tế số; phát huy vai trò điều phối của Bộ Tư pháp; cụ thể hóa dữ liệu thành nguồn lực phát triển; hoàn thiện khung pháp lý cho tài sản số và tài sản trí tuệ; xây dựng cơ chế Sandbox liên ngành và quản lý kinh tế số, trí tuệ theo mức độ rủi ro; đồng thời phải nâng cao chất lượng tổ chức thi hành.

Xây dựng thể chế về chia sẻ dữ liệu giữa khu vực công và khu vực tư

Đồng chí Đỗ Thúy Lan, đại diện Công ty FPT cho biết, hiện nay nguồn dữ liệu khá dồi dào khi chúng ta đã xây dựng các nền tảng số và đặc biệt là các cơ sở dữ liệu thuộc các bộ, ngành nhưng lại đang thiếu vắng thể chế về vấn đề chia sẻ dữ liệu giữa khu vực công và khu vực tư. Đại biểu thông tin, bên cạnh nguồn dữ liệu mở, còn rất nhiều dữ liệu cần phải có một cơ chế để có thể trao đổi hoặc thỏa thuận, cấp phép. Chính vì vậy, đồng chí Đỗ Thúy Lan mong muốn trong thời gian tới có một hướng dẫn hoặc quy định thế nào để các doanh nghiệp được quyền khai thác những dữ liệu “không mở” và khi đó các doanh nghiệp cũng sẵn sàng trả phí.

Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế số đồng bộ, an toàn, dễ tuân thủ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia
Đồng chí Đỗ Thúy Lan, đại diện Công ty FPT cho biết hiện đang thiếu vắng thể chế về vấn đề chia sẻ dữ liệu giữa khu vực công và khu vực tư

Đồng thời, đại biểu Đỗ Thúy Lan còn đề xuất liên quan đến cơ chế Sandbox. Theo đó, cơ chế Sandbox là một mô hình quản trị rất mới, là mô hình thử nghiệm có kiểm soát, những cơ quan hoặc doanh nghiệp có thể tham gia vào môi trường thử nghiệm và đồng thời sẽ có những cơ chế mang tính chất quản trị rủi ro. Tuy nhiên, trong lĩnh vực pháp luật thì chưa có cơ chế này, nên cần nghiên cứu có một hướng dẫn cơ chế Sandbox cho lĩnh vực pháp luật.

Cần có cơ chế quản lý đồng kiểm và đồng quản đối với giao dịch tài sản số

Tại Hội thảo, TS. Lê Minh Tú, Trường Đại học Tài chính - Ngân hàng Hà Nội cho biết, khi so sánh quốc tế cho thấy không tồn tại một mô hình quản lý thị trường tài sản mã hóa duy nhất. Chẳng hạn, Liên minh châu Âu áp dụng với khung pháp lý thống nhất, ban hành Quy định về thị trường tài sản mã hóa để quản lý và giám sát toàn bộ thị trường này. Hoa Kỳ không có một đạo luật thống nhất về tài sản mã hóa mà áp dụng cách tiếp cận đa cơ quan quản lý. Trung Quốc theo đuổi mô hình tập trung hóa thông qua đồng Nhân dân tệ kỹ thuật số. Quốc gia này áp dụng mô hình quản lý hai tầng, trong đó Ngân hàng nhân dân Trung Quốc chịu trách nhiệm phát hành, quản lý và kiểm soát đồng Nhân dân tệ kỹ thuật số. Mặc dù khác nhau về hình thức nhưng các quốc gia thành công đều chia sẻ các nguyên tắc chung: Phân loại rõ ràng tài sản số; xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát; tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý.

Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế số đồng bộ, an toàn, dễ tuân thủ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia
TS. Lê Minh Tú, Trường Đại học Tài chính - Ngân hàng Hà Nội đề xuất xây dựng khuôn khổ AML/CFT chuyên biệt cho các nhà cung cấp dịch vụ tài sản số

Theo TS. Lê Minh Tú, giao dịch tài sản số được thực hiện với phạm vi xuyên biên giới nên các cơ quan quản lý cần có cơ chế đồng kiểm và đồng quản giữa các cấp quản lý trong một quốc gia và giữa các quốc gia với nhau. Đại biểu đề xuất 05 định hướng chính sách gồm: (i) Xây dựng cơ chế cấp phép phân tầng theo mức độ rủi ro; (ii) Tăng cường công bố thông tin và phân loại nhà đầu tư; (iii) Xây dựng khuôn khổ phòng, chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố (AML/CFT) chuyên biệt cho các nhà cung cấp dịch vụ tài sản số; (iv) Thiết lập cơ chế thuế minh bạch, dễ tuân thủ và phù hợp với thông lệ quốc tế; (v) Xây dựng hệ thống chứng chỉ hành nghề tài sản mã hóa theo các tiêu chuẩn quốc tế.

Nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh của quốc gia

Kết luận Hội thảo, đồng chí Nguyễn Văn Cương, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý bày tỏ trân trọng cảm ơn những tâm huyết của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn, nhà quản lý, đại biểu tham dự Hội thảo. Viện trưởng đánh giá rất cao những trao đổi, góp ý của các chuyên gia, đại biểu. Trong đó, đồng chí Nguyễn Văn Cương chia sẻ với các ý kiến về vấn đề phải đồng bộ pháp luật hay một số lĩnh vực cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật. Viện trưởng nhận định, pháp luật ngoài việc tạo các điều kiện thúc đẩy phát triển thì cũng phải tạo hành lang pháp lý để quản trị rủi ro và giúp người dân, doanh nghiệp an toàn trong các hoạt động này.

Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế số đồng bộ, an toàn, dễ tuân thủ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia
Đồng chí Nguyễn Văn Cương, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý mong muốn cộng đồng luôn đồng hành với Bộ Tư pháp trong quá trình tham mưu để hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam

Vì vậy, Viện trưởng Nguyễn Văn Cương rất mong các chuyên gia, nhà khoa học và đặc biệt là các doanh nghiệp trong hoạt động thực tiễn nếu thấy những vướng mắc hay vấn đề pháp luật chưa đồng bộ thì phản ánh lại thông qua nhiều kênh, trong đó có kênh với Bộ Tư pháp để tiếp tục nghiên cứu, cải thiện, hoàn thiện.

Đồng chí Viện trưởng khẳng định, “chúng tôi xin ghi nhận tất cả ý kiến rất sâu sắc của các chuyên gia, nhà khoa học và coi đây là những nguồn dữ liệu đầu vào quan trọng cho việc tham mưu xây dựng chính sách của chúng tôi”. Đồng thời, mong muốn các chuyên gia, nhà khoa học, các cơ quan, cả cộng đồng luôn đồng hành với Bộ Tư pháp trong quá trình tham mưu để hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam theo đúng những tinh thần mới nhất hiện nay và sẽ cố gắng nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật tốt nhất để thực sự tạo lợi thế cạnh tranh của quốc gia trong thời gian tới.

Một số hình ảnh tại Hội thảo:

Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế số đồng bộ, an toàn, dễ tuân thủ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia
Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế số đồng bộ, an toàn, dễ tuân thủ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia
Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế số đồng bộ, an toàn, dễ tuân thủ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia
Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế số đồng bộ, an toàn, dễ tuân thủ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia
Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế số đồng bộ, an toàn, dễ tuân thủ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia
Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế số đồng bộ, an toàn, dễ tuân thủ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia

(Ảnh: Linh Diệp)

Uyên Nhi

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật - Kinh nghiệm từ Trung Quốc và gợi mở đối với Việt Nam

Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật - Kinh nghiệm từ Trung Quốc và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút các nguồn lực xã hội vào thực hiện, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Hoàn thiện cơ chế xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là yêu cầu đặt ra trong quá trình sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 nhằm huy động hiệu quả nguồn lực xã hội và đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW[I]. Trên cơ sở phân tích dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)[II] (dự thảo Luật) và tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc, nghiên cứu nhận diện những bất cập trong cơ chế xã hội hóa, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Đổi mới tư duy, xây dựng quy trình lập pháp, lập quy hiện đại, chuyên nghiệp

Đổi mới tư duy, xây dựng quy trình lập pháp, lập quy hiện đại, chuyên nghiệp

Sáng ngày 07/8, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo Luật về văn bản quy phạm pháp luật. Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì có Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật Nguyễn Quốc Hoàn.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và hội nhập quốc tế, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích bối cảnh và thực tiễn thi hành, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết sửa đổi Luật; phân tích 06 chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* ( dự thảo Luật), đồng thời, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành Luật.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới

Hoàn thiện quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới

Trong khuôn khổ Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng ngày 05/8, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày Tờ trình về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) và Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh trình bày Báo cáo thẩm tra về dự án Luật.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Xác định pháp luật là công cụ hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của Đảng và Nhà nước

Xác định pháp luật là công cụ hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của Đảng và Nhà nước

Chiều ngày 06/8, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng làm việc với Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý về Đề án "Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới". Tham dự buổi làm việc có Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú; đại diện Lãnh đạo một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp cùng các chuyên gia, nhà khoa học.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Làm rõ cơ chế phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công trình liên quan đến an ninh quốc gia

Làm rõ cơ chế phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công trình liên quan đến an ninh quốc gia

Sáng ngày 06/8, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh chủ trì cuộc họp thẩm định hồ sơ dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. Tham dự cuộc họp có đại diện các bộ, ngành có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: