Hội thảo có sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực pháp lý, kinh tế số, chuyển đổi số; đại diện lãnh đạo một số bộ, ngành; một số đại biểu Quốc hội; đại diện Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội; đại diện Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đại diện lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp; Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân; tổ chức pháp chế các bộ, cơ quan ngang bộ; Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành, Sở Tư pháp, Sở Tài chính, Sở Khoa học và Công nghệ; Liên đoàn Luật sư Việt Nam và các Đoàn Luật sư; Hội Luật gia Việt Nam và Hội Luật gia các tỉnh/thành phố; Hiệp hội các doanh nghiệp Việt Nam, Hội doanh nghiệp; các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế; các viện, trung tâm nghiên cứu về kinh tế; cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu;...
![]() |
| Hội thảo khoa học “Hoàn thiện thể chế về kinh tế số đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” được tổ chức bằng hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến |
Kinh tế số là một trong hai cấu thành quan trọng của nền kinh tế Việt Nam
Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú cho biết, ngày 28/7 vừa qua, tại Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Trong đó xác định mục tiêu đến năm 2035, Việt Nam cần xây dựng mô hình kinh tế hiệu quả cao, sáng tạo, xanh, tự chủ, bao trùm và hội nhập. Kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế tuần hoàn, kinh tế carbon thấp và khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới trở thành cấu trúc quan trọng đặc trưng của nền kinh tế.
Có thể thấy, thực chất kinh tế số và kinh tế dữ liệu có bản chất là kinh tế số; còn kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế carbon thấp thực chất cũng gom về là kinh tế xanh. Từ đó cho thấy, Nghị quyết số 19-NQ/TW đã xác định kinh tế số là một trong hai cấu thành quan trọng của nền kinh tế Việt Nam định hướng đến năm 2035. Vì vậy, Thứ trưởng nhận định, Hội thảo rất kịp thời, thực tiễn, góp phần triển khai nhanh, hiệu quả, kịp thời các nghị quyết của Hội nghị Trung ương 3, trong đó có Nghị quyết số 19-NQ/TW.
Bổ sung khung pháp lý truyền thống hiện hành để xử lý đặc trưng, đặc thù của nền kinh tế số
Thứ trưởng nhấn mạnh, từ kinh nghiệm quốc tế cũng như Việt Nam thời gian qua cho thấy, không thể tạo ra khung pháp lý mới hoàn toàn, mà thực chất là dựa trên khung truyền thống hiện hành nhưng có bổ sung để xử lý đặc trưng, đặc thù của nền kinh tế số.
![]() |
| Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú phát biểu khai mạc Hội thảo |
Thứ trưởng nêu ba nhóm vấn đề: (i) Phạm vi điều chỉnh khung pháp luật về thể chế nói chung của kinh tế số sẽ xử lý quan hệ kinh tế phát sinh trên môi trường số, công nghệ số; (ii) Pháp luật, thực thi pháp luật cũng như chức năng quản lý nhà nước trong kinh tế số sẽ hướng đến kiến tạo phát triển và bảo đảm cạnh tranh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh (trong đó có an ninh mạng) nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao hiệu suất, năng suất, bảo đảm trật tự pháp lý và phát triển kinh tế số bền vững; (iii) Tương tự như các lĩnh vực kinh tế truyền thống, trọng tâm của kinh tế số cũng tập trung vào ba nhóm vấn đề gắn với đặc trưng, đặc thù của kinh tế số, đó là bảo vệ quyền sở hữu tài sản, quyền tự do hợp đồng (trong đó bao gồm quyền tự do kinh doanh), cơ chế giải quyết tranh chấp nhanh chóng, hiệu quả, ít chi phí nhất. Vì có những đặc trưng, đặc thù của kinh tế số nên cũng cần có những đặc thù trong khung pháp luật liên quan đến bảo vệ quyền sở hữu tài sản. Do tài sản này nằm trên môi trường số nên có những đặc thù.
Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tú nhận định, thực chất kinh tế số và khung pháp luật cho kinh tế số không phải là vấn đề mới mà chúng ta đã có, đang có và tiếp tục hoàn thiện. Vấn đề đặt ra là chúng ta cần phải thêm, bớt, sửa đổi, bổ sung gì để phản ánh được đặc thù của kinh tế số. Bên cạnh đó là vấn đề thực thi, nếu khung pháp lý có hoàn thiện nhưng thực thi không hiệu quả, không chất lượng và tốn kém chi phí thì dẫn đến không thể thúc đẩy phát triển được kinh tế số.
Dù hoàn thiện pháp luật hay tổ chức thi hành pháp luật, cũng là vấn đề con người. Con người nếu chúng ta không nắm, không am hiểu được kinh tế số thì cũng không thể thúc đẩy phát triển được kinh tế số.
Tồn tại sự “phân mảnh” của hệ thống pháp luật đòi hỏi cần kiến trúc quản trị thống nhất
Đây là nhận định của nhiều đại biểu tại Hội thảo. Cụ thể:
![]() |
| TS. Lê Minh Nghĩa, Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam cho rằng hạn chế lớn nhất hiện nay là sự “phân mảnh” của hệ thống pháp luật |
Đối với khung pháp lý về kinh tế số, theo TS. Lê Minh Nghĩa, Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam, hạn chế lớn nhất hiện nay là sự “phân mảnh” của hệ thống pháp luật; thứ hai là khoảng cách giữa “công nhận giao dịch điện tử” và “số hóa thực chất”; thứ ba là an ninh, an toàn và bảo vệ người dùng chưa theo kịp với độ mở của thị trường; thứ tư là mâu thuẫn tiềm ẩn giữa khai thác dữ liệu và bảo vệ dữ liệu cá nhân; thứ năm là khoảng cách số và năng lực tuân thủ. Chính vì vậy, đại biểu nhấn mạnh Việt Nam cần chuyển trọng tâm sang “làm cho các luật vận hành như một kiến trúc quản trị thống nhất”, dễ tuân thủ, dựa trên dữ liệu và tương xứng với rủi ro. Một khuôn khổ như vậy sẽ đồng thời thực hiện hai mục tiêu bảo vệ con người, dữ liệu, tài sản và an ninh quốc gia, đồng thời tạo không gian đủ rộng cho đổi mới sáng tạo, cạnh tranh và tham gia của mọi doanh nghiệp, người dân vào kinh tế số.
Đồng quan điểm, PGS.TS. Ngô Trí Long, Trường Đại học thành Đông cho rằng, thể chế kinh tế số Việt Nam đã có nền móng nhưng chưa hoàn chỉnh mà cần phải đổi mới tư duy quản lý từ đã có, đang có sang kiến tạo phát triển, quản lý theo rủi ro và thích ứng nhanh với công nghệ mới. Khái quát một cách cơ bản, điểm nghẽn lớn nhất không phải là thiếu quy định mà là pháp luật còn phân tán, chậm thích ứng và thực thi chưa đồng bộ. Theo Phó giáo sư, có ba nguồn lực cần được khơi thông là dữ liệu; tài sản vô hình và dòng vốn đầu tư; không gian đổi mới và tính sáng tạo. Với định hướng hoàn thiện thể chế kinh tế số mới hiện nay, có năm yêu cầu cốt lõi là minh bạch; đồng bộ; linh hoạt; an toàn; khả năng thích ứng. Qua đó sẽ giải phóng được các nguồn lực công nghệ, vốn, nhân lực và sáng tạo phục vụ phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
![]() |
| Theo PGS.TS. Ngô Trí Long, Trường Đại học thành Đông, có ba nguồn lực cần được khơi thông là dữ liệu; tài sản vô hình và dòng vốn đầu tư; không gian đổi mới và tính sáng tạo |
Từ đó, đại biểu Ngô Trí Long kiến nghị các nhiệm vụ trọng tâm: Xây dựng kiến trúc tổng thể của pháp luật về kinh tế số; phát huy vai trò điều phối của Bộ Tư pháp; cụ thể hóa dữ liệu thành nguồn lực phát triển; hoàn thiện khung pháp lý cho tài sản số và tài sản trí tuệ; xây dựng cơ chế Sandbox liên ngành và quản lý kinh tế số, trí tuệ theo mức độ rủi ro; đồng thời phải nâng cao chất lượng tổ chức thi hành.
Xây dựng thể chế về chia sẻ dữ liệu giữa khu vực công và khu vực tư
Đồng chí Đỗ Thúy Lan, đại diện Công ty FPT cho biết, hiện nay nguồn dữ liệu khá dồi dào khi chúng ta đã xây dựng các nền tảng số và đặc biệt là các cơ sở dữ liệu thuộc các bộ, ngành nhưng lại đang thiếu vắng thể chế về vấn đề chia sẻ dữ liệu giữa khu vực công và khu vực tư. Đại biểu thông tin, bên cạnh nguồn dữ liệu mở, còn rất nhiều dữ liệu cần phải có một cơ chế để có thể trao đổi hoặc thỏa thuận, cấp phép. Chính vì vậy, đồng chí Đỗ Thúy Lan mong muốn trong thời gian tới có một hướng dẫn hoặc quy định thế nào để các doanh nghiệp được quyền khai thác những dữ liệu “không mở” và khi đó các doanh nghiệp cũng sẵn sàng trả phí.
![]() |
| Đồng chí Đỗ Thúy Lan, đại diện Công ty FPT cho biết hiện đang thiếu vắng thể chế về vấn đề chia sẻ dữ liệu giữa khu vực công và khu vực tư |
Đồng thời, đại biểu Đỗ Thúy Lan còn đề xuất liên quan đến cơ chế Sandbox. Theo đó, cơ chế Sandbox là một mô hình quản trị rất mới, là mô hình thử nghiệm có kiểm soát, những cơ quan hoặc doanh nghiệp có thể tham gia vào môi trường thử nghiệm và đồng thời sẽ có những cơ chế mang tính chất quản trị rủi ro. Tuy nhiên, trong lĩnh vực pháp luật thì chưa có cơ chế này, nên cần nghiên cứu có một hướng dẫn cơ chế Sandbox cho lĩnh vực pháp luật.
Cần có cơ chế quản lý đồng kiểm và đồng quản đối với giao dịch tài sản số
Tại Hội thảo, TS. Lê Minh Tú, Trường Đại học Tài chính - Ngân hàng Hà Nội cho biết, khi so sánh quốc tế cho thấy không tồn tại một mô hình quản lý thị trường tài sản mã hóa duy nhất. Chẳng hạn, Liên minh châu Âu áp dụng với khung pháp lý thống nhất, ban hành Quy định về thị trường tài sản mã hóa để quản lý và giám sát toàn bộ thị trường này. Hoa Kỳ không có một đạo luật thống nhất về tài sản mã hóa mà áp dụng cách tiếp cận đa cơ quan quản lý. Trung Quốc theo đuổi mô hình tập trung hóa thông qua đồng Nhân dân tệ kỹ thuật số. Quốc gia này áp dụng mô hình quản lý hai tầng, trong đó Ngân hàng nhân dân Trung Quốc chịu trách nhiệm phát hành, quản lý và kiểm soát đồng Nhân dân tệ kỹ thuật số. Mặc dù khác nhau về hình thức nhưng các quốc gia thành công đều chia sẻ các nguyên tắc chung: Phân loại rõ ràng tài sản số; xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát; tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý.
![]() |
| TS. Lê Minh Tú, Trường Đại học Tài chính - Ngân hàng Hà Nội đề xuất xây dựng khuôn khổ AML/CFT chuyên biệt cho các nhà cung cấp dịch vụ tài sản số |
Theo TS. Lê Minh Tú, giao dịch tài sản số được thực hiện với phạm vi xuyên biên giới nên các cơ quan quản lý cần có cơ chế đồng kiểm và đồng quản giữa các cấp quản lý trong một quốc gia và giữa các quốc gia với nhau. Đại biểu đề xuất 05 định hướng chính sách gồm: (i) Xây dựng cơ chế cấp phép phân tầng theo mức độ rủi ro; (ii) Tăng cường công bố thông tin và phân loại nhà đầu tư; (iii) Xây dựng khuôn khổ phòng, chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố (AML/CFT) chuyên biệt cho các nhà cung cấp dịch vụ tài sản số; (iv) Thiết lập cơ chế thuế minh bạch, dễ tuân thủ và phù hợp với thông lệ quốc tế; (v) Xây dựng hệ thống chứng chỉ hành nghề tài sản mã hóa theo các tiêu chuẩn quốc tế.
Nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh của quốc gia
Kết luận Hội thảo, đồng chí Nguyễn Văn Cương, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý bày tỏ trân trọng cảm ơn những tâm huyết của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn, nhà quản lý, đại biểu tham dự Hội thảo. Viện trưởng đánh giá rất cao những trao đổi, góp ý của các chuyên gia, đại biểu. Trong đó, đồng chí Nguyễn Văn Cương chia sẻ với các ý kiến về vấn đề phải đồng bộ pháp luật hay một số lĩnh vực cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật. Viện trưởng nhận định, pháp luật ngoài việc tạo các điều kiện thúc đẩy phát triển thì cũng phải tạo hành lang pháp lý để quản trị rủi ro và giúp người dân, doanh nghiệp an toàn trong các hoạt động này.
![]() |
| Đồng chí Nguyễn Văn Cương, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý mong muốn cộng đồng luôn đồng hành với Bộ Tư pháp trong quá trình tham mưu để hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam |
Vì vậy, Viện trưởng Nguyễn Văn Cương rất mong các chuyên gia, nhà khoa học và đặc biệt là các doanh nghiệp trong hoạt động thực tiễn nếu thấy những vướng mắc hay vấn đề pháp luật chưa đồng bộ thì phản ánh lại thông qua nhiều kênh, trong đó có kênh với Bộ Tư pháp để tiếp tục nghiên cứu, cải thiện, hoàn thiện.
Đồng chí Viện trưởng khẳng định, “chúng tôi xin ghi nhận tất cả ý kiến rất sâu sắc của các chuyên gia, nhà khoa học và coi đây là những nguồn dữ liệu đầu vào quan trọng cho việc tham mưu xây dựng chính sách của chúng tôi”. Đồng thời, mong muốn các chuyên gia, nhà khoa học, các cơ quan, cả cộng đồng luôn đồng hành với Bộ Tư pháp trong quá trình tham mưu để hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam theo đúng những tinh thần mới nhất hiện nay và sẽ cố gắng nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật tốt nhất để thực sự tạo lợi thế cạnh tranh của quốc gia trong thời gian tới.
Một số hình ảnh tại Hội thảo:
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
(Ảnh: Linh Diệp)