Thứ hai 28/09/2026 02:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế số đồng bộ, an toàn, dễ tuân thủ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia

Ngày 31/7/2026, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật tổ chức Hội thảo khoa học “Hoàn thiện thể chế về kinh tế số đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” bằng hình thức trực tiếp tại Hà Nội, kết hợp trực tuyến tại khoảng 120 điểm cầu trên cả nước. Thứ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì có đồng chí Trương Thế Côn, Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật; đồng chí Nguyễn Văn Cương, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý.

Hội thảo có sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực pháp lý, kinh tế số, chuyển đổi số; đại diện lãnh đạo một số bộ, ngành; một số đại biểu Quốc hội; đại diện Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội; đại diện Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đại diện lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp; Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân; tổ chức pháp chế các bộ, cơ quan ngang bộ; Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành, Sở Tư pháp, Sở Tài chính, Sở Khoa học và Công nghệ; Liên đoàn Luật sư Việt Nam và các Đoàn Luật sư; Hội Luật gia Việt Nam và Hội Luật gia các tỉnh/thành phố; Hiệp hội các doanh nghiệp Việt Nam, Hội doanh nghiệp; các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế; các viện, trung tâm nghiên cứu về kinh tế; cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu;...

Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế số đồng bộ, an toàn, dễ tuân thủ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia
Hội thảo khoa học “Hoàn thiện thể chế về kinh tế số đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” được tổ chức bằng hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến

Kinh tế số là một trong hai cấu thành quan trọng của nền kinh tế Việt Nam

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú cho biết, ngày 28/7 vừa qua, tại Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Trong đó xác định mục tiêu đến năm 2035, Việt Nam cần xây dựng mô hình kinh tế hiệu quả cao, sáng tạo, xanh, tự chủ, bao trùm và hội nhập. Kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế tuần hoàn, kinh tế carbon thấp và khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới trở thành cấu trúc quan trọng đặc trưng của nền kinh tế.

Có thể thấy, thực chất kinh tế số và kinh tế dữ liệu có bản chất là kinh tế số; còn kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế carbon thấp thực chất cũng gom về là kinh tế xanh. Từ đó cho thấy, Nghị quyết số 19-NQ/TW đã xác định kinh tế số là một trong hai cấu thành quan trọng của nền kinh tế Việt Nam định hướng đến năm 2035. Vì vậy, Thứ trưởng nhận định, Hội thảo rất kịp thời, thực tiễn, góp phần triển khai nhanh, hiệu quả, kịp thời các nghị quyết của Hội nghị Trung ương 3, trong đó có Nghị quyết số 19-NQ/TW.

Bổ sung khung pháp lý truyền thống hiện hành để xử lý đặc trưng, đặc thù của nền kinh tế số

Thứ trưởng nhấn mạnh, từ kinh nghiệm quốc tế cũng như Việt Nam thời gian qua cho thấy, không thể tạo ra khung pháp lý mới hoàn toàn, mà thực chất là dựa trên khung truyền thống hiện hành nhưng có bổ sung để xử lý đặc trưng, đặc thù của nền kinh tế số.

Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế số đồng bộ, an toàn, dễ tuân thủ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú phát biểu khai mạc Hội thảo

Thứ trưởng nêu ba nhóm vấn đề: (i) Phạm vi điều chỉnh khung pháp luật về thể chế nói chung của kinh tế số sẽ xử lý quan hệ kinh tế phát sinh trên môi trường số, công nghệ số; (ii) Pháp luật, thực thi pháp luật cũng như chức năng quản lý nhà nước trong kinh tế số sẽ hướng đến kiến tạo phát triển và bảo đảm cạnh tranh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh (trong đó có an ninh mạng) nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao hiệu suất, năng suất, bảo đảm trật tự pháp lý và phát triển kinh tế số bền vững; (iii) Tương tự như các lĩnh vực kinh tế truyền thống, trọng tâm của kinh tế số cũng tập trung vào ba nhóm vấn đề gắn với đặc trưng, đặc thù của kinh tế số, đó là bảo vệ quyền sở hữu tài sản, quyền tự do hợp đồng (trong đó bao gồm quyền tự do kinh doanh), cơ chế giải quyết tranh chấp nhanh chóng, hiệu quả, ít chi phí nhất. Vì có những đặc trưng, đặc thù của kinh tế số nên cũng cần có những đặc thù trong khung pháp luật liên quan đến bảo vệ quyền sở hữu tài sản. Do tài sản này nằm trên môi trường số nên có những đặc thù.

Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tú nhận định, thực chất kinh tế số và khung pháp luật cho kinh tế số không phải là vấn đề mới mà chúng ta đã có, đang có và tiếp tục hoàn thiện. Vấn đề đặt ra là chúng ta cần phải thêm, bớt, sửa đổi, bổ sung gì để phản ánh được đặc thù của kinh tế số. Bên cạnh đó là vấn đề thực thi, nếu khung pháp lý có hoàn thiện nhưng thực thi không hiệu quả, không chất lượng và tốn kém chi phí thì dẫn đến không thể thúc đẩy phát triển được kinh tế số.

Dù hoàn thiện pháp luật hay tổ chức thi hành pháp luật, cũng là vấn đề con người. Con người nếu chúng ta không nắm, không am hiểu được kinh tế số thì cũng không thể thúc đẩy phát triển được kinh tế số.

Tồn tại sự “phân mảnh” của hệ thống pháp luật đòi hỏi cần kiến trúc quản trị thống nhất

Đây là nhận định của nhiều đại biểu tại Hội thảo. Cụ thể:

Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế số đồng bộ, an toàn, dễ tuân thủ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia
TS. Lê Minh Nghĩa, Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam cho rằng hạn chế lớn nhất hiện nay là sự “phân mảnh” của hệ thống pháp luật

Đối với khung pháp lý về kinh tế số, theo TS. Lê Minh Nghĩa, Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam, hạn chế lớn nhất hiện nay là sự “phân mảnh” của hệ thống pháp luật; thứ hai là khoảng cách giữa “công nhận giao dịch điện tử” và “số hóa thực chất”; thứ ba là an ninh, an toàn và bảo vệ người dùng chưa theo kịp với độ mở của thị trường; thứ tư là mâu thuẫn tiềm ẩn giữa khai thác dữ liệu và bảo vệ dữ liệu cá nhân; thứ năm là khoảng cách số và năng lực tuân thủ. Chính vì vậy, đại biểu nhấn mạnh Việt Nam cần chuyển trọng tâm sang “làm cho các luật vận hành như một kiến trúc quản trị thống nhất”, dễ tuân thủ, dựa trên dữ liệu và tương xứng với rủi ro. Một khuôn khổ như vậy sẽ đồng thời thực hiện hai mục tiêu bảo vệ con người, dữ liệu, tài sản và an ninh quốc gia, đồng thời tạo không gian đủ rộng cho đổi mới sáng tạo, cạnh tranh và tham gia của mọi doanh nghiệp, người dân vào kinh tế số.

Đồng quan điểm, PGS.TS. Ngô Trí Long, Trường Đại học thành Đông cho rằng, thể chế kinh tế số Việt Nam đã có nền móng nhưng chưa hoàn chỉnh mà cần phải đổi mới tư duy quản lý từ đã có, đang có sang kiến tạo phát triển, quản lý theo rủi ro và thích ứng nhanh với công nghệ mới. Khái quát một cách cơ bản, điểm nghẽn lớn nhất không phải là thiếu quy định mà là pháp luật còn phân tán, chậm thích ứng và thực thi chưa đồng bộ. Theo Phó giáo sư, có ba nguồn lực cần được khơi thông là dữ liệu; tài sản vô hình và dòng vốn đầu tư; không gian đổi mới và tính sáng tạo. Với định hướng hoàn thiện thể chế kinh tế số mới hiện nay, có năm yêu cầu cốt lõi là minh bạch; đồng bộ; linh hoạt; an toàn; khả năng thích ứng. Qua đó sẽ giải phóng được các nguồn lực công nghệ, vốn, nhân lực và sáng tạo phục vụ phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế số đồng bộ, an toàn, dễ tuân thủ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia
Theo PGS.TS. Ngô Trí Long, Trường Đại học thành Đông, có ba nguồn lực cần được khơi thông là dữ liệu; tài sản vô hình và dòng vốn đầu tư; không gian đổi mới và tính sáng tạo

Từ đó, đại biểu Ngô Trí Long kiến nghị các nhiệm vụ trọng tâm: Xây dựng kiến trúc tổng thể của pháp luật về kinh tế số; phát huy vai trò điều phối của Bộ Tư pháp; cụ thể hóa dữ liệu thành nguồn lực phát triển; hoàn thiện khung pháp lý cho tài sản số và tài sản trí tuệ; xây dựng cơ chế Sandbox liên ngành và quản lý kinh tế số, trí tuệ theo mức độ rủi ro; đồng thời phải nâng cao chất lượng tổ chức thi hành.

Xây dựng thể chế về chia sẻ dữ liệu giữa khu vực công và khu vực tư

Đồng chí Đỗ Thúy Lan, đại diện Công ty FPT cho biết, hiện nay nguồn dữ liệu khá dồi dào khi chúng ta đã xây dựng các nền tảng số và đặc biệt là các cơ sở dữ liệu thuộc các bộ, ngành nhưng lại đang thiếu vắng thể chế về vấn đề chia sẻ dữ liệu giữa khu vực công và khu vực tư. Đại biểu thông tin, bên cạnh nguồn dữ liệu mở, còn rất nhiều dữ liệu cần phải có một cơ chế để có thể trao đổi hoặc thỏa thuận, cấp phép. Chính vì vậy, đồng chí Đỗ Thúy Lan mong muốn trong thời gian tới có một hướng dẫn hoặc quy định thế nào để các doanh nghiệp được quyền khai thác những dữ liệu “không mở” và khi đó các doanh nghiệp cũng sẵn sàng trả phí.

Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế số đồng bộ, an toàn, dễ tuân thủ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia
Đồng chí Đỗ Thúy Lan, đại diện Công ty FPT cho biết hiện đang thiếu vắng thể chế về vấn đề chia sẻ dữ liệu giữa khu vực công và khu vực tư

Đồng thời, đại biểu Đỗ Thúy Lan còn đề xuất liên quan đến cơ chế Sandbox. Theo đó, cơ chế Sandbox là một mô hình quản trị rất mới, là mô hình thử nghiệm có kiểm soát, những cơ quan hoặc doanh nghiệp có thể tham gia vào môi trường thử nghiệm và đồng thời sẽ có những cơ chế mang tính chất quản trị rủi ro. Tuy nhiên, trong lĩnh vực pháp luật thì chưa có cơ chế này, nên cần nghiên cứu có một hướng dẫn cơ chế Sandbox cho lĩnh vực pháp luật.

Cần có cơ chế quản lý đồng kiểm và đồng quản đối với giao dịch tài sản số

Tại Hội thảo, TS. Lê Minh Tú, Trường Đại học Tài chính - Ngân hàng Hà Nội cho biết, khi so sánh quốc tế cho thấy không tồn tại một mô hình quản lý thị trường tài sản mã hóa duy nhất. Chẳng hạn, Liên minh châu Âu áp dụng với khung pháp lý thống nhất, ban hành Quy định về thị trường tài sản mã hóa để quản lý và giám sát toàn bộ thị trường này. Hoa Kỳ không có một đạo luật thống nhất về tài sản mã hóa mà áp dụng cách tiếp cận đa cơ quan quản lý. Trung Quốc theo đuổi mô hình tập trung hóa thông qua đồng Nhân dân tệ kỹ thuật số. Quốc gia này áp dụng mô hình quản lý hai tầng, trong đó Ngân hàng nhân dân Trung Quốc chịu trách nhiệm phát hành, quản lý và kiểm soát đồng Nhân dân tệ kỹ thuật số. Mặc dù khác nhau về hình thức nhưng các quốc gia thành công đều chia sẻ các nguyên tắc chung: Phân loại rõ ràng tài sản số; xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát; tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý.

Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế số đồng bộ, an toàn, dễ tuân thủ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia
TS. Lê Minh Tú, Trường Đại học Tài chính - Ngân hàng Hà Nội đề xuất xây dựng khuôn khổ AML/CFT chuyên biệt cho các nhà cung cấp dịch vụ tài sản số

Theo TS. Lê Minh Tú, giao dịch tài sản số được thực hiện với phạm vi xuyên biên giới nên các cơ quan quản lý cần có cơ chế đồng kiểm và đồng quản giữa các cấp quản lý trong một quốc gia và giữa các quốc gia với nhau. Đại biểu đề xuất 05 định hướng chính sách gồm: (i) Xây dựng cơ chế cấp phép phân tầng theo mức độ rủi ro; (ii) Tăng cường công bố thông tin và phân loại nhà đầu tư; (iii) Xây dựng khuôn khổ phòng, chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố (AML/CFT) chuyên biệt cho các nhà cung cấp dịch vụ tài sản số; (iv) Thiết lập cơ chế thuế minh bạch, dễ tuân thủ và phù hợp với thông lệ quốc tế; (v) Xây dựng hệ thống chứng chỉ hành nghề tài sản mã hóa theo các tiêu chuẩn quốc tế.

Nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật tạo lợi thế cạnh tranh của quốc gia

Kết luận Hội thảo, đồng chí Nguyễn Văn Cương, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý bày tỏ trân trọng cảm ơn những tâm huyết của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn, nhà quản lý, đại biểu tham dự Hội thảo. Viện trưởng đánh giá rất cao những trao đổi, góp ý của các chuyên gia, đại biểu. Trong đó, đồng chí Nguyễn Văn Cương chia sẻ với các ý kiến về vấn đề phải đồng bộ pháp luật hay một số lĩnh vực cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật. Viện trưởng nhận định, pháp luật ngoài việc tạo các điều kiện thúc đẩy phát triển thì cũng phải tạo hành lang pháp lý để quản trị rủi ro và giúp người dân, doanh nghiệp an toàn trong các hoạt động này.

Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế số đồng bộ, an toàn, dễ tuân thủ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia
Đồng chí Nguyễn Văn Cương, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý mong muốn cộng đồng luôn đồng hành với Bộ Tư pháp trong quá trình tham mưu để hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam

Vì vậy, Viện trưởng Nguyễn Văn Cương rất mong các chuyên gia, nhà khoa học và đặc biệt là các doanh nghiệp trong hoạt động thực tiễn nếu thấy những vướng mắc hay vấn đề pháp luật chưa đồng bộ thì phản ánh lại thông qua nhiều kênh, trong đó có kênh với Bộ Tư pháp để tiếp tục nghiên cứu, cải thiện, hoàn thiện.

Đồng chí Viện trưởng khẳng định, “chúng tôi xin ghi nhận tất cả ý kiến rất sâu sắc của các chuyên gia, nhà khoa học và coi đây là những nguồn dữ liệu đầu vào quan trọng cho việc tham mưu xây dựng chính sách của chúng tôi”. Đồng thời, mong muốn các chuyên gia, nhà khoa học, các cơ quan, cả cộng đồng luôn đồng hành với Bộ Tư pháp trong quá trình tham mưu để hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam theo đúng những tinh thần mới nhất hiện nay và sẽ cố gắng nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật tốt nhất để thực sự tạo lợi thế cạnh tranh của quốc gia trong thời gian tới.

Một số hình ảnh tại Hội thảo:

Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế số đồng bộ, an toàn, dễ tuân thủ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia
Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế số đồng bộ, an toàn, dễ tuân thủ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia
Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế số đồng bộ, an toàn, dễ tuân thủ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia
Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế số đồng bộ, an toàn, dễ tuân thủ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia
Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế số đồng bộ, an toàn, dễ tuân thủ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia
Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế số đồng bộ, an toàn, dễ tuân thủ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia

(Ảnh: Linh Diệp)

Uyên Nhi

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14, tập trung mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý, hoàn thiện tổ chức và đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý, đơn giản hóa cơ chế thụ lý vụ việc, tăng cường phối hợp trong hoạt động tố tụng và đẩy mạnh chuyển đổi số.
03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý và hiệu quả cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2026 đã hoàn thiện một số quy định về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm trợ giúp pháp lý, cấp thẻ, cấp lại, miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý. Cụ thể:
Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Ngày 21/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công; trong đó quy định cụ thể các nội dung liên quan đến đào tạo nghề luật sư, gia nhập Đoàn Luật sư, cấp Thẻ cho luật sư công, lập danh sách luật sư công, bồi dưỡng, quản lý, xử lý vi phạm và giải quyết tố cáo đối với luật sư công.
Chuyển đổi số công tác báo cáo: Tạo lập dữ liệu dùng chung, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật

Chuyển đổi số công tác báo cáo: Tạo lập dữ liệu dùng chung, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật

Trong khuôn khổ Chương trình hợp tác năm 2026 giữa Bộ Tư pháp và Viện Konrad-Adenauer-Stiftung (Viện KAS), ngày 25/9/2026, Bộ Tư pháp phối hợp với Viện KAS tổ chức Hội thảo với chủ đề "Nhu cầu và giải pháp chuyển đổi số trong công tác báo cáo về tổ chức thi hành pháp luật". Tham dự Hội thảo có ông Lewe Paul, Trưởng đại diện Viện KAS tại Việt Nam; đại diện các bộ, ngành ở Trung ương; đại diện một số Sở Tư pháp, Ủy ban nhân dân, sở, ban, ngành trên địa bàn thành phố Hà Nội; đại diện các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp và các chuyên gia, nhà khoa học.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Bộ Tư pháp khẩn trương triển khai thí điểm chế định luật sư công

Bộ Tư pháp khẩn trương triển khai thí điểm chế định luật sư công

Chiều ngày 24/9, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú chủ trì cuộc họp với các đơn vị thuộc Bộ nhằm triển khai Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công và Quyết định số 955/QĐ-TTg ngày 28/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Nghị quyết.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Hoàn thành nhiều nhiệm vụ quan trọng trong tổng rà soát văn bản tại Bộ Tư pháp

Hoàn thành nhiều nhiệm vụ quan trọng trong tổng rà soát văn bản tại Bộ Tư pháp

Từ ngày 01/9/2026 đến hết ngày 15/9/2026, công tác tổng rà soát văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) tại Bộ Tư pháp đã thực hiện, hoàn thành nhiều nhiệm vụ quan trọng. Đây là kết quả của sự nỗ lực, cố gắng của cơ quan Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành, địa phương trong công tác tổng rà soát.
Hoàn thiện cơ chế quản lý thuốc, thiết bị y tế theo hướng chặt chẽ, khả thi

Hoàn thiện cơ chế quản lý thuốc, thiết bị y tế theo hướng chặt chẽ, khả thi

Chiều 21/9, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trẻ em, Luật Người khuyết tật, Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Dược, Luật Người cao tuổi và Luật Bảo hiểm y tế. Tham dự cuộc họp có Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên cùng đại diện các đơn vị có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp. Tại cuộc họp, Hội đồng tập trung trao đổi, góp ý đối với các nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Khám bệnh, chữa bệnh và Luật Dược.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
KPI trong xây dựng pháp luật: Phương thức quản trị dựa trên dữ liệu, rõ trách nhiệm, rõ kết quả

KPI trong xây dựng pháp luật: Phương thức quản trị dựa trên dữ liệu, rõ trách nhiệm, rõ kết quả

Ngày 21/9, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo Công bố, triển khai Bộ Tài liệu hướng dẫn thực hiện đánh giá, chấm điểm (KPI) về công tác xây dựng pháp luật, trong khuôn khổ hợp tác giữa Bộ Tư pháp Việt Nam và Dự án “Tăng cường pháp luật và tư pháp tại Việt Nam giai đoạn II” (EU JULE) do Liên minh châu Âu tài trợ. Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì Hội thảo.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Đổi mới tư duy, đưa cuộc sống vào pháp luật

Đổi mới tư duy, đưa cuộc sống vào pháp luật

Phát biểu kết luận Hội thảo khoa học cấp quốc gia "Những giải pháp tạo đột phá nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật, thúc đẩy việc xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật" tổ chức ngày 21/9/2026, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy, hoàn thiện cơ chế và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật; trong đó, muốn pháp luật nhanh chóng đi vào cuộc sống, phát huy hiệu quả thì trước hết phải đưa cuộc sống vào trong pháp luật.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: