Chủ nhật 15/03/2026 03:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại trong bối cảnh hiện nay

Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích, đánh giá quy định của pháp luật hiện hành về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại, so sánh với các quy định về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Công ước của Liên Hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, từ đó, đưa ra các khuyến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại trong bối cảnh hiện nay.

1. Đặt vấn đề

Quy định về vi phạm hợp đồng và các biện pháp áp dụng khi có vi phạm hợp đồng luôn là một trong những nội dung quan trọng của pháp luật về hợp đồng của các nước trên thế giới. Trong quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu, pháp luật Việt Nam không chỉ cần xây dựng những quy định pháp luật về hợp đồng linh hoạt và chặt chẽ hơn, mà còn phải điều hòa được những khác biệt trong quy định về hợp đồng của các hệ thống luật pháp khác nhau trên thế giới. Hơn nữa, để bắt kịp xu thế chung của pháp luật thế giới, Việt Nam còn tham gia vào một số Công ước quốc tế. Kể từ năm 2017 Việt Nam gia nhập Công ước của Liên Hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) đến nay, việc giải quyết tranh chấp khi có vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng và hợp đồng thương mại nói chung của nước ta đang có những thay đổi nhất định. Tuy nhiên, thực tế việc xử lý vi phạm hợp đồng thương mại hiện nay, cụ thể là biện pháp bồi thường thiệt hại, vẫn còn nhiều bất cập làm ảnh hưởng đến quá trình mở cửa nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Do đó, hoàn thiện các quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại là nhu cầu cần thiết trong giai đoạn hiện nay của nước ta.

2. Quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng

Theo khoản 12 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005, “vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này”. Bên cạnh đó, khoản 13 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 cũng đưa ra khái niệm về vi phạm cơ bản như sau: “Là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng”. Từ hai quy định trên, có thể hiểu rằng: Vi phạm hợp đồng là việc một bên xâm hại đến lợi ích của bên còn lại bằng việc thực hiện, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng. Khá tương tự với cách hiểu của Luật Thương mại năm 2005, Điều 25 CISG năm 1980 đưa ra khái niệm về vi phạm hợp đồng như sau: “Một sự vi phạm hợp đồng do một bên gây ra là vi phạm cơ bản nếu sự vi phạm đó làm cho bên kia bị thiệt hại mà người bị thiệt hại, trong một chừng mực đáng kể bị mất cái mà họ có quyền chờ đợi trên cơ sở hợp đồng”. Như vậy, có thể thấy, cách hiểu về vi phạm cơ bản hợp đồng của Luật Thương mại năm 2005 và CISG năm 1980 khá tương đồng với nhau, đều đặt mục đích hay kết quả của hợp đồng làm căn cứ để xác định hành vi vi phạm.

Vi phạm hợp đồng hay vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng là cơ sở pháp lý quan trọng để áp dụng các chế tài thương mại. Trên thực tế, hai chế tài thường được thỏa thuận nhiều nhất trong trường hợp vi phạm hợp đồng thương mại đó là phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Hai chế tài này được quy định tại các điều 300, 301, 302 Luật Thương mại năm 2005. Theo đó, phạt vi phạm có thể được áp dụng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận điều này và mức phạt “không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm”; còn bồi thường thiệt hại được coi là biện pháp đền bù những tổn thất mà bên bị vi phạm phải chịu, giá trị đền bù bao gồm cả những “tổn thất thực tế” mà bên bị vi phạm phải chịu và “khoản lợi trực tiếp” mà bên bị vi phạm lẽ ra nhận được nếu không có hành vi vi phạm.

Chế tài bồi thường thiệt hại có mối quan hệ với chế tài phạt vi phạm hợp đồng và được quy định tại Điều 307 Luật Thương mại năm 2005 như sau: “1. Trường hợp các bên không có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác; 2. Trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác”. Như vậy, có thể hiểu rằng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng sẽ mặc nhiên phát sinh khi có đủ các căn cứ theo Điều 303 Luật Thương mại năm 2005 mà không cần có thỏa thuận áp dụng kèm theo phạt vi phạm. Hay nói cách khác, bên bị vi phạm trong hợp đồng không cần phải dựa trên một thỏa thuận trước đó để có được quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại. Trong khi đó, để có quyền yêu cầu phạt vi phạm thì phải dựa trên thỏa thuận giữa các bên. Quy định này của Luật Thương mại năm 2005 tương đồng với quy định tại Điều 7.2.4 và Điều 7.4.1 Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về Hợp đồng thương mại quốc tế năm 2004 và tương tự quy định trong luật hợp đồng của hệ thống luật Common Law. Các chế tài thương mại trong hệ thống Common Law chủ yếu là những biện pháp khắc phục hậu quả với tư cách là quyền của bên bị vi phạm khi xảy ra vi phạm hợp đồng. Chế tài được áp dụng phổ biến nhất trong hệ thống Common Law là bồi thường thiệt hại, trong đó, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm bồi thường thiệt hại nếu có vi phạm xảy ra và chứng minh được mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế[1].

Mặt khác, chế tài bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng được quy định tại khoản 4 Điều 418 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau: “Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa chịu phạt vi phạm và vừa bồi thường thiệt hại. Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm”. Như vậy, quy định về bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Thương mại năm 2005 có sự khác nhau. Cụ thể, Bộ luật Dân sự năm 2015 yêu cầu bên bị vi phạm vừa phải có thỏa thuận phạt vi phạm vừa phải có thỏa thuận bồi thường thiệt hại thì mới có thể áp dụng cả hai chế tài. Còn theo quy định tại Điều 307 Luật Thương mại năm 2005 chỉ cần có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có thể áp dụng cả hai chế tài, không cần thêm thỏa thuận bồi thường thiệt hại. Cách tiếp cận này của Bộ luật Dân sự không chỉ mâu thuẫn với luật chuyên ngành như Luật Thương mại mà còn khác biệt với hệ thống luật khác (Common Law) và không phù hợp với xu thế của pháp luật thế giới[2].

CISG năm 1980 quy định về chế tài bồi thường thiệt hại từ Điều 74 đến Điều 77. Trong đó, Điều 74 quy định: “Tiền bồi thường thiệt hại xảy ra do một bên vi phạm hợp đồng là một khoản tiền bao gồm tổn thất và khoản lợi bị bỏ lỡ mà bên kia đã phải chịu do hậu quả của sự vi phạm hợp đồng. Tiền bồi thường thiệt hại này không thể cao hơn tổn thất và số lợi bỏ lỡ mà bên bị vi phạm đã dự liệu hoặc đáng lẽ phải dự liệu được vào lúc ký kết hợp đồng như một hậu quả có thể xảy ra do vi phạm hợp đồng, có tính đến các tình tiết mà họ đã biết hoặc đáng lẽ phải biết”. Như thế, theo CISG, tiền bồi thường thiệt hại không thể cao hơn tổn thất và số lợi bỏ lỡ mà bên mua đã dự liệu hoặc đáng lẽ phải dự liệu được vào lúc giao kết hợp đồng. Quy định này của CISG chú trọng tính có thể “dự đoán trước” được của thiệt hại đối với bên vi phạm. Trong khi đó, tại Điều 302 Luật Thương mại năm 2005 cũng quy định về bồi thường thiệt hại nhưng lại chú trọng vào “tổn thất thực tế” và “khoản lợi trực tiếp” mà bên bị vi phạm lẽ ra nhận được nếu không có hành vi vi phạm. Việc yêu cầu bồi thường cho những thiệt hại dự đoán trước, có căn cứ để chứng minh rõ ràng là một đòi hỏi chính đáng về mặt kinh tế của bên bị vi phạm thay vì những thiệt hại “trực tiếp” và “thực tế” tại thời điểm vi phạm. Nói cách khác, CISG thể hiện sự công bằng hơn trong tính toán các khoản thiệt hại[3].

Có một điểm chung trong quy định về chế tài bồi thường thiệt hại của CISG năm 1980 và Luật Thương mại năm 2005, đó là biện pháp bồi thường thiệt hại mới chỉ dừng lại ở những thiệt hại vật chất. Đối với những thiệt hại phi vật chất như uy tín, cơ hội kinh doanh chưa được quy định cụ thể trong CISG. Mặc dù không quy định cụ thể trường hợp này nhưng CISG có một hệ thống giải thích luật cặn kẽ và các án lệ làm căn cứ để xem xét giải quyết[4]. Đối với pháp luật Việt Nam, Luật Thương mại năm 2005 chưa quy định về bồi thường thiệt hại phi vật chất. Đối chiếu với Bộ luật Dân sự năm 2015 thì yêu cầu bồi thường thiệt hại tinh thần trong quan hệ hợp đồng có thể viện dẫn khoản 3 Điều 361 Bộ luật Dân sự năm 2015 làm căn cứ. Tuy nhiên, ở quy định này, Bộ luật Dân sự cũng không đưa ra cách tính thiệt hại tinh thần phi vật chất, do đó, đây cũng là một khó khăn trong việc áp dụng các tình thuống thực tế.

Như vậy, có thể thấy, các quy định pháp lý về chế tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng theo pháp luật nước ta vẫn còn những điểm mâu thuẫn, cụ thể là các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Thương mại năm 2005. Về cơ bản, cách tiếp cận trong quy định bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng của Luật Thương mại năm 2005 khá tương đồng với CISG năm 1980 cho dù còn một số điểm chưa chi tiết bằng. Do vậy, việc Việt Nam gia nhập CISG là một cách hoàn thiện hệ thống pháp luật về hợp đồng thương mại, đặc biệt là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhằm phù hợp với xu thế chung của pháp luật thế giới.

3. Thực trạng sử dụng biện pháp bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại tại Việt Nam

Trước khi Việt Nam gia nhập CISG, đối với các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, thương nhân Việt Nam khi ký kết với đối tác nước ngoài thường mất khá nhiều thời gian trong khâu đàm phán hợp đồng. Theo thống kê của Bộ Công Thương và Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) năm 2015, có 52% thương nhân khi ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mất nhiều thời gian đàm phán điều khoản luật điều chỉnh hợp đồng. Do có quốc tịch khác nhau nên các thương nhân thường ưu tiên chọn nội luật nước mình để điều chỉnh hợp đồng, nếu không được mới lựa chọn một nước trung gian thứ ba. Để thuyết phục đối tác dùng luật nước mình điều chỉnh hợp đồng tương đối khó khăn, vì vậy, đa số các hợp đồng thương mại nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng được thương nhân Việt Nam ký kết lựa chọn luật của nước thứ ba trung gian. Tuy nhiên, lựa chọn luật nước trung gian nào cũng là vấn đề mà các bên không dễ để đi đến thống nhất.

Kể từ khi Chủ tịch nước ký quyết định gia nhập CISG vào năm 2015 cho đến năm 2017, khi CISG chính thức có hiệu lực ở Việt Nam, các nhà làm luật, thương nhân và các bên liên quan đã dành nhiều sự quan tâm đến CISG. Trong hai năm tiền đề Việt Nam gia nhập CISG cũng như trong bảy năm kể từ thời điểm Việt Nam chính thức là thành viên của CISG, đã xuất hiện các đầu sách nghiên cứu chuyên khảo về CISG; các bài báo, tạp chí chuyên ngành có chủ đề về CISG; các buổi tọa đàm, trao đổi chuyên môn về CISG; nội dung về CISG cũng được bổ sung để giảng dạy trong một số trường đào tạo luật hoặc đào tạo cán bộ. Cho dù vậy, quá trình áp dụng CISG vào thực tiễn ký kết hợp đồng hay trong xét xử chưa có nhiều bước tiến rõ ràng. Theo số liệu khảo sát của Bộ Công Thương, có 35% người được phỏng vấn (làm việc trong lĩnh vực xuất nhập khẩu) thừa nhận rằng, họ không hiểu hoặc không có kiến thức về CISG, 40% cho rằng họ sẽ có thể áp dụng CISG nếu được yêu cầu và chỉ 25% tuyên bố hiểu đầy đủ về Công ước. Thống kê này có nghĩa là các doanh nghiệp có chuyên môn hạn chế về CISG, theo đó, họ sẽ ngần ngại tránh áp dụng CISG và ưu tiên luật pháp Việt Nam trong chừng mực có thể[5].

Về nguyên tắc, sau khi gia nhập các điều ước quốc tế, Việt Nam sẽ tiến hành sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế đó. Tuy nhiên, việc thực thi CISG có sự khác biệt, không đòi hỏi Việt Nam phải sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong nước, mà CISG sẽ được áp dụng trực tiếp, bởi: Theo quy định tại khoản 1 Điều 100 CISG năm 1980 và vì nội dung các điều khoản trong CISG năm 1980 quy định trực tiếp quyền và nghĩa vụ của các thương nhân trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. CISG không quy định nghĩa vụ của Việt Nam với các nước thành viên khác, hay nghĩa vụ của Việt Nam đối với thương nhân, hàng hóa có xuất xứ từ các nước thành viên của CISG. Do đó, CISG được áp dụng trực tiếp với các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của thương nhân Việt Nam thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước này[6]. Vì vậy, nếu không hiểu được hết quyền và nghĩa vụ của chính mình theo CISG là một bất lợi lớn cho các thương nhân Việt Nam khi giao kết loại hợp đồng này.

Trong bảy năm qua tại Việt Nam, không có số liệu cụ thể về tổng số vụ kiện về mua bán hàng hóa quốc tế được xét xử tại Tòa án. Theo thông tin không chính thức tại Tòa án nhân dân ba tỉnh/thành phố chính có nhiều hoạt động thương mại là Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng, cho đến nay chưa có bất kỳ vụ kiện nào mà Tòa án áp dụng CISG. Tại trọng tài, theo thống kê chưa đầy đủ, CISG đã được sử dụng để giải quyết tranh chấp trong 07 vụ kiện: 06 vụ tại Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) và 01 vụ tại Phòng Thương mại quốc tế (ICC), không có vụ việc nào về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng. Đây chỉ là một con số rất nhỏ so với tổng số vụ tranh chấp được giải quyết bởi các cơ quan trọng tài. Việc áp dụng CISG hạn chế như vậy ở Việt Nam xuất phát những lý do sau:

Một là, các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế xảy ra tranh chấp được xác lập trước khi CISG có hiệu lực ở Việt Nam.

Hai là, các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế xảy ra tranh chấp không quy định luật áp dụng và Hội đồng trọng tài đã sử dụng luật Việt Nam là luật áp dụng cho dù cách xác định luật này là không phù hợp với Điều 1.1(b) CISG năm 1980 và với quy định về áp dụng Điều ước quốc tế theo Luật Điều ước quốc tế năm 2016.

Ba là, các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế xảy ra tranh chấp quy định luật áp dụng là luật Việt Nam và Hội đồng trọng tài ngầm loại bỏ CISG ra, chỉ sử dụng nội luật Việt Nam. Cách xác định này cũng đi ngược với quy định về áp dụng Điều ước quốc tế theo Luật Điều ước quốc tế năm 2016 và không phù hợp với thông lệ giải thích CISG của các nước trên thế giới[7].

Như vậy, có thể thấy, sau bảy năm chính thức có hiệu lực, việc thực hiện CISG ở Việt Nam vẫn còn hạn chế cả về phía thương nhân cũng như về phía các cơ quan xét xử.

4. Một số kiến nghị

4.1. Đối với các cơ quan quản lý nhà nước

Thứ nhất, như đã trình bày ở trên, về nguyên tắc, sau khi gia nhập các điều ước quốc tế, Việt Nam sẽ tiến hành sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế đó. Tuy nhiên, việc thực thi CISG có sự khác biệt nên CISG được áp dụng trực tiếp với các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước này. Điều này vừa là ưu điểm và cũng là hạn chế của CISG tại Việt Nam. Do không cần chờ văn bản pháp luật để thực hiện hóa điều ước quốc tế nên sự tiếp cận nội dung CISG đối với đại đa số đối tượng liên quan, nhất là thương nhân bị hạn chế nhiều. Vì vậy, tác giả đề xuất Nhà nước sớm đưa ra một văn bản pháp lý nhằm giải thích rõ việc áp dụng các nội dung cơ bản của CISG để nâng cao sự tiếp cận của các đối tượng liên quan đối với Công ước quan trọng này.

Thứ hai, để CISG có hiệu quả ở Việt Nam, cần nỗ lực tuyên truyền, phổ biến về CISG ở Việt Nam. Dù phổ biến trong thương mại quốc tế và nhiều nguyên tắc quan trọng đã được đưa vào pháp luật Việt Nam nhưng nội dung của CISG nhìn chung còn khá mới mẻ đối với hệ thống pháp luật, tư pháp và trọng tài Việt Nam. Vì vậy, các doanh nghiệp, Tòa án, trọng tài ở Việt Nam cần có nhiều thời gian hơn để nghiên cứu, hiểu rõ khi áp dụng CISG trong các quan hệ giao dịch thương mại quốc tế. Hiện nay, tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về nội dung CISG cũng như thực tiễn áp dụng CISG trên thế giới và các án lệ nổi tiếng của CISG để áp dụng tại Việt Nam. Điều này khiến việc diễn giải, áp dụng CISG trong thực tế tại Việt Nam gặp khó khăn. Trong khi đó, hệ thống giáo dục pháp luật của Việt Nam nói chung cũng chưa có nội dung nào giới thiệu, đào tạo chuyên sâu về CISG. Các doanh nghiệp, nhà thực hành luật Việt Nam cũng chưa có diễn đàn nào riêng để học hỏi, trao đổi kinh nghiệm về CISG như tại nhiều nước khác trên thế giới. Điều này cũng sẽ làm giảm sức mạnh, tiếng nói của các doanh nghiệp Việt Nam và khả năng xét xử của Tòa án, trọng tài tại Việt Nam khi có tranh chấp liên quan đến CISG. Vì vậy, để CISG thực sự có hiệu quả khi Việt Nam gia nhập Công ước này, những nỗ lực tuyên truyền và nghiên cứu về nội dung CISG cần được thực hiện thường xuyên, liên tục[8].

Thứ ba, pháp luật Việt Nam cần có sự thống nhất trong quy định về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Thương mại năm 2005. Như đã trình bày ở trên, Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Thương mại năm 2005 có sự mâu thuẫn trong quy định về bồi thường thiệt hại và vi phạm hợp đồng. Cụ thể, Bộ luật Dân sự yêu cầu bên bị vi phạm vừa phải có thỏa thuận phạt vi phạm vừa phải có thỏa thuận bồi thường thiệt hại thì mới có thể áp dụng cả hai chế tài. Còn theo Luật Thương mại thì chỉ cần có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có thể áp dụng cả hai chế tài, không cần thêm thỏa thuận bồi thường thiệt hại. Vì vậy, cần thống nhất về cách quy định bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Thương mại năm 2005.

4.2. Đối với doanh nghiệp

Thứ nhất, Theo Điều 1.1 của CISG, CISG sẽ được áp dụng đối với các nước là thành viên của CISG hoặc “theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật áp dụng là luật của nước thành viên CISG”. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng CISG vào hợp đồng, thương nhân Việt Nam cần lưu ý rằng: Ngay cả khi các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thuộc trường hợp áp dụng CISG thì họ vẫn có quyền thỏa thuận loại trừ hiệu lực của Công ước này theo quy định tại Điều 6 CISG. Lưu ý này rất quan trọng trong việc lựa chọn luật áp dụng khi đàm phán ký kết hợp đồng thương mại quốc tế, đồng thời cũng thể hiện nguyên tắc cơ bản trong lĩnh vực hợp đồng thương mại quốc tế: Nguyên tắc tự do hợp đồng[9].

Thứ hai, khi Việt Nam gia nhập CISG có bảo lưu các điều khoản về hình thức của hợp đồng tại Điều 11, Điều 29 CISG. Theo đó, để hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có hiệu lực theo pháp luật Việt Nam thì hợp đồng đó phải có hình thức bằng văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị tương đương (Điều 27 Luật Thương mại năm 2005). Quy định này hạn chế hơn nhiều so với quy định linh hoạt không ấn định về hình thức hợp đồng của CISG (Điều 11 CISG): “Hợp đồng mua bán không cần phải được ký kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay phải tuân thủ một yêu cầu nào khác về hìnhthức c ủa hợp đồng”. Đây cũng là một lưu ý quan trọng trong việc ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà các thương nhân Việt Nam cần lưu ý trong quá trình đàm phán./.

ThS. Lê Kiều Trang

Khoa Luật, Học viện Phụ nữ Việt Nam

[1]. Nguyễn Hiền Phương (2022), Pháp luật về hợp đồng dưới góc nhìn luật so sánh, Nxb. Công an nhân dân, tr. 297 - 301.

[2]. Nguyễn Hiền Phương (2022), Pháp luật về hợp đồng dưới góc nhìn luật so sánh, Nxb. Công an nhân dân, tr. 297 - 301.

[3]. Nguyễn Bá Bình (2021), Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo CISG: Quy định và án lệ, tr. 188 - 189.

[4]. Phan Thị Thanh Thủy (2014), “So sánh các quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong Luật Thương mại Việt Nam 2005 và Công ước Viên 1980”. Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Luật học Tập 30, số 3, tr. 50 -60.

[5]. Nguyễn Minh Hằng, Nguyễn Trung Nam, ‘Why should Vietnam Accede to the CISG - A Comparative and Quantitative Study on the Costs and Benefits of Vietnam for joining the CISG’ in The Annual MAA Peter Schlechtriem CISG Conference 2014: Boundaries and Intersections (2014).

[6]. Tào Thị Huệ, Nguyễn Quang Anh (2020), “Thực tiễn áp dụng điều 6 Công ước viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và khuyến nghị cho doanh nghiệp Việt Nam”. Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 11/2020, tr. 76 - 84.

[7]. Nguyễn Trung Nam (2021), “Góc nhìn thực tế về áp dụng CISG tại Việt Nam trong 4 năm qua - Sự ngại thay đổi hay gánh nặng nhớ nhà?”, https://eplegal.com/ vi/2021/06/07/goc-nhin-thuc-te-ve-ap-dung-cisg-tai-viet-nam-trong-4-nam-qua-sungai-thay-doi-hay-ganh-nang-nho-nha-2/.

[8]. Trung tâm WTO và hội nhập - Liên đoàn thương mại và công nghiệp Việt Nam (2010), https://trungtamwto.vn/chuyen-de/1154-nhung-diem-bat-cap-cua-cong-uocvien-1980-ma-viet-nam-can-luu-y.

[9]. Tào Thị Huệ, Nguyễn Quang Anh (2020), “Thực tiễn áp dụng điều 6 Công ước viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và khuyến nghị cho doanh nghiệp Việt Nam”. Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 11/2020, tr. 76-84.

(Nguồn: Ấn phẩm “Các vấn đề pháp lý mới trong bối cảnh chuyển đổi số” của Tạp chí Dân chủ và Pháp luật)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: