Thứ ba 28/07/2026 01:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các thiết chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam hiện nay và vai trò của thiết chế truyền thông báo chí

Một xã hội để tồn tại và phát triển phải được hình thành dựa trên những khuôn mẫu, khuôn phép chung, để từ đó mỗi thành viên trong xã hội có thể dựa vào đó mà có những hành động, xử sự phù hợp. Trên thực tiễn, để một xã hội tồn tại và phát triển ổn định phải có các thiết chế điều chỉnh. Nếu một xã hội không có các thiết chế, tức là một xã hội không có kỷ cương, quy tắc hành động, không có hệ thống chuẩn mực, giá trị và sự duy trì, kiểm soát việc thực hiện các kỷ cương, quy tắc đó thì khó giữ được sự tồn tại và phát triển ổn định. Thiết chế ở đây được hiểu là hệ thống những quy chế, những chuẩn mực, quy tắc xử sự được mọi người trong xã hội cho là đúng, là cơ sở để định hướng hành vi của con người trong xã hội.

1. Các thiết chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam hiện nay

Ở nước ta, Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật". Để bảo vệ những quyền này của con người, của công dân thì tương ứng với nó các thiết chế được hình thành, bao gồm thiết chế chính trị, thiết chế dân sự, thiết chế kinh tế, thiết chế văn hóa, thiết chế xã hội, thiết chế pháp lý... Mỗi thiết chế có vị trí, vai trò khác nhau nhưng nhìn chung đều hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền con người, quyền công dân, xây dựng một xã hội an toàn, bình đẳng cho con người.

Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp luật thể hiện ý chí của toàn thể nhân dân, mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội đều phải tuân thủ pháp luật, không có ngoại lệ. Pháp luật là cơ sở, là thước đo để điều chỉnh hành vi của con người. Trong quá trình xây dựng pháp luật, các cơ quan chức năng có thẩm quyền nghiên cứu, dựa trên quy tắc, nguyên tắc, luật tục… trong cộng đồng dân cư và đạo đức xã hội… để xây dựng nên những văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với cuộc sống, phù hợp với đạo đức xã hội, điều kiện của đất nước trong từng giai đoạn, từng thời kỳ khác nhau. Hiện nay, chúng ta đã xây dựng được một hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh, là tiêu chuẩn để điều chỉnh các mối quan hệ, các hành vi của con người trong xã hội trên tất cả các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội. Hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện, phù hợp với điều kiện trong nước và quá trình hội nhập quốc tế mà Việt Nam tham gia. Tuy nhiên, để những giá trị của pháp luật đi vào cuộc sống, cần phải có cơ chế, con người, cơ sở vật chất... để bảo đảm thực thi.

Như vậy, có thể hiểu một cách đầy đủ, thiết chế là hệ thống những quy chế, những chuẩn mực, quy tắc xử sự được mọi người trong xã hội cho là đúng (được lựa chọn, tổng hợp, nghiên cứu xây dựng thành hệ thống pháp luật), là cơ sở để định hướng hành vi của con người trong xã hội và hệ thống cơ sở vật chất, nguồn lực, con người để bảo đảm thực thi... Nói một cách khác, quyền con người, quyền công dân được Nhà nước Việt Nam bảo vệ thông qua nhiều thiết chế khác nhau như thiết chế pháp lý, với thiết chế văn hóa, thiết chế xã hội, thiết chế kinh tế, thiết chế dân sự, thiết chế truyền thông báo chí … Mỗi thiết chế đều giữ một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân ở nước ta.

2. Vai trò của thiết chế truyền thông báo chí trong việc bảo vệ quyền con người và quyền công dân

Thiết chế truyền thông báo chí có vị trí, vai trò khá đặc biệt trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Thiết chế truyền thông báo chí có thể được hiểu là toàn bộ những chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, hệ thống cơ cở vật chất, con người… về truyền thông báo chí để báo chí hoạt động đúng định hướng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, của công dân.

Hiện nay, báo chí giữ một vị trí rất quan trọng trong xã hội, trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân ở nước ta. Quyền được tiếp cận thông tin thuộc nhóm quyền dân sự, chính trị, là quyền cơ bản của con người, được pháp luật các quốc gia và cộng đồng quốc tế công nhận. Báo chí là một trong những phương tiện đắc lực bảo đảm quyền được tiếp cận thông tin của cá nhân, công dân được thực hiện trên thực tiễn.

Theo Điều 1 Luật Báo chí thì báo chí ở nước ta là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội; là diễn đàn của nhân dân. Báo chí có nhiệm vụ thông tin trung thực về mọi mặt của tình hình đất nước và thế giới; tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thành tựu văn hóa, khoa học, kỹ thuật trong nước và thế giới theo tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí; góp phần nâng cao kiến thức, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của nhân dân, bảo vệ truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đoàn kết toàn dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Ngoài ra, báo chí còn có nhiệm vụ phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân. Phát hiện, biểu dương gương tốt, nhân tố mới; đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực xã hội khác và mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước và các dân tộc, tham gia vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Vì vậy, thiết chế truyền thông báo chí có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân ở nước ta, cụ thể:

2.1. Tạo hành lang pháp lý vững chắc cho cơ quan báo chí, người làm báo thực hiện chức năng, nhiệm vụ

Hiện nay, ở nước ta nhiều loại hình báo chí cùng tồn tại phong phú, đa dạng. Người dân được cập nhật thông tin một cách thường xuyên, liên tục, nhanh chóng thông qua nhiều hình thức khác nhau. Trên thực tế, cùng một sự vật, hiện tượng, nhưng cách phản ánh, cách đưa tin có thể sẽ làm cho người đọc, người nghe có những nhiều cách hiểu và cách nhìn nhận khác nhau. Do đó, để tạo nên sự đồng thuận, thiết chế truyền thông báo chí sẽ quản lý, định hướng để các cơ quan báo chí đưa thông tin một cách chính xác, rõ ràng, tránh tình trạng đưa thông tin không rõ ràng, gây ra nhiều cách hiểu khác nhau, dẫn tới tình trạng hoang mang trong dư luận xã hội. Nhờ có thiết chế truyền thông báo chí, báo chí đã góp phần rất lớn tạo sự đồng thuận xã hội, phản ánh kịp thời những những khó khăn, bất cập, vướng mắc trong thực tiễn cuộc sống để Đảng, Nhà nước kịp thời ban hành, điều chỉnh chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Nhà nước bảo hộ mạnh mẽ cho các cơ quan báo chí, nhà báo tác nghiệp bằng các quy định về việc cung cấp thông tin cho báo chí, quyền và nghĩa vụ giữ bí mật nguồn tin của cơ quan báo chí, nhà báo. Bên cạnh đó, Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ; không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động... Điều 15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí quy định, báo chí được pháp luật bảo hộ trong hoạt động nghề nghiệp. Không ai được đe dọa, uy hiếp tính mạng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhà báo, phá hủy, thu giữ phương tiện, tài liệu, cản trở nhà báo hoạt động nghề nghiệp đúng pháp luật.

Nhờ có các chủ trương, chính sách, pháp luật và các quy định đúng đắn đó đã tạo một hành lang pháp lý vững chắc, để cơ quan báo chí, nhà báo có những quyền đặc biệt trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Nếu như không có thiết chế truyền thông báo chí, các cơ quan báo chí, người làm báo không được trao những quyền đặc biệt như quyền được tiếp cận nguồn tin, được pháp luật bảo vệ khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ… thì không có những thông tin nhanh, chính xác để cung cấp cho nhân dân.

2.2. Là cơ sở để truyền thông báo chí hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích đề ra

Báo chí Việt Nam hiện nay phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, loại hình và chất lượng thông tin, trở thành phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu trong đời sống xã hội; tích cực phát hiện, đấu tranh với các hành vi tham nhũng, tiêu cực và các tệ nạn xã hội; truyền tải ý kiến của nhân dân đóng góp xây dựng chính sách, pháp luật, qua đó phát huy quyền làm chủ của người dân; đấu tranh giữ vững chủ quyền, lãnh thổ quốc gia; phản bác các luận điệu sai trái, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động báo chí thời gian qua bộc lộ những vấn đề đáng lo ngại như: Cơ quan báo chí không thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích; thông tin sai sự thật có chiều hướng ngày càng tăng; xu hướng “thương mại hoá” chậm được khắc phục; thông tin vi phạm thuần phong mỹ tục vẫn diễn ra. Nhiều thông tin trên báo chí thiếu chọn lọc, nặng về phản ánh mặt trái, tiêu cực của xã hội; nhiều nội dung tin, bài giật gân, câu khách; tính trung thực của báo chí bị giảm sút[1]. Do vậy, cho thấy vai trò của thiết chế truyền thông báo chí là vô cùng quan trọng. Nếu như thiết chế truyền thông báo chí phù hợp, sẽ tạo điều kiện cho cơ quan báo chí thực hiện nhiệm vụ. Trên thực tế, nhiều vụ án tham ô, tham nhũng được đưa ra ánh sáng nhờ có có sự tham gia của cơ quan báo chí vào cuộc, đấu tranh với những tệ nạn, những mặt trái của xã hội, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Ngược lại, nếu không có thiết chế truyền thông báo chí, báo chí hoạt động một cách tự do cũng sẽ đem lại những ảnh hưởng không tốt cho xã hội. Hiện nay, pháp luật về báo chí tạo hành lang pháp lý cho báo chí phát triển đúng định hướng. Trên thực tế, cùng một thông tin, cùng một sự việc xảy ra trên thực tiễn, nếu như nhà báo, cơ quan báo chí thực hiện đúng các quy định của pháp luật, đạo đức nghề nghiệp của nhà báo sẽ nhìn nhận vấn đề một cách thấu đáo, đưa ra bài học, kinh nghiệm cho bạn đọc. Cũng cùng một vấn đề, nếu như cơ quan báo chí, người làm báo không tuân thủ nghiêm túc đạo đức nghề nghiệp báo chí, mô tả quá kỹ những hành vi sai trái, không đưa ra những bài học, kinh nghiệm để định hướng dư luận, cộng đồng khi đó vô hình chung báo chí đã miêu tả cụ thể hành động sai trái (như hành vi giết người, cướp của...) có thể dẫn tới tình trạng bạn đọc học theo... hoặc tạo ra sự hoang mang trong dư luận xã hội.

Thiết chế truyền thông báo chí có vai trò đặc biệt trong đời sống xã hội, là ranh giới để báo chí hoạt động đúng tư tưởng, định hướng, tôn chỉ mục đích đề ra vì sự phát triển tốt đẹp của xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, của công dân. Khi đó, báo chí giúp cho công chúng hình thành những khát vọng, quan điểm và lý tưởng, nhận thức sâu sắc, đúng đắn những vấn đề cấp bách của đất nước và tình hình quốc tế. Đồng thời, báo chí phổ biến những kinh nghiệm tốt trong sự nghiệp đổi mới đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Với khả năng tác động một cách rộng lớn, nhanh chóng và mạnh mẽ vào xã hội, hoạt động báo chí góp phần ổn định chính trị, nâng cao dân trí, đáp ứng yêu cần văn hóa lành mạnh của nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong khi phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội, làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân, báo chí tạo điều kiện để toàn dân tham gia thảo luận và giải quyết những vấn đề quan trọng của đất nước, phê phán và đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực cản trở sự phát triển của xã hội, góp phần nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Hiện nay, trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, các trang mạng xã hội phát triển mạnh mẽ, do đó thông tin được truyền tải một cách nhanh chóng nhưng để tìm hiểu thông tin một cách nhanh chóng, chính xác người dân vẫn tin tưởng và tìm đọc nguồn tin từ báo chí, các phương tiện thông tin chính thống. Bởi lẽ, báo chí, cơ quan truyền thông chính thống chịu sự quy định chặt chẽ của pháp luật, phải đưa thông tin một cách trung thực, chính xác nhất. Báo chí đưa thông tin sai sự thật phải chịu những chế tài theo quy định của pháp luật. Các trang mạng xã hội mới phát triển trong giai đoạn hiện nay, không chịu sự quản lý, ràng buộc chặt chẽ như cơ quan báo chí, việc đưa tin không được kiểm soát chặt chẽ, chủ yếu dựa vào đạo đức của người đưa tin, do đó không có độ tin cậy. Như vậy, có thể nói truyền thông báo chí đã giúp cho việc đưa tin của báo chí chuẩn xác, tin cậy, vì sự phát triển của cộng đồng, vì mục tiêu bảo vệ quyền con người, quyền công dân, khác việc đưa tin của các trang mạng xã hội, giúp thỏa trí tò mò của người dân hay vì mục đích riêng nào khác… mà không có sự kiểm soát thông tin một cách chặt chẽ.

Báo chí ở Việt Nam hiện nay đang là lĩnh vực phát triển mạnh mẽ với các loại hình báo chí đa dạng, phong phú. Trong nền kinh tế thị trường, báo chí đứng trước nhiều thách thức, vừa phải thực hiện nhiệm vụ chính trị, đồng thời phải cạnh tranh, tạo nguồn thu để tồn tại và phát triển. Do đó, thiết chế truyền thông báo chí càng quan trọng, đảm bảo báo chí thực hiện tốt nhiệm vụ của mình không đi sai định hướng, tôn chỉ mục đích trong nền kinh tế thị trường.

2.3. Là cơ sở thực hiện quyền được tiếp cận thông tin của con người, của nhân dân

Quyền được thông tin là một trong những quyền cơ bản của con người, được pháp luật bảo vệ. Báo chí, truyền thông có vai trò quan trọng và không thể thiếu trong việc đáp ứng quyền cơ bản đó của con người, của công dân. Báo chí, truyền thông đại chúng ra đời, phát triển là nhằm đáp ứng nhu cầu trao đổi thông tin của công chúng và sự gia tăng nhu cầu thông tin trong xã hội, là phương tiện hữu hiệu trong việc cung cấp, trang bị thông tin, kiến thức trên tất cả các lĩnh vực, góp phần nâng cao nhận thức cho công chúng. Đây cũng là lý do tạo nên sự tin tưởng của công chúng đối với chất lượng và nội dung thông tin được báo chí đưa ra. Chính từ sự tin tưởng đó, công chúng mới đi theo định hướng của báo chí, có phản hồi và tích cực hợp tác, thậm chí trở thành nguồn tin của báo chí. Từ thực tiễn đó có thể nói, truyền thông báo chí góp phần không nhỏ trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận thông tin của con người, của nhân dân một cách chính xác, trung thực.

Nhìn chung, thiết chế truyền thông báo chí có vai trò đặc biệt trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân ở nước ta. Thiết chế truyền thông báo chí bảo vệ quyền con người và quyền công dân một cách trực tiếp và gián tiếp. Thiết chế truyền thông báo chí trực tiếp thực hiện quyền con người, quyền công dân như quyền được tiếp cận thông tin, quyền được tự do ngôn luận... và gián tiếp bảo vệ quyền con người, quyền công dân trên tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội như dân sự, kinh tế, văn hóa... Báo chí phản ánh tất cả những mặt trong đời sống xã hội, có sức mạnh to lớn trong việc định hướng nhận thức, hình thành dư luận xã hội. Nếu như mọi thông tin được truyền tải trên báo chí đúng sự thật, xuất phát từ cái tâm trong sáng của người làm báo, vì lợi ích của quốc gia dân tộc, vì quyền lợi chính đáng của nhân dân... khi đó báo chí có tác dụng tích cực, thúc đẩy các thiết chế khác trong xã hội phát triển. Trong trường hợp ngược lại, vì một lý do, một động cơ nào đó tin tức đăng tải không vì quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, vì lợi ích của dân tộc... khi đó báo chí đã kìm hãm sự phát triển của các thiết chế khác trong xã hội. Như vậy, có thể nói, thiết chế truyền thông báo chí gắn bó chặt chẽ với các thiết chế khác trong xã hội, nếu thiết chế truyền thông báo chí được thực hiện tốt sẽ góp phần thúc đẩy các thiết chế khác phát triển. Ngược lại, khi thiết chế truyền thông báo chí bị xâm phạm sẽ có những ảnh hưởng đến những thiết chế khác, ảnh hưởng đến lợi ích của quốc gia, dân tộc, ảnh hưởng đến quyền con người, quyền công dân trong xã hội.

Nhóm nghiên cứu đề tài
(Bài viết là sản phẩm nghiên cứu của Đề tài khoa học cấp Bộ về “Tăng cường vai trò của thiết chế truyền thông trong bảo vệ quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam”)


[1] Tờ trình của Chính phủ về dự án Luật Báo chí ngày 29/9/2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: