Thứ bảy 24/10/2026 08:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các thiết chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam hiện nay và vai trò của thiết chế truyền thông báo chí

Một xã hội để tồn tại và phát triển phải được hình thành dựa trên những khuôn mẫu, khuôn phép chung, để từ đó mỗi thành viên trong xã hội có thể dựa vào đó mà có những hành động, xử sự phù hợp. Trên thực tiễn, để một xã hội tồn tại và phát triển ổn định phải có các thiết chế điều chỉnh. Nếu một xã hội không có các thiết chế, tức là một xã hội không có kỷ cương, quy tắc hành động, không có hệ thống chuẩn mực, giá trị và sự duy trì, kiểm soát việc thực hiện các kỷ cương, quy tắc đó thì khó giữ được sự tồn tại và phát triển ổn định. Thiết chế ở đây được hiểu là hệ thống những quy chế, những chuẩn mực, quy tắc xử sự được mọi người trong xã hội cho là đúng, là cơ sở để định hướng hành vi của con người trong xã hội.

1. Các thiết chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam hiện nay

Ở nước ta, Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật". Để bảo vệ những quyền này của con người, của công dân thì tương ứng với nó các thiết chế được hình thành, bao gồm thiết chế chính trị, thiết chế dân sự, thiết chế kinh tế, thiết chế văn hóa, thiết chế xã hội, thiết chế pháp lý... Mỗi thiết chế có vị trí, vai trò khác nhau nhưng nhìn chung đều hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền con người, quyền công dân, xây dựng một xã hội an toàn, bình đẳng cho con người.

Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp luật thể hiện ý chí của toàn thể nhân dân, mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội đều phải tuân thủ pháp luật, không có ngoại lệ. Pháp luật là cơ sở, là thước đo để điều chỉnh hành vi của con người. Trong quá trình xây dựng pháp luật, các cơ quan chức năng có thẩm quyền nghiên cứu, dựa trên quy tắc, nguyên tắc, luật tục… trong cộng đồng dân cư và đạo đức xã hội… để xây dựng nên những văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với cuộc sống, phù hợp với đạo đức xã hội, điều kiện của đất nước trong từng giai đoạn, từng thời kỳ khác nhau. Hiện nay, chúng ta đã xây dựng được một hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh, là tiêu chuẩn để điều chỉnh các mối quan hệ, các hành vi của con người trong xã hội trên tất cả các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội. Hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện, phù hợp với điều kiện trong nước và quá trình hội nhập quốc tế mà Việt Nam tham gia. Tuy nhiên, để những giá trị của pháp luật đi vào cuộc sống, cần phải có cơ chế, con người, cơ sở vật chất... để bảo đảm thực thi.

Như vậy, có thể hiểu một cách đầy đủ, thiết chế là hệ thống những quy chế, những chuẩn mực, quy tắc xử sự được mọi người trong xã hội cho là đúng (được lựa chọn, tổng hợp, nghiên cứu xây dựng thành hệ thống pháp luật), là cơ sở để định hướng hành vi của con người trong xã hội và hệ thống cơ sở vật chất, nguồn lực, con người để bảo đảm thực thi... Nói một cách khác, quyền con người, quyền công dân được Nhà nước Việt Nam bảo vệ thông qua nhiều thiết chế khác nhau như thiết chế pháp lý, với thiết chế văn hóa, thiết chế xã hội, thiết chế kinh tế, thiết chế dân sự, thiết chế truyền thông báo chí … Mỗi thiết chế đều giữ một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân ở nước ta.

2. Vai trò của thiết chế truyền thông báo chí trong việc bảo vệ quyền con người và quyền công dân

Thiết chế truyền thông báo chí có vị trí, vai trò khá đặc biệt trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Thiết chế truyền thông báo chí có thể được hiểu là toàn bộ những chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, hệ thống cơ cở vật chất, con người… về truyền thông báo chí để báo chí hoạt động đúng định hướng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, của công dân.

Hiện nay, báo chí giữ một vị trí rất quan trọng trong xã hội, trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân ở nước ta. Quyền được tiếp cận thông tin thuộc nhóm quyền dân sự, chính trị, là quyền cơ bản của con người, được pháp luật các quốc gia và cộng đồng quốc tế công nhận. Báo chí là một trong những phương tiện đắc lực bảo đảm quyền được tiếp cận thông tin của cá nhân, công dân được thực hiện trên thực tiễn.

Theo Điều 1 Luật Báo chí thì báo chí ở nước ta là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội; là diễn đàn của nhân dân. Báo chí có nhiệm vụ thông tin trung thực về mọi mặt của tình hình đất nước và thế giới; tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thành tựu văn hóa, khoa học, kỹ thuật trong nước và thế giới theo tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí; góp phần nâng cao kiến thức, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của nhân dân, bảo vệ truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đoàn kết toàn dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Ngoài ra, báo chí còn có nhiệm vụ phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân. Phát hiện, biểu dương gương tốt, nhân tố mới; đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực xã hội khác và mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước và các dân tộc, tham gia vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Vì vậy, thiết chế truyền thông báo chí có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân ở nước ta, cụ thể:

2.1. Tạo hành lang pháp lý vững chắc cho cơ quan báo chí, người làm báo thực hiện chức năng, nhiệm vụ

Hiện nay, ở nước ta nhiều loại hình báo chí cùng tồn tại phong phú, đa dạng. Người dân được cập nhật thông tin một cách thường xuyên, liên tục, nhanh chóng thông qua nhiều hình thức khác nhau. Trên thực tế, cùng một sự vật, hiện tượng, nhưng cách phản ánh, cách đưa tin có thể sẽ làm cho người đọc, người nghe có những nhiều cách hiểu và cách nhìn nhận khác nhau. Do đó, để tạo nên sự đồng thuận, thiết chế truyền thông báo chí sẽ quản lý, định hướng để các cơ quan báo chí đưa thông tin một cách chính xác, rõ ràng, tránh tình trạng đưa thông tin không rõ ràng, gây ra nhiều cách hiểu khác nhau, dẫn tới tình trạng hoang mang trong dư luận xã hội. Nhờ có thiết chế truyền thông báo chí, báo chí đã góp phần rất lớn tạo sự đồng thuận xã hội, phản ánh kịp thời những những khó khăn, bất cập, vướng mắc trong thực tiễn cuộc sống để Đảng, Nhà nước kịp thời ban hành, điều chỉnh chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Nhà nước bảo hộ mạnh mẽ cho các cơ quan báo chí, nhà báo tác nghiệp bằng các quy định về việc cung cấp thông tin cho báo chí, quyền và nghĩa vụ giữ bí mật nguồn tin của cơ quan báo chí, nhà báo. Bên cạnh đó, Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ; không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động... Điều 15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí quy định, báo chí được pháp luật bảo hộ trong hoạt động nghề nghiệp. Không ai được đe dọa, uy hiếp tính mạng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhà báo, phá hủy, thu giữ phương tiện, tài liệu, cản trở nhà báo hoạt động nghề nghiệp đúng pháp luật.

Nhờ có các chủ trương, chính sách, pháp luật và các quy định đúng đắn đó đã tạo một hành lang pháp lý vững chắc, để cơ quan báo chí, nhà báo có những quyền đặc biệt trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Nếu như không có thiết chế truyền thông báo chí, các cơ quan báo chí, người làm báo không được trao những quyền đặc biệt như quyền được tiếp cận nguồn tin, được pháp luật bảo vệ khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ… thì không có những thông tin nhanh, chính xác để cung cấp cho nhân dân.

2.2. Là cơ sở để truyền thông báo chí hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích đề ra

Báo chí Việt Nam hiện nay phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, loại hình và chất lượng thông tin, trở thành phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu trong đời sống xã hội; tích cực phát hiện, đấu tranh với các hành vi tham nhũng, tiêu cực và các tệ nạn xã hội; truyền tải ý kiến của nhân dân đóng góp xây dựng chính sách, pháp luật, qua đó phát huy quyền làm chủ của người dân; đấu tranh giữ vững chủ quyền, lãnh thổ quốc gia; phản bác các luận điệu sai trái, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động báo chí thời gian qua bộc lộ những vấn đề đáng lo ngại như: Cơ quan báo chí không thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích; thông tin sai sự thật có chiều hướng ngày càng tăng; xu hướng “thương mại hoá” chậm được khắc phục; thông tin vi phạm thuần phong mỹ tục vẫn diễn ra. Nhiều thông tin trên báo chí thiếu chọn lọc, nặng về phản ánh mặt trái, tiêu cực của xã hội; nhiều nội dung tin, bài giật gân, câu khách; tính trung thực của báo chí bị giảm sút[1]. Do vậy, cho thấy vai trò của thiết chế truyền thông báo chí là vô cùng quan trọng. Nếu như thiết chế truyền thông báo chí phù hợp, sẽ tạo điều kiện cho cơ quan báo chí thực hiện nhiệm vụ. Trên thực tế, nhiều vụ án tham ô, tham nhũng được đưa ra ánh sáng nhờ có có sự tham gia của cơ quan báo chí vào cuộc, đấu tranh với những tệ nạn, những mặt trái của xã hội, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Ngược lại, nếu không có thiết chế truyền thông báo chí, báo chí hoạt động một cách tự do cũng sẽ đem lại những ảnh hưởng không tốt cho xã hội. Hiện nay, pháp luật về báo chí tạo hành lang pháp lý cho báo chí phát triển đúng định hướng. Trên thực tế, cùng một thông tin, cùng một sự việc xảy ra trên thực tiễn, nếu như nhà báo, cơ quan báo chí thực hiện đúng các quy định của pháp luật, đạo đức nghề nghiệp của nhà báo sẽ nhìn nhận vấn đề một cách thấu đáo, đưa ra bài học, kinh nghiệm cho bạn đọc. Cũng cùng một vấn đề, nếu như cơ quan báo chí, người làm báo không tuân thủ nghiêm túc đạo đức nghề nghiệp báo chí, mô tả quá kỹ những hành vi sai trái, không đưa ra những bài học, kinh nghiệm để định hướng dư luận, cộng đồng khi đó vô hình chung báo chí đã miêu tả cụ thể hành động sai trái (như hành vi giết người, cướp của...) có thể dẫn tới tình trạng bạn đọc học theo... hoặc tạo ra sự hoang mang trong dư luận xã hội.

Thiết chế truyền thông báo chí có vai trò đặc biệt trong đời sống xã hội, là ranh giới để báo chí hoạt động đúng tư tưởng, định hướng, tôn chỉ mục đích đề ra vì sự phát triển tốt đẹp của xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, của công dân. Khi đó, báo chí giúp cho công chúng hình thành những khát vọng, quan điểm và lý tưởng, nhận thức sâu sắc, đúng đắn những vấn đề cấp bách của đất nước và tình hình quốc tế. Đồng thời, báo chí phổ biến những kinh nghiệm tốt trong sự nghiệp đổi mới đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Với khả năng tác động một cách rộng lớn, nhanh chóng và mạnh mẽ vào xã hội, hoạt động báo chí góp phần ổn định chính trị, nâng cao dân trí, đáp ứng yêu cần văn hóa lành mạnh của nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong khi phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội, làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân, báo chí tạo điều kiện để toàn dân tham gia thảo luận và giải quyết những vấn đề quan trọng của đất nước, phê phán và đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực cản trở sự phát triển của xã hội, góp phần nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Hiện nay, trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, các trang mạng xã hội phát triển mạnh mẽ, do đó thông tin được truyền tải một cách nhanh chóng nhưng để tìm hiểu thông tin một cách nhanh chóng, chính xác người dân vẫn tin tưởng và tìm đọc nguồn tin từ báo chí, các phương tiện thông tin chính thống. Bởi lẽ, báo chí, cơ quan truyền thông chính thống chịu sự quy định chặt chẽ của pháp luật, phải đưa thông tin một cách trung thực, chính xác nhất. Báo chí đưa thông tin sai sự thật phải chịu những chế tài theo quy định của pháp luật. Các trang mạng xã hội mới phát triển trong giai đoạn hiện nay, không chịu sự quản lý, ràng buộc chặt chẽ như cơ quan báo chí, việc đưa tin không được kiểm soát chặt chẽ, chủ yếu dựa vào đạo đức của người đưa tin, do đó không có độ tin cậy. Như vậy, có thể nói truyền thông báo chí đã giúp cho việc đưa tin của báo chí chuẩn xác, tin cậy, vì sự phát triển của cộng đồng, vì mục tiêu bảo vệ quyền con người, quyền công dân, khác việc đưa tin của các trang mạng xã hội, giúp thỏa trí tò mò của người dân hay vì mục đích riêng nào khác… mà không có sự kiểm soát thông tin một cách chặt chẽ.

Báo chí ở Việt Nam hiện nay đang là lĩnh vực phát triển mạnh mẽ với các loại hình báo chí đa dạng, phong phú. Trong nền kinh tế thị trường, báo chí đứng trước nhiều thách thức, vừa phải thực hiện nhiệm vụ chính trị, đồng thời phải cạnh tranh, tạo nguồn thu để tồn tại và phát triển. Do đó, thiết chế truyền thông báo chí càng quan trọng, đảm bảo báo chí thực hiện tốt nhiệm vụ của mình không đi sai định hướng, tôn chỉ mục đích trong nền kinh tế thị trường.

2.3. Là cơ sở thực hiện quyền được tiếp cận thông tin của con người, của nhân dân

Quyền được thông tin là một trong những quyền cơ bản của con người, được pháp luật bảo vệ. Báo chí, truyền thông có vai trò quan trọng và không thể thiếu trong việc đáp ứng quyền cơ bản đó của con người, của công dân. Báo chí, truyền thông đại chúng ra đời, phát triển là nhằm đáp ứng nhu cầu trao đổi thông tin của công chúng và sự gia tăng nhu cầu thông tin trong xã hội, là phương tiện hữu hiệu trong việc cung cấp, trang bị thông tin, kiến thức trên tất cả các lĩnh vực, góp phần nâng cao nhận thức cho công chúng. Đây cũng là lý do tạo nên sự tin tưởng của công chúng đối với chất lượng và nội dung thông tin được báo chí đưa ra. Chính từ sự tin tưởng đó, công chúng mới đi theo định hướng của báo chí, có phản hồi và tích cực hợp tác, thậm chí trở thành nguồn tin của báo chí. Từ thực tiễn đó có thể nói, truyền thông báo chí góp phần không nhỏ trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận thông tin của con người, của nhân dân một cách chính xác, trung thực.

Nhìn chung, thiết chế truyền thông báo chí có vai trò đặc biệt trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân ở nước ta. Thiết chế truyền thông báo chí bảo vệ quyền con người và quyền công dân một cách trực tiếp và gián tiếp. Thiết chế truyền thông báo chí trực tiếp thực hiện quyền con người, quyền công dân như quyền được tiếp cận thông tin, quyền được tự do ngôn luận... và gián tiếp bảo vệ quyền con người, quyền công dân trên tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội như dân sự, kinh tế, văn hóa... Báo chí phản ánh tất cả những mặt trong đời sống xã hội, có sức mạnh to lớn trong việc định hướng nhận thức, hình thành dư luận xã hội. Nếu như mọi thông tin được truyền tải trên báo chí đúng sự thật, xuất phát từ cái tâm trong sáng của người làm báo, vì lợi ích của quốc gia dân tộc, vì quyền lợi chính đáng của nhân dân... khi đó báo chí có tác dụng tích cực, thúc đẩy các thiết chế khác trong xã hội phát triển. Trong trường hợp ngược lại, vì một lý do, một động cơ nào đó tin tức đăng tải không vì quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, vì lợi ích của dân tộc... khi đó báo chí đã kìm hãm sự phát triển của các thiết chế khác trong xã hội. Như vậy, có thể nói, thiết chế truyền thông báo chí gắn bó chặt chẽ với các thiết chế khác trong xã hội, nếu thiết chế truyền thông báo chí được thực hiện tốt sẽ góp phần thúc đẩy các thiết chế khác phát triển. Ngược lại, khi thiết chế truyền thông báo chí bị xâm phạm sẽ có những ảnh hưởng đến những thiết chế khác, ảnh hưởng đến lợi ích của quốc gia, dân tộc, ảnh hưởng đến quyền con người, quyền công dân trong xã hội.

Nhóm nghiên cứu đề tài
(Bài viết là sản phẩm nghiên cứu của Đề tài khoa học cấp Bộ về “Tăng cường vai trò của thiết chế truyền thông trong bảo vệ quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam”)


[1] Tờ trình của Chính phủ về dự án Luật Báo chí ngày 29/9/2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.

Theo dõi chúng tôi trên: