Thứ hai 27/07/2026 13:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cần có cơ chế bảo đảm sự độc lập cho hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử

Điều 103 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia và: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” (khoản 2).

Để cụ thể hóa nội dung Hiến định nêu trên, Tòa án nhân dân tối cao đã Dự thảo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) trình ra Quốc hội khóa XIII cho ý kiến tại kỳ họp thứ 7 (dự thảo lần thứ 3) và theo Chương trình xây dựng luật của Quốc hội thì Dự án Luật này sẽ được Quốc hội xem xét thông qua tại kỳ họp thứ 8 vào cuối năm nay.

Trong phần quy định về Hội thẩm tại Chương VIII, Dự thảo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) đã luật hóa một số quy định tương ứng của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2002. Theo đó, cơ chế quản lý đối với Hội thẩm nhân dân cơ bản vẫn được giữ nguyên. Cụ thể là:

- “Chánh án Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Toà án nhân dân sơ thẩm, Toà án quân sự quân khu hoặc tương đương, Toà án quân sự khu vực có trách nhiệm quản lý Hội thẩm theo Quy chế về tổ chức và hoạt động của Hội thẩm” (khoản 1 Điều 74 Dự thảo Luật giữ nguyên Điều 40 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2002); và:

- “Hội thẩm nhân dân thực hiện nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân theo đề nghị của Chánh án Toà án nơi mình được bầu làm Hội thẩm nhân dân” (khoản 2 Điều 67 Dự thảo Luật, sửa đổi khoản 1 Điều 32 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2002).

Chúng tôi cho rằng nếu tại kỳ họp thứ 8 sắp đến Quốc hội vẫn thông qua cơ chế quản lý và phân công xét xử đối với Hội thẩm nhân dân như nội dung được trích dẫn trên đây thì rất khó bảo đảm được nguyên tắc Hiến định: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” trên thực tế, trong tương lai.

Bởi lẽ, nếu Toà án nhân dân được giao trách nhiệm quản lý Hội thẩm nhân dân thì Hội thẩm nhân dân trở thành “người nhà” của Tòa án nhân dân; cùng với mối quan hệ phụ thuộc được hình thành do Hội thẩm nhân dân muốn thực hiện nhiệm vụ xét xử phải theo đề nghị của Chánh án nơi mình được bầu, thì tính “độc lập” của Hội thẩm nhân dân sẽ rất khó thực hiện.

Dù là ai cũng vậy, đã là Hội thẩm nhân dân thì ai cũng muốn được tham gia xét xử, mà muốn được tham gia xét xử thì phải được Chánh án Tòa án đề nghị (hay phân công cũng vậy); để được Chánh án Tòa án đề nghị thì phải do Thẩm phán thụ lý vụ án đề xuất, nhưng để được Thẩm phán đề xuất thì Hội thẩm nhân dân phải “biết nghe lời”. Cả một chuỗi dài các mắt xích có quan hệ chặt chẽ với nhau như vậy, cuối cùng đã tạo kẽ hở dẫn đến tình trạng “chạy án” gây bức xúc dư luận trong thời gian qua và hiện nay vẫn chưa ngăn chặn được tận gốc, bởi theo chúng tôi một trong những “cái gốc” của nó chính là chỗ này.

Công bằng mà nói, Dự thảo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) cũng có đưa ra cơ chế nhằm bảo đảm sự khách quan, vô tư của Chánh án Tòa án khi đề nghị Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử, như việc quy định Chánh án Toà án nhân dân xác định và đề nghị Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử từng vụ án cụ thể bằng cách “lựa chọn ngẫu nhiên” trong danh sách Hội thẩm của Toà án (khoản 2 Điều 74). Và tại khoản 5 Điều 67 Dự thảo Luật này cũng có quy định: “Trong một năm mà Hội thẩm không được Chánh án Toà án đề nghị làm nhiệm vụ xét xử thì có quyền yêu cầu Chánh án Toà án cho biết lý do”; nhằm bảo đảm cho Chánh án Tòa án không được “bỏ quên” Hội thẩm nhân dân quá một năm mà không đề nghị tham gia xét xử.

Về cơ chế “lựa chọn ngẫu nhiên”, chúng ta có thể thấy ngay sự bất cập và mâu thuẫn của nó với các quy định khác của Dự thảo. Giả sử nếu như trong một vụ án cụ thể xét xử về tội phạm có liên quan đến công nghệ cao mà Chánh án Tòa án “lựa chọn ngẫu nhiên” được vị Hội thẩm nhân dân hoàn toàn không có chuyên môn gì về khoa học - công nghệ, thì chất lượng xét xử của Tòa án tại phiên tòa đó sẽ như thế nào? Mặt khác, cơ chế “lựa chọn ngẫu nhiên” này, xét cho cùng, nó mâu thuẫn với cơ chế về “cơ cấu thành phần” Hội thẩm do Tòa án nhân dân lập kế hoạch đề xuất để Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lựa chọn nhân sự và đề nghị Hội đồng nhân dân bầu (khoản 1 Điều 69). Và nó cũng mâu thuẫn với cả cơ chế “chất vấn lại” của Hội thẩm nhân dân đối với Chánh án Tòa án khi đã qua một năm mà mình không được đề nghị thực hiện nhiệm vụ xét xử, bởi vì cơ chế “lựa chọn ngẫu nhiên” có thể dẫn đến tình trạng “ngẫu nhiên” làm cho Hội thẩm không được lựa chọn tham gia xét xử, không chỉ trong một năm mà còn có thể cả nhiệm kỳ.

Về cơ chế “chất vấn lại” của Hội thẩm nhân dân đối với Chánh án Tòa án, chúng ta thử hỏi, sẽ có bao nhiêu vị Hội thẩm nhân dân dám hỏi Chánh án vì sao không đề nghị mình tham gia xét xử? Mà nếu có vị Hội thẩm nào đó lên tiếng hỏi Chánh án, thì chẳng mấy khó khăn để Chánh án đưa ra một câu trả lời với một lý do nào đó, điển hình như lý do “lựa chọn ngẫu nhiên” hoặc lịch sự hơn là một lời nhận thiếu sót là xong. Có thể nói cơ chế “chất vấn lại” của Hội thẩm nhân dân đối với Chánh án Tòa án khi đã qua một năm mà mình không được đề nghị thực hiện nhiệm vụ xét xử, như đã ghi nhận trong Dự thảo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) hiện nay là cơ chế không đủ mạnh và sẽ thiếu tính khả thi trong tương lai.

Để giải quyết vấn đề trên đây, thiết nghĩ cũng cần phải làm rõ vai trò của Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử sơ thẩm các vụ án (trừ thủ tục rút gọn) có ý nghĩa gì? Vấn đề này đã có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng tựu trung lại vẫn là: (1) Đưa tiếng nói của đại diện nhân dân vào quá trình xét xử để thể hiện tính chất dân chủ trong hoạt động tư pháp của Tòa án mang tên là Tòa án nhân dân; (2) Người đại diện của nhân dân (Hội thẩm nhân dân) có mặt tại phiên tòa sơ thẩm không chỉ là để xét xử mà còn là để giám sát trực tiếp hoạt động của Thẩm phán nói riêng và của Tòa án nhân dân nói chung; (3) Người đại diện của nhân dân có mặt tại phiên tòa sơ thẩm không chỉ là để kết án đối với người có tội mà quan trọng hơn là còn để bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả những người có liên quan trong vụ án, tại phiên tòa…

Vì những lý do nêu trên, chúng tôi cho rằng, Dự thảo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) cần phải có một cơ chế hữu hiệu và đủ mạnh để có thể bảo đảm cho Hội thẩm nhân dân thực sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi tham gia xét xử tại các phiên tòa sơ thẩm, nhằm góp phần ngăn chặn, hạn chế tối đa tình trạng “chạy án”, đó cũng chính là góp phần làm trong sạch hoạt động xét xử của Tòa án.

Như vậy, cơ chế hữu hiệu hơn phương án được ghi trong Dự thảo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) vừa trình Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 7 cho ý kiến là gì? Để trả lời câu hỏi này, trước hết chúng tôi thống nhất với cơ chế bầu, cử, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm nhân dân như Dự thảo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi). Nhưng về cơ chế quản lý đối với Hội thẩm nhân dân, chúng tôi xin đề nghị nên theo hướng không giao cho Tòa án quản lý đội ngũ này mà nên giao cho Hội đồng nhân dân bầu ra họ quản lý. Theo đó, Hội thẩm nhân dân được tổ chức thành đoàn, gọi là “Hội thẩm đoàn” hoặc “Đoàn Hội thẩm” thuộc Hội đồng nhân dân do Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân trực tiếp quản lý. Để đồng bộ với cơ chế này cũng nên xây dựng cơ chế phân công Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử theo hướng không để Chánh án Tòa án “lựa chọn ngẫu nhiên” như Dự thảo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi). Thay vào đó là cơ chế căn cứ vào yêu cầu xét xử đối với từng vụ án sơ thẩm cụ thể, Chánh án Tòa án nhân dân có văn bản gửi Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp đề nghị cử Hội thẩm nhân dân tham gia thực hiện nhiệm vụ xét xử.

Với cơ chế như chúng tôi đề xuất, Hội thẩm nhân dân sẽ không còn phải lo chuyện bị Chánh án Tòa án “bỏ quên” không mời tham gia xét xử nữa, do đó tính “độc lập” trong khi tham gia xét xử của họ cũng sẽ được nâng cao hơn. Và như vậy tính chất khách quan, vô tư, tinh thần dũng cảm bảo vệ công lý của Hội thẩm nhân dân khi đưa ra quan điểm của mình trong quá trình nghị án cũng như khi biểu quyết để thông qua các quyết định của Tòa án cũng sẽ có chất lượng hơn.

Vấn đề cuối cùng cũng cần phải nói là có người còn băn khoăn rằng, trong điều kiện hiện nay khi mà trình độ chuyên môn của Hội thẩm nhân dân còn thấp hơn Thẩm phán rất nhiều, trong khi họ chiếm đa số trong Hội đồng xét xử, nếu để họ “độc lập” quá thì sẽ dễ dẫn đến việc án được tuyên không đúng pháp luật. Về vấn đề này, chúng tôi cho rằng, trước hết Hiến pháp – văn bản pháp luật có hiệu lực cao nhất, đã hiến định nguyên tắc bảo đảm tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật của Hội thẩm nhân dân trong khi xét xử thì Luật Tổ chức Tòa án nhân dân phải có cơ chế bảo đảm nguyên tắc này. Mặt khác, theo nguyên tắc xét xử hai cấp thì ở cấp phúc thẩm, Tòa án còn có một Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán. Với Hội đồng xét xử ở cấp phúc thẩm như vậy, Tòa án cấp trên hoàn toàn có đủ điều kiện để sửa sai hoặc loại bỏ các yếu tố vi phạm pháp luật ra khỏi bản án của Tòa án cấp sơ thẩm, nếu có; đó là chưa nói đến các hoạt động giám đốc án của các cấp Tòa án có thẩm quyền.

Thái Nguyên Đại

Sở Tư pháp Quảng Nam

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: