Thứ tư 18/03/2026 12:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cần có cơ chế bảo đảm sự độc lập cho hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử

Điều 103 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia và: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” (khoản 2).

Để cụ thể hóa nội dung Hiến định nêu trên, Tòa án nhân dân tối cao đã Dự thảo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) trình ra Quốc hội khóa XIII cho ý kiến tại kỳ họp thứ 7 (dự thảo lần thứ 3) và theo Chương trình xây dựng luật của Quốc hội thì Dự án Luật này sẽ được Quốc hội xem xét thông qua tại kỳ họp thứ 8 vào cuối năm nay.

Trong phần quy định về Hội thẩm tại Chương VIII, Dự thảo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) đã luật hóa một số quy định tương ứng của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2002. Theo đó, cơ chế quản lý đối với Hội thẩm nhân dân cơ bản vẫn được giữ nguyên. Cụ thể là:

- “Chánh án Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Toà án nhân dân sơ thẩm, Toà án quân sự quân khu hoặc tương đương, Toà án quân sự khu vực có trách nhiệm quản lý Hội thẩm theo Quy chế về tổ chức và hoạt động của Hội thẩm” (khoản 1 Điều 74 Dự thảo Luật giữ nguyên Điều 40 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2002); và:

- “Hội thẩm nhân dân thực hiện nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân theo đề nghị của Chánh án Toà án nơi mình được bầu làm Hội thẩm nhân dân” (khoản 2 Điều 67 Dự thảo Luật, sửa đổi khoản 1 Điều 32 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2002).

Chúng tôi cho rằng nếu tại kỳ họp thứ 8 sắp đến Quốc hội vẫn thông qua cơ chế quản lý và phân công xét xử đối với Hội thẩm nhân dân như nội dung được trích dẫn trên đây thì rất khó bảo đảm được nguyên tắc Hiến định: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” trên thực tế, trong tương lai.

Bởi lẽ, nếu Toà án nhân dân được giao trách nhiệm quản lý Hội thẩm nhân dân thì Hội thẩm nhân dân trở thành “người nhà” của Tòa án nhân dân; cùng với mối quan hệ phụ thuộc được hình thành do Hội thẩm nhân dân muốn thực hiện nhiệm vụ xét xử phải theo đề nghị của Chánh án nơi mình được bầu, thì tính “độc lập” của Hội thẩm nhân dân sẽ rất khó thực hiện.

Dù là ai cũng vậy, đã là Hội thẩm nhân dân thì ai cũng muốn được tham gia xét xử, mà muốn được tham gia xét xử thì phải được Chánh án Tòa án đề nghị (hay phân công cũng vậy); để được Chánh án Tòa án đề nghị thì phải do Thẩm phán thụ lý vụ án đề xuất, nhưng để được Thẩm phán đề xuất thì Hội thẩm nhân dân phải “biết nghe lời”. Cả một chuỗi dài các mắt xích có quan hệ chặt chẽ với nhau như vậy, cuối cùng đã tạo kẽ hở dẫn đến tình trạng “chạy án” gây bức xúc dư luận trong thời gian qua và hiện nay vẫn chưa ngăn chặn được tận gốc, bởi theo chúng tôi một trong những “cái gốc” của nó chính là chỗ này.

Công bằng mà nói, Dự thảo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) cũng có đưa ra cơ chế nhằm bảo đảm sự khách quan, vô tư của Chánh án Tòa án khi đề nghị Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử, như việc quy định Chánh án Toà án nhân dân xác định và đề nghị Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử từng vụ án cụ thể bằng cách “lựa chọn ngẫu nhiên” trong danh sách Hội thẩm của Toà án (khoản 2 Điều 74). Và tại khoản 5 Điều 67 Dự thảo Luật này cũng có quy định: “Trong một năm mà Hội thẩm không được Chánh án Toà án đề nghị làm nhiệm vụ xét xử thì có quyền yêu cầu Chánh án Toà án cho biết lý do”; nhằm bảo đảm cho Chánh án Tòa án không được “bỏ quên” Hội thẩm nhân dân quá một năm mà không đề nghị tham gia xét xử.

Về cơ chế “lựa chọn ngẫu nhiên”, chúng ta có thể thấy ngay sự bất cập và mâu thuẫn của nó với các quy định khác của Dự thảo. Giả sử nếu như trong một vụ án cụ thể xét xử về tội phạm có liên quan đến công nghệ cao mà Chánh án Tòa án “lựa chọn ngẫu nhiên” được vị Hội thẩm nhân dân hoàn toàn không có chuyên môn gì về khoa học - công nghệ, thì chất lượng xét xử của Tòa án tại phiên tòa đó sẽ như thế nào? Mặt khác, cơ chế “lựa chọn ngẫu nhiên” này, xét cho cùng, nó mâu thuẫn với cơ chế về “cơ cấu thành phần” Hội thẩm do Tòa án nhân dân lập kế hoạch đề xuất để Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lựa chọn nhân sự và đề nghị Hội đồng nhân dân bầu (khoản 1 Điều 69). Và nó cũng mâu thuẫn với cả cơ chế “chất vấn lại” của Hội thẩm nhân dân đối với Chánh án Tòa án khi đã qua một năm mà mình không được đề nghị thực hiện nhiệm vụ xét xử, bởi vì cơ chế “lựa chọn ngẫu nhiên” có thể dẫn đến tình trạng “ngẫu nhiên” làm cho Hội thẩm không được lựa chọn tham gia xét xử, không chỉ trong một năm mà còn có thể cả nhiệm kỳ.

Về cơ chế “chất vấn lại” của Hội thẩm nhân dân đối với Chánh án Tòa án, chúng ta thử hỏi, sẽ có bao nhiêu vị Hội thẩm nhân dân dám hỏi Chánh án vì sao không đề nghị mình tham gia xét xử? Mà nếu có vị Hội thẩm nào đó lên tiếng hỏi Chánh án, thì chẳng mấy khó khăn để Chánh án đưa ra một câu trả lời với một lý do nào đó, điển hình như lý do “lựa chọn ngẫu nhiên” hoặc lịch sự hơn là một lời nhận thiếu sót là xong. Có thể nói cơ chế “chất vấn lại” của Hội thẩm nhân dân đối với Chánh án Tòa án khi đã qua một năm mà mình không được đề nghị thực hiện nhiệm vụ xét xử, như đã ghi nhận trong Dự thảo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) hiện nay là cơ chế không đủ mạnh và sẽ thiếu tính khả thi trong tương lai.

Để giải quyết vấn đề trên đây, thiết nghĩ cũng cần phải làm rõ vai trò của Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử sơ thẩm các vụ án (trừ thủ tục rút gọn) có ý nghĩa gì? Vấn đề này đã có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng tựu trung lại vẫn là: (1) Đưa tiếng nói của đại diện nhân dân vào quá trình xét xử để thể hiện tính chất dân chủ trong hoạt động tư pháp của Tòa án mang tên là Tòa án nhân dân; (2) Người đại diện của nhân dân (Hội thẩm nhân dân) có mặt tại phiên tòa sơ thẩm không chỉ là để xét xử mà còn là để giám sát trực tiếp hoạt động của Thẩm phán nói riêng và của Tòa án nhân dân nói chung; (3) Người đại diện của nhân dân có mặt tại phiên tòa sơ thẩm không chỉ là để kết án đối với người có tội mà quan trọng hơn là còn để bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả những người có liên quan trong vụ án, tại phiên tòa…

Vì những lý do nêu trên, chúng tôi cho rằng, Dự thảo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) cần phải có một cơ chế hữu hiệu và đủ mạnh để có thể bảo đảm cho Hội thẩm nhân dân thực sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi tham gia xét xử tại các phiên tòa sơ thẩm, nhằm góp phần ngăn chặn, hạn chế tối đa tình trạng “chạy án”, đó cũng chính là góp phần làm trong sạch hoạt động xét xử của Tòa án.

Như vậy, cơ chế hữu hiệu hơn phương án được ghi trong Dự thảo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) vừa trình Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 7 cho ý kiến là gì? Để trả lời câu hỏi này, trước hết chúng tôi thống nhất với cơ chế bầu, cử, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm nhân dân như Dự thảo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi). Nhưng về cơ chế quản lý đối với Hội thẩm nhân dân, chúng tôi xin đề nghị nên theo hướng không giao cho Tòa án quản lý đội ngũ này mà nên giao cho Hội đồng nhân dân bầu ra họ quản lý. Theo đó, Hội thẩm nhân dân được tổ chức thành đoàn, gọi là “Hội thẩm đoàn” hoặc “Đoàn Hội thẩm” thuộc Hội đồng nhân dân do Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân trực tiếp quản lý. Để đồng bộ với cơ chế này cũng nên xây dựng cơ chế phân công Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử theo hướng không để Chánh án Tòa án “lựa chọn ngẫu nhiên” như Dự thảo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi). Thay vào đó là cơ chế căn cứ vào yêu cầu xét xử đối với từng vụ án sơ thẩm cụ thể, Chánh án Tòa án nhân dân có văn bản gửi Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp đề nghị cử Hội thẩm nhân dân tham gia thực hiện nhiệm vụ xét xử.

Với cơ chế như chúng tôi đề xuất, Hội thẩm nhân dân sẽ không còn phải lo chuyện bị Chánh án Tòa án “bỏ quên” không mời tham gia xét xử nữa, do đó tính “độc lập” trong khi tham gia xét xử của họ cũng sẽ được nâng cao hơn. Và như vậy tính chất khách quan, vô tư, tinh thần dũng cảm bảo vệ công lý của Hội thẩm nhân dân khi đưa ra quan điểm của mình trong quá trình nghị án cũng như khi biểu quyết để thông qua các quyết định của Tòa án cũng sẽ có chất lượng hơn.

Vấn đề cuối cùng cũng cần phải nói là có người còn băn khoăn rằng, trong điều kiện hiện nay khi mà trình độ chuyên môn của Hội thẩm nhân dân còn thấp hơn Thẩm phán rất nhiều, trong khi họ chiếm đa số trong Hội đồng xét xử, nếu để họ “độc lập” quá thì sẽ dễ dẫn đến việc án được tuyên không đúng pháp luật. Về vấn đề này, chúng tôi cho rằng, trước hết Hiến pháp – văn bản pháp luật có hiệu lực cao nhất, đã hiến định nguyên tắc bảo đảm tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật của Hội thẩm nhân dân trong khi xét xử thì Luật Tổ chức Tòa án nhân dân phải có cơ chế bảo đảm nguyên tắc này. Mặt khác, theo nguyên tắc xét xử hai cấp thì ở cấp phúc thẩm, Tòa án còn có một Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán. Với Hội đồng xét xử ở cấp phúc thẩm như vậy, Tòa án cấp trên hoàn toàn có đủ điều kiện để sửa sai hoặc loại bỏ các yếu tố vi phạm pháp luật ra khỏi bản án của Tòa án cấp sơ thẩm, nếu có; đó là chưa nói đến các hoạt động giám đốc án của các cấp Tòa án có thẩm quyền.

Thái Nguyên Đại

Sở Tư pháp Quảng Nam

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: