Thứ hai 27/07/2026 11:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cần quy định quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đương nhiên là án lệ

Cùng với việc tiếp nhận kinh nghiệm lập pháp của nhiều quốc gia trên thế giới trong quá trình hội nhập và vai trò của án lệ đối với hệ thống pháp luật quốc gia trong việc tham gia với các loại nguồn luật khác điều chỉnh các quan hệ xã hội mà Nhà nước cần điều chỉnh, sau quá trình chuẩn bị, án lệ chính thức trở thành một loại nguồn luật trong hệ thống pháp luật nước ta.

Cùng với việc tiếp nhận kinh nghiệm lập pháp của nhiều quốc gia trên thế giới trong quá trình hội nhập và vai trò của án lệ đối với hệ thống pháp luật quốc gia trong việc tham gia với các loại nguồn luật khác điều chỉnh các quan hệ xã hội mà Nhà nước cần điều chỉnh, sau quá trình chuẩn bị, án lệ chính thức trở thành một loại nguồn luật trong hệ thống pháp luật nước ta kể từ ngày 16/12/2015, ngày Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ (Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP) có hiệu lực pháp luật. Trong quá trình áp dụng, mặc dù Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18/6/2019 về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ (Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP) thay thế Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP và Tòa án nhân dân tối cao ban hành nhiều văn bản chỉ đạo tăng cường công tác phát triển án lệ, tuy nhiên, cho đến nay, số lượng án lệ được ban hành còn hạn chế, chưa đáp ứng kỳ vọng của Tòa án nhân dân tối cao và đòi hỏi của đời sống pháp lý.
1. Quy định của pháp luật hiện hành về quy trình lựa chọn, công bố án lệ và thực trạng áp dụng
Theo pháp luật hiện hành, án lệ được hiểu là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử (Điều 1 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP). Đồng thời, một bản án, quyết định để trở trành án lệ phải đáp ứng 03 tiêu chí được quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP, bao gồm: (i) Có giá trị làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau, phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể hoặc thể hiện lẽ công bằng đối với những vấn đề chưa có điều luật quy định cụ thể; (ii) Có tính chuẩn mực; (iii) Có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.
Hiện nay, việc lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ được quy định tập trung tại Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP. Theo đó, quy trình lựa chọn, công bố án lệ được tiến hành thông qua 04 bước sau đây:
Bước 1. Đề xuất bản án, quyết định để phát triển thành án lệ. Các Tòa án và các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có thể gửi đề xuất bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án chứa đựng các tiêu chí của án lệ đến Tòa án nhân dân tối cao để xem xét, phát triển thành án lệ.
Bước 2. Lấy ý kiến đối với bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn, phát triển thành án lệ. Tòa án nhân dân tối cao tiến hành đăng tải bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn, phát triển thành án lệ trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao để các Tòa án, chuyên gia, nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn, cá nhân, cơ quan, tổ chức quan tâm tham gia ý kiến trong khoảng thời gian 30 ngày kể từ ngày đăng tải. Trên cơ sở kết quả lấy ý kiến, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định việc lấy ý kiến của Hội đồng tư vấn án lệ. Sau đó, Hội đồng tư vấn án lệ thảo luận cho ý kiến đối với các bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn, phát triển thành án lệ có thể thông qua phiên họp thảo luận trực tiếp hoặc bằng văn bản. Kết quả tư vấn được báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Bước 3. Thông qua án lệ. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức phiên họp toàn thể Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để thảo luận, biểu quyết thông qua án lệ. Phiên họp Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải có ít nhất 2/3 tổng số thành viên tham gia; quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải được quá nửa tổng số thành viên Hội đồng biểu quyết tán thành.
Bước 4. Công bố án lệ. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành quyết định công bố án lệ đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua. Nội dung công bố bảo đảm các yêu cầu tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP. Sau đó, án lệ được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao; được gửi cho các Tòa án, các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao và đưa vào Tuyển tập án lệ để xuất bản.
Bên cạnh đó, một trong những điểm mới quan trọng của Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP so với Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP là đối với bản án, quyết định được Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao đề xuất hoặc được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn khi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm thì không thực hiện bước 2 bên trên, do đó, quy trình đề xuất phát triển thành án lệ đối với các bản án, quyết định loại này nhanh hơn, đơn giản hóa quy trình rà soát, phát hiện bản án, quyết định là nguồn án lệ, góp phần đẩy nhanh việc phát triển án lệ.
Tuy nhiên, số lượng bản án, quyết định được đề xuất dự nguồn án lệ[1] và số lượng bản án, quyết định được phát triển thành án lệ khá khiêm tốn chưa đáp ứng sự kỳ vọng của Tòa án nhân dân tối cao và đáp ứng yêu cầu của đời sống pháp lý[2]. Theo thống kê, tính từ ngày 16/12/2015 đến ngày 16/8/2021, chỉ có 43 bản án, quyết định được lựa chọn, phát triển thành án lệ. Tính trong khoản thời gian từ ngày 15/7/2019 (ngày Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP có hiệu lực) đến ngày 16/8/2021, chỉ có 17 bản án, quyết định được lựa chọn, phát triển thành án lệ. Thực tế này cho thấy, mặc dù đã quy định thủ tục rút gọn trong quy trình tuyển chọn, công bố án lệ nhưng số lượng bản án, quyết định được phát triển thành án lệ vẫn chưa nhiều.
Về loại án lệ, trong 43 án lệ có 07 án lệ hình sự, 23 án lệ dân sự, 08 án lệ kinh doanh thương mại, 01 án lệ lao động, 02 án lệ tố tụng dân sự, 02 án lệ về tố tụng hành chính. Về Tòa án có phán quyết được phát triển thành án lệ, trong số 43 án lệ được công bố thì có 26 phán quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (các án lệ số 1, 2, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 17, 20, 21, 24, 26, 27, 28, 29, 31, 32, 36, 38, 39 và 43); 07 phán quyết của các Tòa chuyên trách, Tòa phúc thẩm thuộc Tòa án nhân dân tối cao trước đây gồm 01 phán quyết của Tòa phúc thẩm tại Đà Nẵng, 05 phán quyết của Tòa dân sự, 01 phán quyết của Tòa hình sự (các án lệ số 3, 14, 15, 16, 19, 25, 41); 07 phán quyết của Tòa án nhân dân cấp cao gồm 05 phán quyết của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, 01 phán quyết của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và 01 phán quyết của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh (các án lệ số 18, 30, 33, 34, 35, 37, 40); 02 phán quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh (đều của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, các án lệ số 22, 23); 01 phán quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện (của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, án lệ số 42).
Như vậy, từ khi án lệ được quy định là nguồn luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Tòa án nhân dân tối cao có nhiều hoạt động, trong đó có sửa đổi, bổ sung quy định về quy trình lựa chọn, công bố án lệ[3]; chỉ đạo toàn hệ thống Tòa án nhân dân tăng cường đề xuất bản án, quyết định làm nguồn án lệ[4]. Tuy nhiên, số lượng án lệ được công bố trong thời gian qua chưa đúng kỳ vọng của Tòa án nhân dân tối cao. Một trong những nguyên nhân dẫn đến số lượng án lệ được lựa chọn, công bố làm án lệ chưa nhiều là chưa có quy trình đặc thù đối với quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao so với các bản án, quyết định khác. Vì vậy, cần có sự phân tích, đánh giá để thấy được tính đặc thù của quyết định do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành trong quá trình giải quyết vụ án theo trình tự, thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, qua đó, cần có quy trình phát triển án lệ riêng so với các quy định phát triển án lệ (theo thủ tục thông thường và thủ tục rút gọn) đang áp dụng hiện nay.
2. Sự cần thiết quy định quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đương nhiên là án lệ và kiến nghị hoàn thiện
Mặc dù, Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP đã có sự sửa đổi, bổ sung quy trình tuyển chọn, công bố án lệ ngắn gọn hơn đối với một số bản án, quyết định[5], tuy nhiên, sự ngắn gọn này vẫn còn bao hàm nhiều loại phán quyết, trong đó có phán quyết do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành, mà chưa quy định thủ tục công nhận án lệ đặc thù, đơn giản hơn đối với phán quyết này so với các phán quyết khác. Với đặc thù của phán quyết do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành, cần có thủ tục tuyển chọn, công bố đơn giản hơn, kể cả so với các phán quyết rơi vào trường hợp tuyển chọn, công bố theo thủ tục rút gọn bởi các lý do chính sau đây:
Thứ nhất, phán quyết do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành là phán quyết cuối cùng
Theo quy định của các văn bản luật tố tụng hiện hành, quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành là phán quyết theo trình tự, thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm cuối cùng. Một vụ án có thể được xem xét theo trình tự, thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bởi Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, tuy nhiên, để được xem xét theo trình tự, thủ tục này thì ngoài đáp ứng một trong các căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, vụ án còn phải ảnh hưởng lớn đến cộng đồng, được dư luận quan tâm. Do đó, số lượng quyết định do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành là không nhiều.
Bên cạnh đó, một trong những điểm mới của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là quy định trình tự, thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đồng thời, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 tiếp tục quy định trình tự, thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), Luật Tố tụng hành chính năm 2010. Tuy nhiên, quy định này mang tính dự phòng để bảo vệ một cách tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân là chính, sẽ rất khó có thể áp dụng trên thực tế. Bởi vì, để được áp dụng thủ tục đặc biệt này, đòi hỏi phải có căn cứ do luật định, có yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét của nhóm chủ thể có thẩm quyền rất hạn chế và theo trình tự, thủ tục cực kỳ nghiêm ngặt. Bên cạnh đó, trên thực tế, trước thời điểm các văn bản luật tố tụng năm 2015 ban hành, trong quá trình thực hiện Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), Luật Tố tụng hành chính năm 2010, chưa có trường hợp cần phải xem xét lại phán quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đồng thời, từ khi các văn bản luật tố tụng năm 2015 có hiệu lực cho đến nay, chưa có trường hợp nào phán quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao bị xem xét lại theo trình tự, thủ tục đặc biệt.
Hơn nữa, theo pháp luật tố tụng, khi giải quyết theo trình tự, thủ tục giám đốc thẩm, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có thể xem xét lại phán quyết của Tòa án nhân dân cấp dưới về nội dung, thông qua thẩm quyền sửa án[6], qua đó, dễ dàng bảo đảm các tiêu chí lựa chọn án lệ. Trong những trường hợp không chấp nhận kháng nghị, giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì phán quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có thể chứa đựng nội dung về cách giải quyết của Tòa án nhân dân cấp dưới, qua đó có thể tạo án lệ qua trung gian. Thậm chí trong trường hợp, khi Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy phán quyết để giải quyết lại thì các nhận định trong đó cũng có giá trị định hướng, tao khuôn mẫu cho công tác giải quyết các vụ án tương tự.
Thứ hai, thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là những chuyên gia, người ưu tú nhất trong lĩnh vực xét xử
Khác với quy định tương ứng trước đây, khoản 1 Điều 22 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định số lượng thành viên Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không dưới 13 người và không quá 17 người, gồm Chánh án, các Phó Chánh án Tòa nhân dân tối cao là Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và các Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đây là những người đã công tác lâu năm trong hệ thống Tòa án nhân dân (đã là thẩm phán cao cấp từ đủ 05 năm trở lên); những người giữ chức vụ quan trọng trong các cơ quan, tổ chức trung ương, am hiểu sâu sắc về các lĩnh vực của đời sống xã hội hoặc những chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành về pháp luật, giữ chức vụ quan trọng trong các cơ quan, tổ chức và có uy tín cao trong xã hội. Chính vì vậy, giá trị phán quyết do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành được xem là chuẩn mực pháp lý, đáp ứng hoàn toàn các điều kiện mà Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP nêu lên, thậm chí ở mức độ cao hơn rất nhiều. Điều này được thể hiện rõ qua số án lệ được phát triển từ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Theo đó, trong số 43 án lệ được công bố cho đến thời điểm này, có đến 26 án lệ được phát triển từ phán quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, chiếm tỷ lệ 60,46% mặc dù số lượng phán quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành chiếm tỷ lệ nhỏ so với phán quyết do các Tòa án khác ban hành.
Thứ ba, phán quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao bảo đảm sự tuân thủ triệt để trong quá trình giải quyết các vụ việc tương tự
Khác với phán quyết của Tòa án nhân dân cấp cao, phán quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân cấp huyện chỉ có giá trị chủ yếu trong phạm vi lãnh thổ hoặc đơn vị hành chính, phán quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao bảo đảm sự tuân thủ triệt để trong quá trình giải quyết các vụ việc tương tự của Tòa án cấp dưới và ngay cả trong Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Bởi vì, đây là phán quyết được tiến hành theo trình tự, thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm cuối cùng và tầm ảnh hưởng của nó đến toàn thể hệ thống Tòa án nhân dân. Thực tiễn hiện nay, đối với các phán quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cho dù chưa phải là án lệ nhưng vẫn đang là hình mẫu để Tòa án nhân dân cấp dưới nghiên cứu, áp dụng giải quyết các vụ việc tương tự.
Thứ tư, quy định phán quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đương nhiên là án lệ sẽ cụ thể hóa quan điểm của Tòa án nhân dân tối cao theo Đề án “Phát triển án lệ của Tòa án nhân dân tối cao”
Mặc dù Quyết định số 74/QĐ-TAND ngày 31/10/2012 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cáo phê duyệt Đề án “Phát triển án lệ của Tòa án nhân dân tối cao” (Quyết định số 74/QĐ-TAND) hướng đến việc phát triển án lệ đối với tất cả bản án, quyết định có hiệu lực do các Tòa án có thẩm quyền ban hành, tuy nhiên, phán quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao luôn được đề cao, chú trọng. Về mục tiêu tổng quát, Quyết định số 74/QĐ-TAND nhấn mạnh, việc phát triển án lệ của Tòa án nhân dân tối cao nhằm nâng cao chất lượng của bản án, quyết định của Ngành Tòa án nói chung, đặc biệt là Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (điểm a mục 1 phần I Điều 1). Về quan điểm chỉ đạo, Quyết định số 74/QĐ-TAND quy định, án lệ là Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Quyết định giám đốc thẩm của Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua, trở thành án lệ có giá trị tham khảo đối với Thẩm phán khi giải quyết các vụ việc cụ thể (mục 2 phần I Điều 1). Về định hướng phát triển án lệ, Quyết định số 74/QĐ-TAND chỉ ra, thông qua việc xét xử vụ án cụ thể, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lập luận về một vấn đề chưa được hướng dẫn và đưa ra cách giải quyết về vụ án và là nguồn cung cấp để pháp điển hóa thành văn bản hướng dẫn hoặc có thể là nguồn để đề nghị sửa đổi về một quy phạm pháp luật cụ thể có liên quan, có giá trị tham khảo đối với thẩm phán khi giải quyết các vụ việc cụ thể. Đồng thời, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thực hiện chức năng hướng dẫn áp dụng thống nhất thông qua cách giải thích, lập luận đường lối cách thức áp dụng pháp luật trong những vụ án cụ thể. Quyết định trở thành án lệ là quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và quyết định giám đốc thẩm của Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua (các điểm a, b, d mục 3 phần I Điều 1).
Như vậy, trong định hướng phát triển án lệ ở Việt Nam, ngay từ thời điểm ban đầu, Tòa án nhân dân tối cao đã xác định phán quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là trung tâm, nền tảng để phát triển án lệ và có sự tập trung trong việc đề ra các giải pháp xuất phát từ giá trị của phán quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và do những chủ thể có kiến thức uyên tâm, tinh thông mọi lĩnh vực của đời sống xã hội ban hành ra. Do đó, trình tự, thủ tục tuyển chọn, công bố án lệ là phán quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành phải có sự khác biệt so với phán quyết do thẩm phán của các Tòa án có thẩm quyền khác ban hành.
Thứ năm, việc quy định phán quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đương nhiên là án lệ sẽ có nhiều ý nghĩa, như: (i) Giúp phân biệt giá trị giữa các án lệ, nhất là phán quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao với phán quyết của các Tòa án khác; (ii) Góp phần khắc phục việc các cơ quan tư pháp trung ương ban hành các công văn, giải đáp nghiệp vụ thông qua giá trị của án lệ (nguồn luật trong hệ thống pháp luật) với các công văn, giải đáp nghiệp vụ chỉ là văn bản áp dụng hạn chế trong hệ thống cơ quan hoặc các hệ thống cơ quan có liên quan; (iii) khắc phục sự thiếu kịp thời của việc ban hành nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và việc tuyển chọn, công bố án lệ theo theo trình tự, thủ tục thông thường, thủ tục rút gọn; (iv) Phát huy vai trò là một loại nguồn luật, lấp vào hạn chế của pháp luật thành văn (hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật).
Thứ sáu, so sánh với hệ thống pháp luật của một số quốc gia khác, trong quá trình tuyển chọn phán quyết để phát triển án lệ, phán quyết của Tòa án có thẩm quyền cao nhất của quốc gia có vị trí đặc biệt so với các phán quyết do Tòa án khác ban hành
Ở Pháp, quốc gia có hệ thống pháp luật được xem là hệ thống pháp luật gốc quan trọng nhất của dòng họ pháp luật châu Âu lục địa (dòng họ civil law), trong số 03 lĩnh vực án lệ gắn với thẩm quyền của 03 nhánh Tòa án gồm: Tòa án hiến pháp (bảo đảm cơ chế bảo hiến của văn bản luật), Tòa án tư pháp (giải quyết các vụ án dân sự, hình sự) và Tòa án hành chính (giải quyết các khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính và tranh chấp hợp đồng hành chính)[7], thì hầu hết các chế định quan trọng của pháp luật hành chính đều tồn tại dưới dạng án lệ do Tòa án hành chính tối cao (Tham chính viện) ban hành. Đối với án lệ tư pháp, án lệ do Tòa án tư pháp tối cao (Tòa phá án) được công nhận chính thức và có hiệu lực gần như luật. Các nhà nghiên cứu còn sử dụng cụm từ “án lệ lập pháp” để chỉ loại án lệ của Tòa phá án[8].
Tại Nhạt Bản, hệ thống pháp luật chủ yếu dựa vào pháp luật thành văn nhưng các phán quyết của Tòa án, nhất là phán quyết của Tòa án tối cao được tôn trọng và tuân thủ như là một nguồn chính của luật. Những nguyên tắc mới thường phát sinh từ án lệ. Do đó, việc nghiên cứu các bản án của Tòa án là một phần quan trọng trong quá trình thảo luận các vấn đề pháp lý[9].
Đối với các nước thuộc dòng họ pháp luật Anh - Mỹ (dòng họ common law), thông thường, các phán quyết của Tòa án cấp cao nhất chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng số các phán quyết của Tòa án nhưng những phán quyết này thường giải quyết các vấn đề nảy sinh về luật pháp và thường có giá trị như pháp luật[10].
Như vậy, hệ thống pháp luật ở các nước cho dù thuộc dòng họ pháp luật châu Âu lục địa (dòng họ civil law) hay thuộc dòng họ pháp luật Anh - Mỹ (dòng họ common law) thì phán quyết của Tòa án có thẩm quyền cao nhất của quốc gia (tổ chức Tòa án không phân chia thành lĩnh vực xét xử) hoặc Tòa án có thẩm quyền cao nhất trong một lĩnh vực (tổ chức Tòa án được phân chia thành các nhánh theo lĩnh vực xét xử) có vị trí quan trọng và khi phát triển án lệ, các phán quyết này được tôn trọng ở mức độ cao nhất, thậm chí còn được so sánh ngang hàng với pháp luật thành văn.
Với các lý do trên, việc quy định phán quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đương nhiên là án lệ, không phải qua quy trình tuyển chọn, công bố (theo thủ tục thông thường, thủ tục rút gọn) như các phán quyết của Tòa án khác là cần thiết, cấp bách. Tuy nhiên, theo các văn bản luật tố tụng năm 2015, phán quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có 02 loại là phán quyết của toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và phán quyết của 05 thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao[11]. Cho nên, chỉ phán quyết của toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao mới đương nhiên là án lệ; còn phán quyết của 05 Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao[12] vẫn được tuyển chọn, công bố theo trình tự, thủ tục hiện nay.
Do đó, tác giả kiến nghị bổ sung vào Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP quy định phán quyết của toàn thể Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đương nhiên là án lệ và bổ sung quy trình công bố để không chỉ Tòa án nhân dân các cấp áp dụng giải quyết vụ việc tương tự mà còn giúp các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác lựa chọn cách thức xử sự phù hợp, cụ thể:
“Trong hạn 10 ngày kể từ ngày toàn thể Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tuyên quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học Tòa án nhân dân tối cao trình Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành quyết định công bố án lệ đối với quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của toàn thể Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Đồng thời, định kỳ hàng quý, Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học Tòa án nhân dân tối cao ban hành Tuyển tập án lệ là quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của toàn thể Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao”.
Như vậy, từ khi án lệ chính thức được thừa nhận là nguồn luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam cho đến nay, số lượng án lệ được phát triển chưa nhiều, chưa đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội nảy sinh, trong khi đó, các loại nguồn luật khác trong hệ thống pháp luật, nhất là pháp luật thành văn còn những tồn tại nhất định. Việc bổ sung quy định phán quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đương nhiên là án lệ góp phần tăng số lượng án lệ, hoàn thiện nguồn luật án lệ, phát huy vai trò của án lệ trong việc bổ trợ cho pháp luật thành văn điều chỉnh các quan hệ xã hội.

ThS. Thái Chí Bình
Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang


[1] Tính đến ngày 12/4/2021, có 1.021 bản án, quyết định của các Tòa án viện dẫn, áp dụng án lệ (xem: Bảo thư, Hội thảo “Công tác phát triển án lệ”, tại địa chỉ: https://tapchitoaan.vn/bai-viet/an-le/hoi-thao-%E2%80%9Ccong-tac-phat-trien-an-le%E2%80%9D, cập nhật ngày 27/4/2021).

[2] Vấn đề này được Tòa án nhân dân tối cao kết luận tại Công văn số 136/TANDTC-PC ngày 13/8/2021 về việc tăng cường hơn nữa công tác phát triển, áp dụng án lệ trong Tòa án nhân dân.

[3] Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP thay thế Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP.

[4] Trong đó, có thể kể đến Chỉ thị số 04/2016/CT-CA ngày 30/5/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về việc tăng cường công tác phát triển và công bố án lệ; áp dụng án lệ trong xét xử; Công văn số 146/TANDTC-PC ngày 11/7/2017 của Tòa án nhân dân tối cao về việc viện dẫn, áp dụng án lệ trong xét xử; Công văn số 136/TANDTC-PC ngày 13/8/2021 về việc tăng cường hơn nữa công tác phát triển, áp dụng án lệ trong Tòa án nhân dân.

[5] Đó là các bản án, quyết định được Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đề xuất; được Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao đề xuất hoặc được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn khi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm.

[6] Theo Điều 347 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 393 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 276 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

[7] Xem: Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình Luật so sánh, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2017, tr. 160 - 169.

[8] Xem: Trần Đức Sơn, Tìm hiểu hệ thống án lệ của Cộng hòa Pháp, trong Thông tin khoa học xét xử số 5/2003 của Viện khoa học xét xử Tòa án nhân dân tối cao.

[9] Xem: Ban biên tập, Án lệ của Nhật Bản (trích từ sách “Luật Nhật bản” của tác giả Hiroshi Oda, Nxb. ButterWorth, London-Dublin-Edinburg, 1992, tr. 53 - 57), trong Thông tin khoa học xét xử số 5/2003 của Viện khoa học xét xử Tòa án nhân dân tối cao.

[10] Xem: Trần Văn Thư, Tìm hiểu học thuyết án lệ, trong Thông tin khoa học xét xử số 5/2003 của Viện khoa học xét xử Tòa án nhân dân tối cao.

[11] Xem: Khoản 2 Điều 66 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các khoản 4, 5 Điều 382 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 266 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

[12] Hiện nay, Tổ Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giải quyết án theo từng lĩnh vực được quy định tại Quyết định số 455/QĐ-CA ngày 25/12/2020 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về việc phân công thành viên Tổ Thẩm phán giải quyết án tại Tòa án nhân dân tối cao.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Bài viết đề xuất hoàn thiện dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo hướng chuyển trọng tâm từ đánh giá kinh nghiệm hành nghề của từng giảng viên sang đánh giá năng lực của cơ sở giáo dục đại học trong việc tổ chức hoạt động đào tạo gắn với thực tiễn.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được Bộ Tư pháp nghiên cứu xây dựng với nhiều nội dung đổi mới quan trọng. Bên cạnh việc sửa đổi các quy định về nguyên tắc quản lý luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước…, dự thảo Luật còn quy định cam kết về tôn trọng tính bảo mật, bảo đảm quyền hành nghề của luật sư. Đây là những nội dung có ý nghĩa quan trọng, góp phần xây dựng môi trường hành nghề minh bạch, chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý và phát huy vai trò của luật sư trong bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16. Đạo luật này đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 07/2026/L-CTN ngày 26/4/2026 và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Việc ban hành Luật mới nhằm thay thế toàn bộ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, qua đó thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, giải quyết triệt để những bất cập thực tiễn, đồng thời đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy chính quyền (02 cấp) và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia.
Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Việc đặt ra yêu cầu luật sư phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng” là vấn đề đang thu hút sự quan tâm lớn của giới hành nghề, giới nghiên cứu và cơ quan xây dựng pháp luật, nhất là khi dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã đặt trọng tâm vào chính sách xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, sự nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên số, quyền tiếp cận thông tin là tiền đề quan trọng để người khuyết tật hòa nhập xã hội. Tuy nhiên, “khoảng cách số” và những khoảng trống của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 làm tăng nguy cơ người khuyết tật bị “bỏ lại phía sau”. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và đối chiếu, nghiên cứu đánh giá thực trạng khung pháp lý cũng như thực tiễn thi hành quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật; từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba điểm nghẽn lớn là thiếu quy định bắt buộc về định dạng thông tin dễ tiếp cận; giới hạn về chủ thể cung cấp thông tin và thiếu cơ chế phối hợp hỗ trợ. Để giải quyết, nghiên cứu đề xuất ba giải pháp trọng tâm: (i) đa dạng hóa phương thức cung cấp qua nền tảng số và bắt buộc cung cấp định dạng chuyên biệt; (ii) mở rộng trách nhiệm cung cấp thông tin đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thiết yếu, thiết lập cơ chế để hệ thống trợ giúp pháp lý trở thành đầu mối hỗ trợ, “phiên dịch” thông tin cho người khuyết tật; (iii) hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thông qua chính sách miễn phí tiếp cận thông tin và đầu tư hạ tầng công nghệ bao trùm.
Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có những quy định mới quan trọng về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách. Các quy định này đã và đang được triển khai trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
Pháp luật một số quốc gia trên thế giới về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quản lý hoạt động tôn giáo - Một số gợi mở đối với Việt Nam

Pháp luật một số quốc gia trên thế giới về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quản lý hoạt động tôn giáo - Một số gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong nhiều công ước quốc tế và pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp và thực tiễn quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo tại một số quốc gia như Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Nga, Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á; từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc trong xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Nghiên cứu tập trung phân tích ba nội dung chính: (i) mô hình pháp luật điều chỉnh quan hệ Nhà nước - tôn giáo; (ii) cơ chế bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân; (iii) phương thức quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo.
Hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam từ kinh nghiệm một số quốc gia ASEAN: tiếp cận từ mô hình quan hệ giữa Nhà nước và tôn giáo

Hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam từ kinh nghiệm một số quốc gia ASEAN: tiếp cận từ mô hình quan hệ giữa Nhà nước và tôn giáo

Tóm tắt: Trong xã hội đa dạng về tín ngưỡng và tôn giáo, pháp luật không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà còn thiết lập cơ chế duy trì trật tự công, ổn định xã hội và thúc đẩy hòa hợp cộng đồng. Tại Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và được cụ thể hóa trong Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, các cách tiếp cận hiện chưa làm rõ đầy đủ cơ sở lý luận của mô hình quan hệ giữa Nhà nước và tôn giáo như một nền tảng cho cải cách pháp luật. Nghiên cứu phân tích các mô hình lý luận về quan hệ giữa Nhà nước và tôn giáo, đánh giá mô hình chính sách, pháp luật hiện hành của Việt Nam và xu hướng sửa đổi trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Thông qua tham chiếu kinh nghiệm của Singapore như một trường hợp điển hình trong ASEAN, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong cách tiếp cận pháp luật hiện nay ở Việt Nam và đề xuất các định hướng hoàn thiện chính sách, pháp luật theo hướng vừa bảo đảm tốt hơn quyền tự do tôn giáo, vừa đáp ứng yêu cầu quản trị nhà nước và hội nhập quốc tế.
Hoàn thiện chính sách, pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng

Hoàn thiện chính sách, pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đã bước đầu thiết lập hành lang pháp lý cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng. Nghiên cứu phân tích các chính sách, quy định mới về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, đánh giá tính tương thích và khả thi trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Bằng phương pháp phân tích quy phạm và so sánh đối chiếu, nghiên cứu làm rõ sự biến đổi của các hình thức thực hành tôn giáo trong môi trường số và trách nhiệm của các chủ thể liên quan, đặc biệt là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng, qua đó, xác định các yêu cầu đối với tổ chức thực thi nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong bối cảnh số hóa.
Thực trạng chính sách, pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện

Thực trạng chính sách, pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu, rộng và sự đa dạng ngày càng gia tăng của các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, hệ thống chính sách, pháp luật Việt Nam đã có nhiều bước hoàn thiện, đặc biệt, với việc ban hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành chính sách, pháp luật còn tồn tại một số hạn chế như tính minh bạch chưa cao, thủ tục hành chính còn phức tạp và sự thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật giữa các địa phương. Nghiên cứu phân tích thực trạng chính sách, pháp luật và thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm bảo đảm tốt hơn quyền con người và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: