Thứ năm 18/06/2026 02:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cặp nguyên tắc nộp đơn đầu tiên - sáng tạo đầu tiên trong bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế và nhãn hiệu

Tóm tắt: Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên nhằm xác định việc hưởng quyền ưu tiên trong những trường hợp nhất định áp dụng trong bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế,

Tóm tắt: Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên nhằm xác định việc hưởng quyền ưu tiên trong những trường hợp nhất định áp dụng trong bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, nhãn hiệu và một vài đối tượng khác được ghi nhận tại Điều 4 Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp và được quy định tại Điều 90 và Điều 91 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam. Dựa trên quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, bài viết này phân tích nguyên tắc nộp đơn đầu tiên trong quan hệ có tính đối đẳng với nguyên tắc sáng tạo đầu tiên và nguyên tắc sử dụng đầu tiên trong đăng ký sáng chế và nhãn hiệu.

Abstract: The principle of first to file is aimed at determining priority right in certain cases applied in the industrial property protection for patents, trademarks and some other subjects provided in Article 4 of the Paris Convention for the Protection of Industrial Property and in Article 90 and 91 of the Law on Intellectual Property of Vietnam. Based on regulations of international and national law, this paper analyzes the principle of first to file in relationships equivalent to the principle of first to invent and the principle of first to use in the registration of patents and trademarks.

1. Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên áp dụng đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu theo quy định tại Điều 4 Công ước Paris và tiếp tục được thi hành theo ghi nhận tại Hiệp định TRIPs của WTO

Một trong những nội dung cơ bản của Công ước Paris là thỏa thuận về các quyền được bảo hộ đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp, trong đó quy định tại Điều 4 về việc hưởng quyền ưu tiên dựa trên cơ sở nguyên tắc nộp đơn đầu tiên áp dụng đối với cá nhân, tổ chức là công dân của các nước thành viên theo nguyên tắc đối xử quốc gia khi họ ở vào các điều kiện gắn với các tình huống nhất định. Một cách khái quát, nguyên tắc này được áp dụng trong trường hợp có hai hay nhiều tổ chức, cá nhân độc lập với nhau cùng nộp đơn đăng ký một sáng chế, một giải pháp hữu ích, một kiểu dáng công nghiệp hay một nhãn hiệu trùng nhau, khi đó, việc hưởng quyền ưu tiên được dành cho tổ chức, cá nhân đã có đơn hợp lệ đầu tiên đăng ký các đối tượng này được nộp tại một trong số các nước thành viên Công ước Paris trong thời hạn 12 tháng đối với sáng chế và giải pháp hữu ích, 06 tháng đối với kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu. Điều này có nghĩa rằng, trong các khoảng thời gian vừa nêu, nếu người nộp đơn tiếp tục nộp đơn yêu cầu bảo hộ các đối tượng vừa nêu tại bất kỳ nước thành viên nào khác của Công ước Paris, các đơn nộp sau sẽ được xem như nộp cùng ngày với ngày nộp đơn hợp lệ đầu tiên.

Áp dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên trong các trường hợp trên không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết các vấn đề có liên quan giữa các cơ quan có thẩm quyền đăng ký sở hữu công nghiệp của các quốc gia thành viên Công ước Paris, mà còn giúp cho người nộp đơn ở một nước thành viên này tránh được rủi ro khi người khác, trong thời hạn hưởng quyền ưu tiên theo đơn đầu tiên đã được nộp, có thể nộp đơn yêu cầu bảo hộ ở một nước thành viên khác cho cùng một đối tượng, cũng như tránh được rủi ro khi họ có thể đã mô tả hay bộc lộ đối tượng có yêu cầu bảo hộ trong thực tế. Ví dụ, đã công bố sáng chế trong một hội thảo khoa học hay đã khai thác kiểu dáng công nghiệp thông qua sản phẩm trên thị trường. Bên cạnh đó, khi mà thủ tục nộp đơn và xem xét đơn yêu cầu bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp luôn đặc biệt song hành với các chi phí về thời gian và tài chính, việc hưởng quyền ưu tiên theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên còn cho phép người nộp đơn muốn đối tượng sở hữu công nghiệp của mình được bảo hộ ở nhiều nước thành viên Công ước Paris có điều kiện cân nhắc trong thời hạn hưởng quyền ưu tiên về việc họ nên nộp đơn yêu cầu bảo hộ ở nước thành viên nào và tiến hành các thủ tục cần thiết ở nước thành viên đó, thay cho việc đồng thời nộp các đơn yêu cầu bảo hộ cho cùng một đối tượng tại nước xuất xứ và các nước thành viên khác.

Về cơ bản, có thể tóm tắt ba đặc điểm của nguyên tắc hưởng quyền ưu tiên dựa trên nền tảng của nguyên tắc nộp đơn đầu tiên theo quy định tại Điều 4 Công ước Paris như sau:

Thứ nhất, nguyên tắc này chỉ áp dụng, hay dành cho cá nhân, tổ chức là công dân của các nước thành viên Công ước Paris dựa trên một nền tảng pháp lý quốc tế khác là nguyên tắc đối xử quốc gia.

Thứ hai, nguyên tắc này được ghi nhận trên cơ sở xác định việc hưởng quyền sở hữu công nghiệp phải được thông qua thủ tục đăng ký bảo hộ. Đây là đặc điểm hết sức quan trọng để phân biệt việc đăng ký quyền sở hữu công nghiệp so với việc hưởng quyền mang tính chất “tự động” hay không bị buộc phải thông qua thủ tục đăng ký trong lĩnh vực bản quyền vốn phát triển song song với lĩnh vực sở hữu công nghiệp.

Thứ ba, nguyên tắc này được áp dụng nhìn chung không có gì khác biệt giữa bốn đối tượng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu, cho dù thời hạn hưởng quyền ưu tiên được quy định dài hơn đối với nhóm sáng chế và giải pháp hữu ích (một năm) so với nhóm kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu (sáu tháng).

Ra đời sau Công ước Paris hơn 100 năm, Hiệp định TRIPs của WTO đã khái quát hóa nhiều khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ trong bối cảnh phát triển mới của kinh tế, thương mại, khoa học, kỹ thuật và công nghệ trên thế giới. Tương ứng với bối cảnh phát triển mới này, Hiệp định TRIPs cũng được cấu trúc bao gồm một số điều khoản thu hút, hay dẫn nhập hóa nhiều nội dung trọng yếu của một số công ước, hiệp định quốc tế đa phương khác về sở hữu trí tuệ, trong đó có Công ước Paris, ví dụ như quy định tại các Điều 1:3, Điều 2 và Điều 3:1 của Hiệp định. Chẳng hạn, tại Điều 2:1 Hiệp định TRIPs nhấn mạnh: “Gắn với quy định tại các Phần II, III và IV của Hiệp định này, thành viên cần phải thực hiện các Điều từ 1 đến 12 và Điều 19 của Công ước Paris (Văn kiện sửa đổi năm 1967)”[1]. Một cách rõ ràng, thông qua điều khoản vừa nêu, Hiệp định TRIPs đã “mặc nhiên” thừa nhận nguyên tắc nộp đơn đầu tiên áp dụng đối với bốn đối tượng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu như được quy định tại Điều 4 Công ước Paris.

2. Nguyên tắc sáng tạo đầu tiên áp dụng đối với sáng chế và nguyên tắc sử dụng đầu tiên áp dụng đối với nhãn hiệu trong pháp luật Hoa Kỳ, pháp luật một số quốc gia khác và pháp luật quốc tế

Kể từ trước khi gia nhập và trở thành thành viên của Công ước Paris cho tới nay, Hoa Kỳ luôn là quốc gia có hệ thống bảo hộ sáng chế vô cùng linh hoạt, năng động, sáng tạo và hệ thống bảo hộ sáng chế này chính là một trong những yếu tố then chốt, có ý nghĩa quyết định trong việc làm cho Hoa Kỳ luôn trở thành quốc gia dẫn đầu thế giới trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật, công nghệ và thương mại[2]. Ngay từ những năm đầu trong sự phát triển của các hệ thống bảo hộ sáng chế quốc gia, con số so sánh về số lượng sáng chế được bảo hộ trong gần hai trăm năm, từ 1790 đến 1960, giữa bốn nước phát triển gồm Anh, Đức, Pháp, Hoa Kỳ đã cho thấy rất rõ điều đó. Chẳng hạn, vào đúng năm Công ước Paris được ký kết năm 1883, số lượng bằng độc quyền sáng chế được cấp bởi cơ quan có thẩm quyền ở bốn quốc gia vừa nêu là 3.962 (Anh); 4.848 (Đức); 8.087 (Pháp) và 21.162 (Hoa Kỳ), sau đó, đến năm 1951, với ý nghĩa là năm đầu tiên của nửa sau thế kỷ XX và năm thứ 68 kể từ khi Công ước Paris được ký kết, số lượng bằng độc quyền sáng chế được cấp giữa bốn quốc gia đều tăng mạnh trong đó tăng nhiều nhất, dẫn đầu vẫn là Hoa Kỳ, cụ thể 13.761 (Anh); 25.200 (Pháp); 27.767 (Đức) và 44.384 (Hoa Kỳ)[3].

Hoa Kỳ gia nhập và trở thành thành viên của Công ước Paris từ năm 1887, hay chỉ 3-4 năm sau khi Công ước được ký kết (1883) và có hiệu lực (1884), nhưng cũng chỉ 3 năm sau khi Đạo luật Bằng độc quyền sáng chế Hoa Kỳ năm 1790 ra đời, vào năm 1793, tương ứng trong nhiệm kỳ của Tổng thống Thomas Jefferson, Tổng thống được xem là một trong những người sáng lập ra Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ thịnh vượng đã sớm nhận ra yêu cầu cần thiết phải có thêm các quy tắc cho hệ thống cấp bằng độc quyền sáng chế, do vậy, lần đầu tiên ở Hoa Kỳ nguyên tắc sáng tạo đầu tiên đã được đưa vào Đạo luật Bằng độc quyền sáng chế sửa đổi 1793, theo đó dành quyền ưu tiên cho “nhà sáng chế đầu tiên và đích thực” giữa những người độc lập cùng tạo ra một sáng chế trùng nhau và đều có đơn đăng ký bảo hộ[4]. Trong khi còn có nhiều tranh luận về luận điểm này, trong thực tiễn hành pháp ở Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO), nguyên tắc sáng tạo đầu tiên thực sự được áp dụng kể từ năm 1836, đây cũng chính là năm Đạo luật Bằng độc quyền sáng chế tiếp tục được sửa đổi bởi Quốc hội Hoa Kỳ[5].

Canada gia nhập và trở thành thành viên của Công ước Paris trong năm 1923 và Phillippines trong năm 1965[6] đã cùng với Hoa Kỳ là ba quốc gia duy nhất trên thế giới áp dụng nguyên tắc sáng tạo đầu tiên trong hệ thống bảo hộ sáng chế quốc gia cho tới năm 1989 và năm 1998, khi Canada và Phillippines lần lượt chấm dứt áp dụng nguyên tắc sáng tạo đầu tiên, trên cơ sở đó gia nhập “đại gia đình” các quốc gia thành viên Công ước Paris khác, để chính thức chuyển đổi sang áp dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên trong hoạt động bảo hộ sáng chế của mình[7].

Dù không còn “đồng minh” nào trong việc áp dụng nguyên tắc sáng tạo đầu tiên trong hệ thống bảo hộ sáng chế quốc gia, sự “một mình” hay “độc hành” của việc áp dụng nguyên tắc này ở Hoa Kỳ theo Đạo luật Bằng độc quyền sáng chế được tiếp tục nhiều trăm năm cho tới tận thập kỷ thứ hai của thế kỷ XXI, khi Đạo luật Sáng chế Hoa Kỳ năm 2011 được ban hành và có hiệu lực, Hoa Kỳ mới thực sự hòa nhập với phần còn lại của thế giới trong việc chính thức chuyển đổi hệ thống bảo hộ sáng chế của mình từ việc áp dụng nguyên tắc sáng tạo đầu tiên sang áp dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên với lịch trình của sự chuyển đổi kéo dài cho đến năm 2015[8]. Như vậy, với ý nghĩa Hoa Kỳ là quốc gia cuối cùng chuyển đổi hệ thống bảo hộ sáng chế từ áp dụng nguyên tắc sáng tạo đầu tiên sang áp dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên, tính đến nay, với tổng số 177 thành viên Công ước Paris và 164 thành viên WTO[9], có thể nói, nguyên tắc nộp đơn đầu tiên trong bảo hộ sở hữu công nghiệp đối với các đối tượng tương ứng đã được áp dụng trên toàn thế giới. Tuy nhiên, riêng đối với bảo hộ nhãn hiệu, một sự song trùng đã, đang và sẽ tiếp tục diễn ra trong pháp luật quốc tế, không chỉ mang tính quá khứ như trường hợp bảo hộ sáng chế với nguyên tắc sáng tạo đầu tiên đã không còn được áp dụng như trình bày ở trên. Cụ thể, khi quy định về yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu tại các điều 15 - 21, Hiệp định TRIPs bao hàm một số điều khoản tự chọn theo đó thừa nhận nguyên tắc sử dụng đầu tiên có thể tồn tại song song với nguyên tắc nộp đơn đầu tiên trong pháp luật quốc gia thành viên. Chẳng hạn, tại Điều 15:1, song song với nội dung bắt buộc, cơ bản yêu cầu thành viên bảo hộ nhãn hiệu đối với “bất kỳ dấu hiệu hoặc sự phối hợp giữa các dấu hiệu nào mà có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của nhà kinh doanh thương mại này với hàng hóa hoặc dịch vụ của nhà kinh doanh thương mại khác”, Hiệp định TRIPs đồng thời ghi nhận trong trường hợp dấu hiệu đăng ký nhãn hiệu không tự mình có khả năng phân biệt thì việc đăng ký nhãn hiệu vẫn có thể xảy ra một khi dấu hiệu đó đã trở nên có “khả năng phân biệt có được qua sử dụng”[10]. Sau đó, trực tiếp hơn, tại Điều 15:3 Hiệp định TRIPs thừa nhận thành viên có thể quy định việc đăng ký nhãn hiệu phụ thuộc vào việc sử dụng nhãn hiệu đó cho dù điều khoản này đồng thời loại trừ thành viên không được quy định việc sử dụng nhãn hiệu trong thực tế là một điều kiện để nộp đơn đăng ký nhãn hiệu[11]. Tương tự như một số ghi nhận đặc biệt khác trong nội dung của Hiệp định TRIPs[12], khoản 1 và khoản 3 Điều 15 Hiệp định TRIPs phản ánh phần nào pháp luật và thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu ở Hoa Kỳ và một số quốc gia khác cùng thuộc hệ thống luật án lệ như Anh và Ireland[13]. Điều này có nghĩa rằng, ở vào các trường hợp tương ứng, trong khi các quốc gia khác xét đơn đăng ký sáng chế, mẫu hữu ích, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu tất cả đều dành quyền ưu tiên cho người nộp đơn sớm nhất, riêng ở Hoa Kỳ và các quốc gia nêu trên, cho đến nay chỉ các đối tượng sáng chế, mẫu hữu ích và kiểu dáng công nghiệp tuân theo nguyên tắc này, riêng đối với nhãn hiệu nguyên tắc sử dụng đầu tiên vẫn khẳng định sự khác biệt trong hệ thống bảo hộ nhãn hiệu của họ so với hầu hết các quốc gia khác.

Ở Việt Nam, tư cách thành viên của chúng ta ở cả Công ước Paris và Hiệp định TRIPs dẫn đến nhiều nội dung tương ứng được tìm thấy trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Chẳng hạn, trong khi Điều 90 và Điều 91 quy định về nguyên tắc nộp đơn đầu tiên và nguyên tắc ưu tiên áp dụng trong đăng ký sở hữu công nghiệp đối với ba đối tượng gồm sáng chế (trong đó có giải pháp hữu ích), kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu, điểm g khoản 2 Điều 74 tái hiện phần nào nội dung tự chọn thể hiện tại Điều 15:3 Hiệp định TRIPs đã được viện dẫn ở trên, vì vậy, điều khoản này quy định dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác “đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi” cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự từ trước ngày nộp đơn đăng ký nhãn hiệu hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký nhãn hiệu trong trường hợp đơn đăng ký nhãn hiệu được hưởng quyền ưu tiên bị coi là “không có khả năng phân biệt”, do đó không thể đăng ký nhãn hiệu. Không dừng lại ở đó, khoản 2 Điều 136 Luật Sở hữu trí tuệ còn đồng thời quy định “nghĩa vụ sử dụng nhãn hiệu” của chủ sở hữu nhãn hiệu, như vậy, cho phép người khác được quyền yêu cầu chấm dứt hiệu lực của một nhãn hiệu một khi nghĩa vụ này bị vi phạm bởi chủ sở hữu hoặc bởi người được chủ sở hữu cho phép sử dụng nhãn hiệu, cụ thể khi những người này đã không sử dụng nhãn hiệu “trong thời hạn năm năm liên tục trước ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực mà không có lý do chính đáng, trừ trường hợp việc sử dụng được bắt đầu hoặc bắt đầu lại trước ít nhất ba tháng tính đến ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực” theo quy định tại Điều 95 về chấm dứt hiệu lực của văn bằng bảo hộ đối tượng sở hữu công nghiệp.

Tóm lại, khác với nguyên tắc nộp đơn đầu tiên đã được pháp luật quốc tế ghi nhận có tính nhất quán trong bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích và kiểu dáng công nghiệp, theo quan hệ giữa các điều khoản của Hiệp định TRIPs dẫn nhập hóa các điều khoản tương ứng của Công ước Paris bên cạnh tư cách thành viên của hầu hết các nước trên thế giới ở Công ước và Hiệp định này, các quốc gia trên thế giới ngày nay lại hoàn toàn có thể áp dụng song song cả hai nguyên tắc nộp đơn đầu tiên và nguyên tắc sử dụng đầu tiên trong hệ thống bảo hộ nhãn hiệu của mình. Dù trong thực tiễn việc áp dụng hai nguyên tắc này đều không đơn giản, đặc biệt đối với nguyên tắc sử dụng đầu tiên[14], dễ nhận thấy rằng trong cùng một ngữ cảnh với cùng loại vụ việc, lịch sử phát triển của các hệ thống bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp quốc gia đã cho thấy rằng, việc áp dụng nguyên tắc nào trong hoạt động bảo hộ đối tượng sở hữu công nghiệp tương ứng có sự khác biệt rõ ràng tùy thuộc vào quan điểm lập pháp xuất phát từ điều kiện phát triển khác nhau giữa các nước. Lý giải sự khác biệt này hoàn toàn có thể được xem xét từ sự khác biệt rất lớn trong hệ thống bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ ở Hoa Kỳ nói riêng so với các quốc gia còn lại khác trên thế giới. Nhìn chung, việc áp dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên ở tất cả các quốc gia khác nghiêng về sự nhẹ nhàng, thuận lợi, dễ áp dụng và nhanh chóng giải quyết vấn đề có liên quan trong một vụ việc tương ứng theo tính “sẵn có và xác định” của yếu tố thời gian bởi khi tổ chức, cá nhân nộp đơn đăng ký sở hữu công nghiệp thì thủ tục “ghi sổ hay thụ lý” đều phải được tiến hành, do vậy, khó có thể nảy sinh khó khăn, tranh cãi hay bất đồng[15]. Trong khi đó, ở Hoa Kỳ, việc từng có hàng trăm năm áp dụng nguyên tắc sáng tạo đầu tiên trong đăng ký sáng chế và hiện tại việc tiếp tục áp dụng nguyên tắc sử dụng đầu tiên trong bảo hộ nhãn hiệu nhằm mục đích xác định hay chỉ ra một cách chính xác, rõ ràng ai là người đã sáng tạo hoặc sử dụng đầu tiên trong số những người độc lập cùng sáng tạo hoặc cùng sử dụng một đối tượng, do vậy, công việc này sẽ trở nên khó khăn và nan giải hơn rất nhiều. Tuy nhiên, thực tiễn đã chứng minh, việc áp dụng các nguyên tắc đó thực sự khuyến khích và thúc đẩy đầu tư sáng tạo và khai thác, sử dụng sáng tạo hơn rất nhiều.

TS. Kiều Thị Thanh

Đại học Luật Hà Nội







[1]. Nguyên văn: “In respect of Parts II, III and IV of this Agreement, Members shall comply with Articles 1 through 12, and Article 19, of the Paris Convention (1967)”.

[2]. Xem thêm: Stephen A. Merrill, Patent System for the 21st Century, National Academy Press, Washington, 2004; Stephen M. McJohn, ‘Patents: Hiding from History’, Santa Clara Computer & High Technology Law Journal, Volume 24, 2008, 961-980; B. Zorina Khan, The Democratization of Invention: Patents and Copyrights in American Economic Development, 1790-1920, Cambridge University Press, Cambridge, 2005.

[3]. Xem thêm: EH.Net - Economic History Services, An Economic History of Patent Institutions: Patents Statistics for France, Britain, the United States and Germany 1790-1960, B. Zorina Khan, chú thích số 2 đã dẫn.

[4]. Xem thêm: Gene Quinn, “First US Patent Laws were First to File, Not First to Invent”, IPWatchdog, 19 June 2011, www.ipwatchdog.com, truy cập ngày 26/10/2018.

[5]. Xem thêm: George E. Frost, The 1967 Patent Law Debate – First-To-Invent vs. First-To-File, 924.

[6]. Xem:WIPO, WIPO - Administrated Treaties - Contracting Parties - Paris Convention (Total Contracting Parties: 177), www.wipo.int, truy cập ngày 27/10/2018.

[7]. Xem thêm: Kiều Thị Thanh, Vài nét về nguyên tắc nộp đơn đầu tiên trong bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật số 3 (312) tháng 3 - 2018, 18-25; George E. Frost, The 1967 Patent Law Debate – First-To-Invent vs. First-To-File, 925-926.

[8]. Liên quan đến vấn đề này với một ví dụ cụ thể gần đây nhất về một vụ việc điển hình và hết sức phức tạp trong thực tiễn áp dụng nguyên tắc first-to-invent sáng tạo đầu tiên thay bằng nguyên tắc first-to-file nộp đơn đầu tiên theo pháp luật Hoa Kỳ, xin xem thêm: Kiều Thị Thanh, Vài nét về nguyên tắc nộp đơn đầu tiên trong bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế,chú thích số 7 vừa dẫn.

[9]. Xem: WTO,Members & Observers of the WTO - Member Information, www.wto.org, truy cập ngày 27/10/2018; WIPO - Administrated Treaties - Contracting Parties - Paris Convention, chú thích số 8 đã dẫn.

[10]. Nguyên văn Điều 15:1 Hiệp định TRIPs: “Any sign, or any combination of signs, capable of distinguishing the goods or services of one undertaking from those of other undertakings, can be capable of constituting a trademark. Such signs, in particular words including personal names, letters, numerals, figurative elements and combination of colours as well as any combination of such signs, shall be eligible for registration as trademarks. Where signs are not inherently capable of distinguishing the relevant goods or services, Members may make registrability depend on distinctiveness acquired through use. Members may require, as a condition of registration, that signs be virtually perceitable”.

[11]. Nguyên văn Điều 15:3 Hiệp định TRIPs: “Members may make registrability depend on use. However, actual use of a trademark shall not be a condition for filing an application for registration. An application shall not be refused solely on the ground that intended use has not taken place before the expiry of a period of three years from the date of application”.

[12]. Ví dụ, khi đưa ra các yêu cầu thành viên cấp bằng độc quyền sáng chế tại Điều 27:1 Hiệp định TRIPs có một chú thích trực tiếp rằng các tiêu chí “bước tiến sáng tạo” (inventive step) và “khả năng áp dụng công nghiệp” (capable of industrial application) hoàn toàn được hiểu như các điều kiện về “tính hiển nhiên” (non-obvious) và về “tính hữu ích” (useful) vốn được tìm thấy trong Đạo luật Độc quyền sáng chế Hoa Kỳ.

[13]. Xem thêm: 4 Common Law Trademark Infringement Principles You Need To Know, Nick Potts, 11 April 2017, TrademarkNow, https://www.trademarnow.com, truy cập 30/11/2018.

[14]. Về các khó khăn của việc áp dụng nguyên tắc first-to-use sử dụng đầu tiên trong hệ thống bảo hộ nhãn hiệu ở Hoa Kỳ, xin xem ví dụ, USPTO, Dates of Use:How to Satisfy a Requirement for Providing Dates of First Use in an Application Alleging Use in Commerce or an Allegation of Use, https://www.uspto.gov; Waltmire, When a First Use is Not a First Use in Commerce for a Trademark Application, Eric Waltmire, 10 December 2014, https://www.waltmire.com; Forbes, Four Reasons EMC was First to Use a Trademark and Still Lost its Case, Jess Collen, 19 April 2017, https://www.forbes.com, truy cập 27/11/2018. Đặc biệt, xin xem: Barton Beebe, Trademark Law: An Open-Source Casebook (Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License, 16 August 2017) các trang 335-358 trong đó bao gồm phán quyết của Tòa án cùng các biện giải được đưa ra để giải thích cho tính hợp lý của phán quyết đó trong vụ Aycock Engineering, Inc. v. Airflite, Inc. gắn với quá trình giải quyết vụ việc này trong các năm 2007-2009 theo đó Tòa án cần phải xác định nguyên đơn (Aycock) đã có sử dụng nhãn hiệu của mình trong thương mại một cách tương xứng hay không khi mà nhãn hiệu của Aycock đã được đăng ký tại USPTO từ những năm đầu 1970. Tương tự, khó khăn rất lớn của việc áp dụng nguyên tắc first-to-invent sáng tạo đầu tiên trong hệ thống bảo hộ sáng chế từng tồn tại và phát triển hàng trăm năm ở Hoa Kỳ phần nào có thể nhận thấy rất rõ trong một vụ việc vô cùng phức tạp thuộc lĩnh vực công nghệ sinh học (CRISPR-CAS9) đã xảy ra và tiếp tục phải được giải quyết trong thời gian rất gần đây xin xemVài nét về nguyên tắc nộp đơn đầu tiên trong bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, chú thích số 9 đã dẫn.

[15]. Xem thêm: George E. Frost, The 1967 Patent Law Debate – First-To-Invent vs. First-To-File, 925-926.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: