Thứ tư 18/03/2026 10:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chế định loại trừ trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự

Loại trừ trách nhiệm hình sự là một chế định quan trọng trong Bộ luật Hình sự Việt Nam. Chế định này được đánh dấu ra đời bằng những giải thích thống nhất có tính chất chỉ đạo của Tòa án nhân dân tối cao trong thực tiễn xét xử các vụ án hình sự vào năm 1983. Trong lần pháp điển hóa pháp luật hình sự đầu tiên (Bộ luật Hình sự năm 1985) đã có 04 trường hợp được coi là loại trừ trách nhiệm hình sự.

Các trường hợp này tiếp tục được ghi nhận tại Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Đến Bộ luật Hình sự năm 2015, chế định này đã hoàn thiện hơn, được ghi nhận trong một chương riêng gồm 07 điều. Bài viết này sẽ đưa ra cái nhìn tổng thể về loại trừ trách nhiệm hình sự, chế định loại trừ trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự Việt Nam. Đặc biệt là một số vấn đề như: Thế nào là loại trừ trách nhiệm hình sự; đặc điểm cơ bản; ý nghĩa khoa học, thực tiễn của việc nghiên cứu; những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự được ghi nhận trong Bộ luật Hình sự năm 2015; một số điểm tiến bộ và kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện chế định loại trừ trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự năm 2015.

1. Khái quát chung chế định loại trừ trách nhiệm hình sự

Luật hình sự các nước đều quy định về loại trừ trách nhiệm hình sự (TNHS), ở mỗi quốc gia, sự giới hạn hành vi, mức độ các trường hợp này không giống nhau. Pháp luật hình sự Việt Nam nói riêng cần phải tiếp tục được làm rõ và khẳng định về mặt lập pháp cho vấn đề này.

Loại trừ TNHS là những trường hợp được quy định trong các điều của Bộ luật Hình sự về việc gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội, khi có đủ các căn cứ do pháp luật hình sự quy định, việc gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự, nhưng không bị coi là tội phạm và người thực hiện hành vi nguy hiểm đó không phải chịu TNHS. Những trường hợp loại trừ TNHS có các đặc điểm cơ bản như: (i) Hành vi gây thiệt hại bị luật hình sự cấm và được quy định trong các điều luật cụ thể; (ii) Hành vi nguy hiểm, gây thiệt hại cho xã hội nhưng được coi là hợp pháp về mặt pháp lý, do vậy, không bị coi là tội phạm, không bị truy cứu TNHS; hành vi bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác phải trong giới hạn của luật hình sự quy định; (iii) Những trường hợp loại trừ TNHS được thực hiện trong trường hợp cụ thể không bị coi là tội phạm phải có đủ các căn cứ do Bộ luật Hình sự quy định. Hành vi đó phải đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm mà pháp luật hình sự quy định như: Tính trái pháp luật; tính chất lỗi; do người có năng lực TNHS thực hiện; hành vi có tính chất nguy hiểm cho xã hội; đủ tuổi chịu TNHS.

Việc nghiên cứu những trường hợp loại trừ TNHS có ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn, cụ thể: Phát huy tinh thần đấu tranh chống lại các hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự cấm; nâng cao ý thức pháp luật của người dân trong việc bảo vệ công bằng, dân chủ văn minh; hoàn thiện chế định những trường hợp loại trừ TNHS của Bộ luật Hình sự năm 2015 là bước đánh dấu cho việc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm trong công tác cải cách tư pháp đến năm 2020. Bên cạnh đó, làm rõ được các khái niệm, bản chất pháp lý phát sinh trong thực tiễn còn nhiều tranh luận, khắc phục việc Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định về chế định này chưa phù hợp về logic do còn nằm rải rác ở các điều, các chương riêng biệt, chưa quy định đầy đủ những trường hợp phát sinh trong thực tiễn đời sống xã hội. Đồng thời, nhằm bảo đảm nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền, giúp cho Tòa án thuận tiện khi thi hành Bộ luật Hình sự, tránh xảy ra oan, sai cho người vô tội như báo chí đã đưa ra trong thời gian gần đây.

2. Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự được ghi nhận trong Bộ luật Hình sự Việt Nam

2.1. Sự kiện bất ngờ

Điều 20 Bộ luật Hình sự năm 2015 ghi nhận: Sự kiện bất ngờ là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi do mình thực hiện, cũng như hậu quả của hành vi do mình gây ra, người thực hiện hành vi trong trường hợp này là người không có lỗi (thiếu yếu tố lỗi, thiếu dấu hiệu của mặt chủ quan của tội phạm), do vậy, hành vi của họ không cấu thành tội phạm, không bị truy cứu TNHS về hành vi nguy hiểm đó.

Hành vi gây thiệt hại do sự kiện bất ngờ là hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng trong hoàn cảnh cụ thể, người rơi vào trường hợp này cũng không thể thấy trước được hành vi của mình gây ra hậu quả nguy hiểm. Khác với trường hợp gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội trong trường hợp lỗi vô ý, ở đây do điều kiện khách quan mang lại nên không nhìn thấy trước hậu quả, không buộc phải thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội có thể xảy ra. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không bị coi là có lỗi và không phải chịu TNHS của hành vi gây thiệt hại do mình gây ra.

2.2. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự

Điều 21 Bộ luật Hình sự năm 2015 ghi nhận: Trường hợp không có năng lực TNHS là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong trạng thái do bệnh lý tâm thần hoặc loại bệnh lý khác nên đã hoàn toàn không thể nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi do mình thực hiện, cũng như tính chất pháp lý do hành vi của mình gây ra, không điều khiển được hành vi của mình (người thực hiện hành vi trong trường hợp thiếu dấu hiệu của mặt chủ quan của tội phạm), do vậy, hành vi của họ không cấu thành tội phạm.

Hành vi gây thiệt hại do người không có năng lực TNHS thực hiện là hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhưng họ không có khả năng nhận thức, điều chỉnh hành vi, không biết được tính chất, mức độ xảy ra hậu quả nguy hiểm. Trong trường hợp này, pháp luật ghi nhận họ không có lỗi và không phải chịu TNHS.

2.3. Phòng vệ chính đáng

Điều 22 Bộ luật Hình sự năm 2015 ghi nhận: Phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả của người phòng vệ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác đang bị xâm hại. Hành vi phòng vệ với hành vi xâm hại phải tương xứng với nhau, do đó không phải là tội phạm, không bị truy cứu TNHS. Người thực hiện hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu TNHS theo quy định của pháp luật.

Về nguyên tắc, hành vi phòng vệ chính đáng phải tương xứng với hành vi xâm hại, nếu vượt quá giới hạn thì phải chịu TNHS đối với hành vi vượt quá đó. Người thực hiện hành vi phòng vệ chính đáng thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại, không đặt ra trường hợp lỗi vô ý trong trường hợp phòng vệ chính đáng. Hành vi phòng vệ được coi là hợp pháp khi việc gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự nhằm bảo vệ các lợi ích hợp pháp của người phòng vệ hoặc của người khác để tránh khỏi hành vi xâm hại; tính chất và mức độ gây thiệt hại của hành vi phòng vệ chính đáng tương xứng với hành vi xâm hại, không vượt quá giới hạn.

2.4. Tình thế cấp thiết

Điều 23 Bộ luật Hình sự năm 2015 ghi nhận: Tình thế cấp thiết là hành vi gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự của người nào đó nhằm mục đích tránh việc gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của mình, của người khác, hoặc của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức nếu sự nguy hiểm đó không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết có thể là hành vi nguy hiểm cho xã hội hoặc không dựa vào mức độ tương ứng của thiệt hại cần ngăn ngừa, được thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý của chủ thể. Việc gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không bị pháp luật hình sự coi là tội phạm vì mục đích ngăn ngừa thiệt hại lớn hơn xảy ra nên không phải chịu TNHS.

2.5. Hành vi gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội

Lần đầu tiên pháp luật hình sự nước ta ghi nhận về hành vi gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội là trường hợp được loại trừ TNHS tại Điều 24 Bộ luật Hình sự năm 2015. Việc ghi nhận này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn xét xử, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật hình sự.

Việc bắt người phạm tội với mục đích bắt là để chuyển giao các đối tượng này cho cơ quan có thẩm quyền xử lý, đồng thời để người đó không tiếp tục thực hiện tội phạm hoặc bỏ trốn sự truy nã của cơ quan tiến hành tố tụng. Việc thực hiện hành vi gây thiệt hại là biện pháp bất đắc dĩ, cuối cùng, duy nhất, không còn cách nào khác ngoài việc dùng vũ lực gây thiệt hại cho người bị bắt giữ. Nếu không tiến hành ngay tức khắc, người đó sẽ chống trả, bỏ trốn hoặc tiếp tục gây thiệt hại nghiêm trọng. Người thực hiện hành vi trong khi bắt người phạm tội với trạng thái tâm lý là lỗi cố ý, nhằm mục đích ngăn ngừa việc tiếp tục phạm tội hoặc tẩu thoát. Việc thực hiện hành vi bắt người phải là hành vi hợp pháp, có căn cứ pháp lý như: Người bị bắt giữ đang thực hiện hành vi phạm tội quả tang, đang trốn tránh sự truy nã của cơ quan điều tra, có dấu hiệu thực tế chống trả… và người bắt giữ đã tiến hành các biện pháp khác, nhưng không còn cách nào khác là dùng vũ lực gây thiệt hại cho người bị bắt.

2.6. Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ

Lần đầu tiên pháp luật hình sự nước ta ghi nhận về hành vi gây thiệt hại do rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ là tại Điều 25 Bộ luật Hình sự năm 2015: Người gây ra thiệt hại trong việc thực hiện hành vi khi thực hiện việc nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa, cân nhắc cẩn thận, so sánh ý nghĩa, mục đích đặt ra với hậu quả rủi ro, không mong muốn xảy ra, hậu quả xảy ra phải nhỏ hơn, không đáng kể với mục đích nghiên cứu đạt được, nghiên cứu, thử nghiệm đó phải đem lại lợi ích lớn cho xã hội, cộng đồng thì không phải là tội phạm. Người nào không tuân thủ các quy trình, biện pháp phòng ngừa, gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự thì phải chịu TNHS.

Hành vi rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ phải nhằm đạt được mục đích duy nhất là đem lại lợi ích cho xã hội và mục đích này đã không thể đạt được, gây ra sự rủi ro với chính việc nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Chủ thể đã cố gắng hạn chế thấp nhất những thiệt hại hoặc rủi ro mà có thể lường thấy được, đã tiến hành các biện pháp cần thiết nhất để ngăn ngừa thiệt hại có thể xảy ra và thiệt hại, rủi ro xảy ra nằm ngoài mong muốn của chủ thể.

2.7. Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên

Là chế định mới thể hiện nguyên tắc nhân đạo trong pháp luật hình sự Việt Nam, được ghi nhận tại Điều 26 Bộ luật Hình sự năm 2015: Hành vi gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự có dấu hiệu nào đó bị pháp luật hình sự cấm trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó, thì không phải chịu TNHS. Trong trường hợp này người ra mệnh lệnh phải chịu TNHS.

Hành vi gây thiệt hại trong việc chấp hành chỉ thị là hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật hình sự cấm, do chủ thể thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên gây ra. Người thi hành mệnh lệnh gây thiệt hại với lỗi cố ý, do bắt buộc phải thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên. Người này đã làm hết trách nhiệm, quy trình báo cáo, nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó. Đây là mối quan hệ ràng buộc của người ra chỉ thị với người thực hành chỉ thị. Người thi hành mệnh lệnh chỉ thị của cấp trên không phải chịu TNHS, mà người ra chỉ thị, mệnh lệnh sẽ phải chịu TNHS về việc ra mệnh lệnh.

3. Một số nhận xét và kiến nghị

Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có nhiều điểm tiến bộ hơn so với Bộ luật Hình sự năm 1999 khi pháp điển hóa lần này, các nhà làm luật đã tách những trường hợp loại trừ TNHS thành một chương riêng, trong đó thêm 03 trường hợp mới được ghi nhận. Điều này phù hợp với thực tiễn xét xử đặt ra, đồng thời khẳng định được nguyên tắc tiến bộ của pháp luật hình sự trong xu thế hội nhập tư pháp hình sự với các nước trong khu vực và trên thế giới hiện nay.

Mặc dù Bộ luật Hình sự năm 2015 có nhiều điểm mới, tuy nhiên, việc bổ sung này chưa đầy đủ, cần tiếp tục cập nhật một số các trường hợp khác trong thời gian tới như: (i) Đương nhiên phòng vệ chính đáng, được hiểu là “chống trả lại người đang dùng vũ khí để chống trả lại việc bắt giữ hoặc để tiếp tục phạm tội; chống trả lại người đang thực hiện hành vi giết người, hiếp dâm, cướp tài sản, chống phá trại giam, các khu vực an ninh quốc gia, quốc phòng; chống trả lại hành vi của người đang có hành vi tấn công tại chỗ ở của người khác vào ban đêm”; (ii) Tình trạng bất khả kháng; (iii) Bị ép buộc sử dụng thuốc, chất kích thích gây nghiện; (iv) Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tột ít nghiêm trọng…

Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng cần có những giải thích cụ thể với từng trường hợp loại trừ TNHS để thuận tiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng khi vận dụng các quy định này, tránh xảy ra nhiều cách hiểu khác nhau, áp dụng không thống nhất. Các căn cứ pháp lý của loại trừ TNHS mới chỉ mang tính chất định tính, chưa định lượng rõ ràng, cụ thể. Như vậy, việc vận dụng khi thi hành Bộ luật Hình sự trong hoạt động xét xử sẽ gặp nhiều khó khăn cho việc xác định các mức độ của các trường hợp loại trừ TNHS.

ThS. Bùi Thị Chinh Phương
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: