Thứ bảy 14/03/2026 14:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chế độ lao động, học nghề của phạm nhân theo pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả làm rõ thực trạng pháp luật về chế độ lao động, học nghề của phạm nhân ở Việt Nam, từ đó, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm chế độ lao động, học nghề của phạm nhân trên thực tế.

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả làm rõ thực trạng pháp luật về chế độ lao động, học nghề của phạm nhân ở Việt Nam, từ đó, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm chế độ lao động, học nghề của phạm nhân trên thực tế.

Abstract: In this article, the author clarifies the legal status of labor and apprenticeship regime of prisoners in Vietnam, thereby making recommendations to improve the efficiency of ensuring the above-mentioned prisoners' labor and apprenticeship in the practice.

Luật Thi hành án hình sự năm 2019 có hiệu lực từ ngày 01/01/2020, đã đánh dấu bước phát triển của pháp luật Việt Nam trong việc ghi nhận và bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án hình sự. Pháp luật hiện hành quy định, trong quá trình thi hành án phạt tù, phạm nhân được hưởng các quyền công dân, quyền con người cơ bản như quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn thân thể, danh dự, nhân phẩm, quyền được hưởng các tiêu chuẩn sống thích đáng, quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền khiếu nại, tố cáo..., trong đó, quyền lao động, học nghề và thụ hưởng kết quả vừa đề cao giá trị lao động đối với mọi chủ thể, vừa có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện chế độ cải tạo phạm nhân. Đồng thời, việc ghi nhận quyền lao động, học nghề của phạm nhân đã thể hiện sự nỗ lực của Việt Nam trong việc nội luật hóa các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người vào hệ thống pháp luật quốc gia, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để quyền con người được thực hiện và bảo vệ một cách toàn diện.

1. Các quy định về quyền lao động, học nghề của phạm nhân trong quá trình thi hành án hình sự

Lao động của phạm nhân trong trại giam không chỉ là nghĩa vụ, mà còn là quyền lợi. Điều này đã được ghi nhận tại Điều 6 Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 với quy định về quyền được làm việc của tất cả mọi người và Nhà nước có trách nhiệm thi hành các biện pháp thích hợp để đảm bảo quyền này. Đồng thời, xuất phát từ nhận thức lao động không phải là hoạt động có mục đích trừng phạt phạm nhân, Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử với tù nhân 1955 (viết tắt là SMR) cũng xác định lao động là một quyền của tù nhân thay vì nghĩa vụ bắt buộc của chương trình cải tạo trong thời gian phạt tù (khoản 1, khoản 3 Điều 71 SMR). Mục đích của lao động không phải mang tính khổ sai mà là hoạt động giúp cho phạm nhân được giáo dục, cải tạo, nâng cao tay nghề và thể lực. Phạm nhân được bố trí công việc phù hợp với độ tuổi, sức khỏe và điều kiện của cơ sở giam giữ. Đặc biệt, thành quả lao động của phạm nhân được dùng để đầu tư vào chất lượng bữa ăn hàng ngày hoặc dùng làm phần thưởng khích lệ phạm nhân có thành tích tốt trong giáo dục cải tạo và tạo lập quỹ hòa nhập cộng đồng để chi hỗ trợ cho các phạm nhân đã chấp hành xong án phạt tù.

Nhằm tương thích với các tiêu chuẩn quốc tế nói trên, pháp luật Việt Nam hiện hành cũng đã ghi nhận quyền được lao động, học nghề của phạm nhân tại Luật Thi hành án hình sự năm 2019[1], theo đó, phạm nhân được tổ chức lao động phù hợp với độ tuổi, sức khỏe, giới tính, mức án, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của phạm nhân. Ngoài ra, còn tính đến các điều kiện khác về tài nguyên, lao động, cũng như điều kiện sẵn có của cơ sở giam giữ... Để đảm bảo sự quản lý và phù hợp của việc lao động, pháp luật Việt Nam còn có quy định yêu cầu kế hoạch tổ chức lao động hàng năm được lập và phê duyệt bởi cơ quan quản lý thi hành án trước khi triển khai trên thực tế. Hoạt động lao động của phạm nhân phải đặt dưới sự giám sát quản lý của trại giam, trại tạm giam[2]. Bên cạnh đó, thời gian lao động của phạm nhân vẫn phải tuân thủ theo quy định của pháp luật lao động như không quá 8 tiếng một ngày và 5 ngày làm việc trong một tuần, được nghỉ các ngày chủ nhật, lễ tết. Tùy trường hợp đột xuất có thể tăng ca nhưng không được vượt quá giờ làm trong ngày theo quy định pháp luật. Trong quá trình lao động, phạm nhân được áp dụng các biện pháp đảm bảo vệ sinh và an toàn lao động[3]. Ngoài ra, pháp luật của Việt Nam cũng chú ý đến chế độ lao động dành riêng cho các đối tượng phạm nhân đặc thù như phạm nhân chưa thành niên, phạm nhân nữ, phạm nhân nữ có thai hoặc có con dưới 36 tháng tuổi đang ở cùng mẹ trong trại giam. Những đối tượng này được bố trí công việc phù hợp với giới tính, lứa tuổi và sức khỏe; không sử dụng các phạm nhân này làm các công việc nặng nhọc, độc hại có trong danh mục cấm sử dụng lao động nữ, lao động dưới 18 tuổi. Các phạm nhân bị bệnh hoặc có nhược điểm về thể chất và tâm thần, tùy vào mức độ và tính chất của bệnh và trên cơ sở chỉ định của cơ sở y tế được miễn hoặc giảm thời gian lao động[4]. Một điểm mới về quyền lao động của phạm nhân là pháp luật đã bổ sung các quy định về sử dụng kết quả lao động của phạm nhân. Theo đó, kết quả lao động của phạm nhân sau khi trừ đi các chi phí hợp lý được sử dụng để bổ sung mức ăn cho phạm nhân, bổ sung vào quỹ phúc lợi, khen thưởng của trại giam hoặc lập quỹ hòa nhập cộng đồng. Đặc biệt, các phạm nhân trực tiếp tham gia lao động sản xuất vẫn được được chi trả một phần công lao động từ kết quả lao động[5].

Có thể thấy rằng, với các quy định mới về quyền lao động, Luật Thi hành án hình sự năm 2019 đã thể hiện tính nhân văn sâu sắc trong việc đảm bảo các quyền con người cơ bản cho phạm nhân. Điều này, vừa tạo điều kiện cho phạm nhân sản xuất ra của cải vật chất, vừa cho họ thụ hưởng trên chính sản phẩm mình làm ra, trong đó, các công việc được phân công không mang tính khổ sai hay ép buộc, khẳng định Việt Nam đang có nhiều nỗ lực trong việc ghi nhận các quyền con người nói chung và quyền lao động của phạm nhân nói riêng, tạo cơ sở pháp lý để các quyền đó được thực hiện trên thực tế.

2. Thực hiện chế độ lao động, học nghề của phạm nhân trong các trại giam ở Việt Nam hiện nay

Theo Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự năm 2017, căn cứ theo mức án, chung thân có đến 5.718 phạm nhân (chiếm 4,29%) tăng hơn so với năm 2016 là 275 phạm nhân; 16.475 phạm nhân có mức án trên 15 năm đến 30 năm (chiếm 12,31%), 35.636 phạm nhân có mức án trên 3 năm đến 7 năm (chiếm 26.64%), 33.468 phạm nhân có mức án từ 03 năm trở xuống (chiếm 25,02%). Các phạm nhân vào trại giam có đến 50.803 phạm nhân có tiền án (35.128 phạm nhân có 01 tiền án chiếm 26,25%; 15.675 phạm nhân có tới 02 tiền án chiếm tỉ lệ 11.59%)[6]. Không chỉ biến động về số lượng mà thành phần phạm nhân cũng có sự đa dạng, phức tạp về hành vi phạm tội cũng như tính chất, mức độ nguy hiểm, trong đó, yếu tố nhân thân của phạm nhân tương đối phức tạp, nhiều phạm nhân tỏ ra bất cần, manh động và liều lĩnh, đôi khi có những biểu hiện chống đối, không chịu tuân theo sự giáo dục của cán bộ, thường xuyên vi phạm nội quy, gây rối trật tự, tấn công cán bộ, hay tìm mọi cách để bỏ trốn. Về cơ cấu nghề nghiệp của phạm nhân trước khi đi chấp hành án, theo thống kê năm 2017, trong tổng số 172.856 phạm nhân đang chấp hành án có đến 69.723 phạm nhân không có nghề nghiệp (chiếm tỉ lệ 40,33%); 30.862 phạm nhân là nông dân (chiếm tỷ lệ 17,85%); công nhân có đến 4.660 phạm nhân (chiếm tỷ lệ 2,69%); 1.093 phạm nhân là cán bộ, công chức (chiếm tỷ lệ 0,63%); 66.518 phạm nhân làm các nghề nghiệp khác chủ yếu là lao động tự do, dịch vụ (chiếm 38,48%)[7].

Để bảo đảm quyền lao động, học nghề của phạm nhân, các trại giam đã có những hoạt động thiết thực. Phạm nhân được tổ chức lao động, học nghề phù hợp với sức khỏe, lứa tuổi, giới tính, mức án... Kết quả lao động của phạm nhân được sử dụng đúng với mục đích theo quy định pháp luật. Ngoài ra, do phụ thuộc vào điều kiện địa lý, cơ sở vật chất nên tổ chức lao động ở các trại giam chủ yếu là lao động phổ thông với các ngành nghề như chăn nuôi, trồng trọt, mộc, cơ khí, xây dựng… Hiện nay, một số cơ sở đã mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu, đổi mới đa dạng hóa theo hướng từ nông, lâm nghiệp thuần túy giản đơn sang phát triển cây công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ để phù hợp hơn với nhu cầu sử dụng nghề nghiệp đó sau khi tái hòa nhập cộng đồng. Với những chính sách linh hoạt, nâng cao về chất lượng và đổi mới về phương pháp, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và tình hình mới, công tác lao động, dạy nghề cho phạm nhân đã đạt nhiều kết quả tích cực. Cụ thể, đến năm 2016, cả nước có 46 trại giam thành lập Trung tâm dạy nghề cho phạm nhân; tổ chức hướng dẫn, đào tạo nghề, truyền nghề cho 261.840 lượt phạm nhân với các nghề may mặc, xây dựng, mộc, cơ khí, thêu ren, thủ công mỹ nghệ, trồng trọt, chăn nuôi, chế biến thủy sản, khâu bóng chày, khai thác mủ cao su, hàn mạch điện tử... và đã có 2.328 phạm nhân được cấp chứng chỉ nghề[8]. Công tác lao động, hướng nghiệp, dạy nghề cho phạm nhân ngày càng được quan tâm đã tạo điều kiện cho các phạm nhân có tay nghề cao sau khi trở về địa phương có thể phát huy tìm kiếm cơ hội nghề nghiệp, tạo thu nhập chính đáng, nuôi sống bản thân. Đồng thời, triển khai tổ chức lao động, dạy nghề cũng góp phần quan trọng vào hoạt động quản lý, giáo dục và cải tạo phạm nhân, giúp phạm nhân hiểu được giá trị của lao động, của cải vật chất do mình làm ra.



Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, chất lượng lao động, học nghề của phạm nhân trên thực tế còn gặp nhiều khó khăn, tồn tại. Theo thống kê của Bộ Công an năm 2017, về cơ cấu trình độ đào tạo nghề, chuyên môn, trong số 44.944 phạm nhân được khảo sát có tới 43.783 phạm nhân chưa từng được đào tạo nghề trước khi phạm tội (chiếm 97,41%), có 725 phạm nhân đã qua đào tạo trung cấp nghề (chiếm 1,63%); có 229 phạm nhân đã được đào tạo cao đẳng nghề (chiếm 0,50%); có 189 phạm nhân đã tốt nghiệp đại học (chiếm 0,42%) và có 18 phạm nhân đã được đào tạo sau đại học (chiếm tới 0,04%)[9]. Như vậy, tỷ lệ khá lớn các phạm nhân trước khi chấp hành án chưa được đào tạo nghề hoặc chưa tham gia vào quan hệ lao động đã gây ra những khó khăn nhất định cho công tác tổ chức lao động và dạy nghề tại các trại giam. Bên cạnh đó, một số trại giam vẫn diễn ra tình trạng phân công công việc không phù hợp với lứa tuổi, sức khỏe, chưa bảo đảm thời gian nghỉ ngơi, chế độ với phạm nhân làm thêm giờ, làm việc trong môi trường nặng nhọc, độc hại chưa đúng với quy định của pháp luật lao động. Ngoài ra, đa số các trại giam có diện tích chật hẹp, nên không có nhiều địa điểm để triển khai sản xuất cũng như phát triển các mô hình hướng nghiệp mới. Đội ngũ cán bộ có trình độ tay nghề cao vẫn còn thiếu và yếu, nhiều mô hình triển khai theo điều kiện vật chất hạn chế không phù hợp với nhu cầu lao động xã hội đã dẫn đến tình trạng nhiều phạm nhân sau khi ra tù không thể sử dụng ngành nghề đã đào tạo để tìm kiếm cơ hội việc làm, ổn định cuộc sống.

Để tháo gỡ những khó khăn đó, thời gian qua, Bộ Công an thành lập các trung tâm dạy nghề và liên kết với các trường nghề bên ngoài để hỗ trợ đào tạo nâng cao tay nghề, cấp chứng chỉ nghề cho phạm nhân. Đồng thời, tổ chức thí điểm cho phạm nhân lao động ngoài trại giam và các điểm lao động đều được doanh nghiệp xây dựng theo mẫu thiết kế của trại giam nhưng nằm trong khuôn viên của doanh nghiệp, cách biệt khu dân cư và có tường rào bao quanh. Hoạt động này đã giải quyết được vướng mắc lớn nhất trong việc đa dang hóa ngành nghề và tạo cho phạm nhân có nhiều cơ hội học nghề và nâng cao trình độ tay nghề. Tính đến năm 2018, Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng có 23 khu sản xuất trực thuộc các trại giam, 154 điểm lao động dạy nghề ngoài khu vực trại giam[10]. Hoạt động sản xuất của các cơ sở này đạt được những kết quả đáng ghi nhận, đem lại hiệu quả kinh tế, tạo cơ hội học nghề giúp phạm nhân sau khi mãn hạn tù có nhiều cơ hội sử dụng nghề đã học được để xây dựng, ổn định cuộc sống. Điều này khẳng định rằng, việc đưa phạm nhân ra ngoài lao động là một trong những biện pháp giáo dục, cải tạo phạm nhân có hiệu quả. Tuy nhiên, trong quá trình thảo luận biểu quyết thông qua Luật Thi hành án hình sự năm 2019, có nhiều quan điểm khác nhau xoay quanh việc cho phạm nhân được lao động ngoài khu vực trại giam. Theo đó, đối với các khu lao động, dạy nghề do trại giam tự mình hoặc hợp tác với các tổ chức và các khu này phải thuộc phạm vi quản lý của trại giam thì được khuyến khích thực hiện. Đối với các khu sản xuất ngoài trại giam do chính các doanh ngiệp bỏ vốn đầu tư, trực tiếp tổ chức sản xuất và quản lý thì chưa được đồng ý và đưa quy định này vào luật. Chính vì thế, việc xây dựng cơ chế pháp lý cho việc phạm nhân lao động ngoài trại giam vẫn đang là một vấn đề còn bỏ ngỏ và chưa đưa ra được quan điểm thống nhất.

3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả lao động, dạy nghề cho phạm nhân trong các trại giam ở Việt Nam

Có thể nói rằng, pháp luật thi hành án hình sự hiện hành đã có những quy định mới nhằm tăng cường quyền con người trong thi hành hình phạt tù nói chung và quyền lao động, học nghề của phạm nhân chấp hành hình phạt tù nói riêng. Tuy nhiên, để bảo đảm thực hiện quyền lao động, học nghề của phạm nhân trên thực tế cũng như tăng cường hiệu quả thực hiện chế độ lao động, dạy nghề cho phạm nhân các cơ quan, tổ chức có liên quan cần phải làm tốt một số nội dung sau:

Thứ nhất, cần cải cách các chương trình giáo dục, dạy nghề cho phạm nhân ở các cơ sở giam giữ bởi chất lượng giáo dục, cải tạo phạm nhân còn thấp, chương trình giáo dục còn nhiều bất cập. Cần đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục cảm hóa tạo được sự chủ động, giúp phạm nhân tuân thủ, chấp hành tốt quá trình cải tạo, sớm hoàn lương, tái hòa nhập cộng đồng.

Thứ hai, tăng cường xây dựng các chương trình dạy nghề thiết thực và hữu ích cho phạm nhân. Thực tiễn cho thấy, hiện nay các phạm nhân trong trại giam chủ yếu lao động nông nghiệp, lâm nghiệp và một số ngành nghề thủ công đơn giản chưa đáp ứng nhu cầu lao động xã hội. Chính vì thế, khi ra tù, phần lớn phạm nhân không áp dụng được ngành nghề mình được đào tạo trong trại giam để lao động và tìm kiếm việc làm gây ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tái hòa nhập cộng đồng sau này. Vì thế, mục đích của hoạt động dạy nghề thay vì phụ thuộc vào điều kiện của cơ sở giam giữ thì nên hướng đến việc tạo điều kiện cho phạm nhân học nghề có thể vận dụng để lao động và tìm kiếm việc làm. Cần tích cực, chủ động tạo môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn cho phạm nhân, tập trung xây dựng các mô hình dạy nghề phù hợp với yêu cầu thực tiễn xã hội, tạo điều kiện cho phạm nhân tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành án xong.

Thứ ba, trong tương lai, tác giả kiến nghị việc tiếp tục xem xét cũng như xây dựng đầy đủ cơ sở pháp lý về việc liên kết giữa trại giam với các doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất để đưa phạm nhân lao động ở bên ngoài. Bởi vì thực tiễn cũng đã chứng minh đây là một biện pháp giáo dục, cải tạo phạm nhân có hiệu quả, giúp các phạm nhân sau khi mãn hạn tù sớm trở về có thể kiếm được việc làm và tái hòa nhập cộng đồng.

ThS. Nguyễn Thị Thanh Trâm

Khoa Luật, Đại học Vinh



[1]. Điều 32, Điều 33, Điều 34.

[2]. Điều 33 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

[3]. Khoản 1 Điều 32 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

[4]. Điều 32, Điều 74 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

[5]. Điều 34 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

[6]. Vụ Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự, Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự năm 2017.

[7]. Vụ Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự, Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự năm 2017.

[8]. Bộ Công an, Báo cáo tổng kết 5 năm thi hành Luật Thi hành án hình sự trong Công an nhân dân (2011-2016), tr. 8 - 18.

[9]. Ngô Văn Trù (2017), Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở Việt Nam, Sách chuyên khảo, Nxb. Công an nhân dân, tr. 106 - 109.

[10]. Phạm nhân lao động sản xuất ngoài trại giam: Giúp phạm nhân hoàn lương, tái hòa nhập cộng đồng, Cổng thông tin điện tử Bộ Công an, http://www.bocongan.gov.vn/tin-tuc-su-kien/pham-nhan-lao-dong-san-xuat-ngoai-trai-giam-giup-pham-nhan-hoan-luong-tai-hoa-nhap-cong-dong-d17-t25555.html.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: