Chủ nhật 09/08/2026 20:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chế độ lao động, học nghề của phạm nhân theo pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả làm rõ thực trạng pháp luật về chế độ lao động, học nghề của phạm nhân ở Việt Nam, từ đó, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm chế độ lao động, học nghề của phạm nhân trên thực tế.

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả làm rõ thực trạng pháp luật về chế độ lao động, học nghề của phạm nhân ở Việt Nam, từ đó, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm chế độ lao động, học nghề của phạm nhân trên thực tế.

Abstract: In this article, the author clarifies the legal status of labor and apprenticeship regime of prisoners in Vietnam, thereby making recommendations to improve the efficiency of ensuring the above-mentioned prisoners' labor and apprenticeship in the practice.

Luật Thi hành án hình sự năm 2019 có hiệu lực từ ngày 01/01/2020, đã đánh dấu bước phát triển của pháp luật Việt Nam trong việc ghi nhận và bảo đảm quyền con người trong hoạt động thi hành án hình sự. Pháp luật hiện hành quy định, trong quá trình thi hành án phạt tù, phạm nhân được hưởng các quyền công dân, quyền con người cơ bản như quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn thân thể, danh dự, nhân phẩm, quyền được hưởng các tiêu chuẩn sống thích đáng, quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền khiếu nại, tố cáo..., trong đó, quyền lao động, học nghề và thụ hưởng kết quả vừa đề cao giá trị lao động đối với mọi chủ thể, vừa có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện chế độ cải tạo phạm nhân. Đồng thời, việc ghi nhận quyền lao động, học nghề của phạm nhân đã thể hiện sự nỗ lực của Việt Nam trong việc nội luật hóa các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người vào hệ thống pháp luật quốc gia, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để quyền con người được thực hiện và bảo vệ một cách toàn diện.

1. Các quy định về quyền lao động, học nghề của phạm nhân trong quá trình thi hành án hình sự

Lao động của phạm nhân trong trại giam không chỉ là nghĩa vụ, mà còn là quyền lợi. Điều này đã được ghi nhận tại Điều 6 Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 với quy định về quyền được làm việc của tất cả mọi người và Nhà nước có trách nhiệm thi hành các biện pháp thích hợp để đảm bảo quyền này. Đồng thời, xuất phát từ nhận thức lao động không phải là hoạt động có mục đích trừng phạt phạm nhân, Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử với tù nhân 1955 (viết tắt là SMR) cũng xác định lao động là một quyền của tù nhân thay vì nghĩa vụ bắt buộc của chương trình cải tạo trong thời gian phạt tù (khoản 1, khoản 3 Điều 71 SMR). Mục đích của lao động không phải mang tính khổ sai mà là hoạt động giúp cho phạm nhân được giáo dục, cải tạo, nâng cao tay nghề và thể lực. Phạm nhân được bố trí công việc phù hợp với độ tuổi, sức khỏe và điều kiện của cơ sở giam giữ. Đặc biệt, thành quả lao động của phạm nhân được dùng để đầu tư vào chất lượng bữa ăn hàng ngày hoặc dùng làm phần thưởng khích lệ phạm nhân có thành tích tốt trong giáo dục cải tạo và tạo lập quỹ hòa nhập cộng đồng để chi hỗ trợ cho các phạm nhân đã chấp hành xong án phạt tù.

Nhằm tương thích với các tiêu chuẩn quốc tế nói trên, pháp luật Việt Nam hiện hành cũng đã ghi nhận quyền được lao động, học nghề của phạm nhân tại Luật Thi hành án hình sự năm 2019[1], theo đó, phạm nhân được tổ chức lao động phù hợp với độ tuổi, sức khỏe, giới tính, mức án, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của phạm nhân. Ngoài ra, còn tính đến các điều kiện khác về tài nguyên, lao động, cũng như điều kiện sẵn có của cơ sở giam giữ... Để đảm bảo sự quản lý và phù hợp của việc lao động, pháp luật Việt Nam còn có quy định yêu cầu kế hoạch tổ chức lao động hàng năm được lập và phê duyệt bởi cơ quan quản lý thi hành án trước khi triển khai trên thực tế. Hoạt động lao động của phạm nhân phải đặt dưới sự giám sát quản lý của trại giam, trại tạm giam[2]. Bên cạnh đó, thời gian lao động của phạm nhân vẫn phải tuân thủ theo quy định của pháp luật lao động như không quá 8 tiếng một ngày và 5 ngày làm việc trong một tuần, được nghỉ các ngày chủ nhật, lễ tết. Tùy trường hợp đột xuất có thể tăng ca nhưng không được vượt quá giờ làm trong ngày theo quy định pháp luật. Trong quá trình lao động, phạm nhân được áp dụng các biện pháp đảm bảo vệ sinh và an toàn lao động[3]. Ngoài ra, pháp luật của Việt Nam cũng chú ý đến chế độ lao động dành riêng cho các đối tượng phạm nhân đặc thù như phạm nhân chưa thành niên, phạm nhân nữ, phạm nhân nữ có thai hoặc có con dưới 36 tháng tuổi đang ở cùng mẹ trong trại giam. Những đối tượng này được bố trí công việc phù hợp với giới tính, lứa tuổi và sức khỏe; không sử dụng các phạm nhân này làm các công việc nặng nhọc, độc hại có trong danh mục cấm sử dụng lao động nữ, lao động dưới 18 tuổi. Các phạm nhân bị bệnh hoặc có nhược điểm về thể chất và tâm thần, tùy vào mức độ và tính chất của bệnh và trên cơ sở chỉ định của cơ sở y tế được miễn hoặc giảm thời gian lao động[4]. Một điểm mới về quyền lao động của phạm nhân là pháp luật đã bổ sung các quy định về sử dụng kết quả lao động của phạm nhân. Theo đó, kết quả lao động của phạm nhân sau khi trừ đi các chi phí hợp lý được sử dụng để bổ sung mức ăn cho phạm nhân, bổ sung vào quỹ phúc lợi, khen thưởng của trại giam hoặc lập quỹ hòa nhập cộng đồng. Đặc biệt, các phạm nhân trực tiếp tham gia lao động sản xuất vẫn được được chi trả một phần công lao động từ kết quả lao động[5].

Có thể thấy rằng, với các quy định mới về quyền lao động, Luật Thi hành án hình sự năm 2019 đã thể hiện tính nhân văn sâu sắc trong việc đảm bảo các quyền con người cơ bản cho phạm nhân. Điều này, vừa tạo điều kiện cho phạm nhân sản xuất ra của cải vật chất, vừa cho họ thụ hưởng trên chính sản phẩm mình làm ra, trong đó, các công việc được phân công không mang tính khổ sai hay ép buộc, khẳng định Việt Nam đang có nhiều nỗ lực trong việc ghi nhận các quyền con người nói chung và quyền lao động của phạm nhân nói riêng, tạo cơ sở pháp lý để các quyền đó được thực hiện trên thực tế.

2. Thực hiện chế độ lao động, học nghề của phạm nhân trong các trại giam ở Việt Nam hiện nay

Theo Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự năm 2017, căn cứ theo mức án, chung thân có đến 5.718 phạm nhân (chiếm 4,29%) tăng hơn so với năm 2016 là 275 phạm nhân; 16.475 phạm nhân có mức án trên 15 năm đến 30 năm (chiếm 12,31%), 35.636 phạm nhân có mức án trên 3 năm đến 7 năm (chiếm 26.64%), 33.468 phạm nhân có mức án từ 03 năm trở xuống (chiếm 25,02%). Các phạm nhân vào trại giam có đến 50.803 phạm nhân có tiền án (35.128 phạm nhân có 01 tiền án chiếm 26,25%; 15.675 phạm nhân có tới 02 tiền án chiếm tỉ lệ 11.59%)[6]. Không chỉ biến động về số lượng mà thành phần phạm nhân cũng có sự đa dạng, phức tạp về hành vi phạm tội cũng như tính chất, mức độ nguy hiểm, trong đó, yếu tố nhân thân của phạm nhân tương đối phức tạp, nhiều phạm nhân tỏ ra bất cần, manh động và liều lĩnh, đôi khi có những biểu hiện chống đối, không chịu tuân theo sự giáo dục của cán bộ, thường xuyên vi phạm nội quy, gây rối trật tự, tấn công cán bộ, hay tìm mọi cách để bỏ trốn. Về cơ cấu nghề nghiệp của phạm nhân trước khi đi chấp hành án, theo thống kê năm 2017, trong tổng số 172.856 phạm nhân đang chấp hành án có đến 69.723 phạm nhân không có nghề nghiệp (chiếm tỉ lệ 40,33%); 30.862 phạm nhân là nông dân (chiếm tỷ lệ 17,85%); công nhân có đến 4.660 phạm nhân (chiếm tỷ lệ 2,69%); 1.093 phạm nhân là cán bộ, công chức (chiếm tỷ lệ 0,63%); 66.518 phạm nhân làm các nghề nghiệp khác chủ yếu là lao động tự do, dịch vụ (chiếm 38,48%)[7].

Để bảo đảm quyền lao động, học nghề của phạm nhân, các trại giam đã có những hoạt động thiết thực. Phạm nhân được tổ chức lao động, học nghề phù hợp với sức khỏe, lứa tuổi, giới tính, mức án... Kết quả lao động của phạm nhân được sử dụng đúng với mục đích theo quy định pháp luật. Ngoài ra, do phụ thuộc vào điều kiện địa lý, cơ sở vật chất nên tổ chức lao động ở các trại giam chủ yếu là lao động phổ thông với các ngành nghề như chăn nuôi, trồng trọt, mộc, cơ khí, xây dựng… Hiện nay, một số cơ sở đã mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu, đổi mới đa dạng hóa theo hướng từ nông, lâm nghiệp thuần túy giản đơn sang phát triển cây công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ để phù hợp hơn với nhu cầu sử dụng nghề nghiệp đó sau khi tái hòa nhập cộng đồng. Với những chính sách linh hoạt, nâng cao về chất lượng và đổi mới về phương pháp, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và tình hình mới, công tác lao động, dạy nghề cho phạm nhân đã đạt nhiều kết quả tích cực. Cụ thể, đến năm 2016, cả nước có 46 trại giam thành lập Trung tâm dạy nghề cho phạm nhân; tổ chức hướng dẫn, đào tạo nghề, truyền nghề cho 261.840 lượt phạm nhân với các nghề may mặc, xây dựng, mộc, cơ khí, thêu ren, thủ công mỹ nghệ, trồng trọt, chăn nuôi, chế biến thủy sản, khâu bóng chày, khai thác mủ cao su, hàn mạch điện tử... và đã có 2.328 phạm nhân được cấp chứng chỉ nghề[8]. Công tác lao động, hướng nghiệp, dạy nghề cho phạm nhân ngày càng được quan tâm đã tạo điều kiện cho các phạm nhân có tay nghề cao sau khi trở về địa phương có thể phát huy tìm kiếm cơ hội nghề nghiệp, tạo thu nhập chính đáng, nuôi sống bản thân. Đồng thời, triển khai tổ chức lao động, dạy nghề cũng góp phần quan trọng vào hoạt động quản lý, giáo dục và cải tạo phạm nhân, giúp phạm nhân hiểu được giá trị của lao động, của cải vật chất do mình làm ra.



Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, chất lượng lao động, học nghề của phạm nhân trên thực tế còn gặp nhiều khó khăn, tồn tại. Theo thống kê của Bộ Công an năm 2017, về cơ cấu trình độ đào tạo nghề, chuyên môn, trong số 44.944 phạm nhân được khảo sát có tới 43.783 phạm nhân chưa từng được đào tạo nghề trước khi phạm tội (chiếm 97,41%), có 725 phạm nhân đã qua đào tạo trung cấp nghề (chiếm 1,63%); có 229 phạm nhân đã được đào tạo cao đẳng nghề (chiếm 0,50%); có 189 phạm nhân đã tốt nghiệp đại học (chiếm 0,42%) và có 18 phạm nhân đã được đào tạo sau đại học (chiếm tới 0,04%)[9]. Như vậy, tỷ lệ khá lớn các phạm nhân trước khi chấp hành án chưa được đào tạo nghề hoặc chưa tham gia vào quan hệ lao động đã gây ra những khó khăn nhất định cho công tác tổ chức lao động và dạy nghề tại các trại giam. Bên cạnh đó, một số trại giam vẫn diễn ra tình trạng phân công công việc không phù hợp với lứa tuổi, sức khỏe, chưa bảo đảm thời gian nghỉ ngơi, chế độ với phạm nhân làm thêm giờ, làm việc trong môi trường nặng nhọc, độc hại chưa đúng với quy định của pháp luật lao động. Ngoài ra, đa số các trại giam có diện tích chật hẹp, nên không có nhiều địa điểm để triển khai sản xuất cũng như phát triển các mô hình hướng nghiệp mới. Đội ngũ cán bộ có trình độ tay nghề cao vẫn còn thiếu và yếu, nhiều mô hình triển khai theo điều kiện vật chất hạn chế không phù hợp với nhu cầu lao động xã hội đã dẫn đến tình trạng nhiều phạm nhân sau khi ra tù không thể sử dụng ngành nghề đã đào tạo để tìm kiếm cơ hội việc làm, ổn định cuộc sống.

Để tháo gỡ những khó khăn đó, thời gian qua, Bộ Công an thành lập các trung tâm dạy nghề và liên kết với các trường nghề bên ngoài để hỗ trợ đào tạo nâng cao tay nghề, cấp chứng chỉ nghề cho phạm nhân. Đồng thời, tổ chức thí điểm cho phạm nhân lao động ngoài trại giam và các điểm lao động đều được doanh nghiệp xây dựng theo mẫu thiết kế của trại giam nhưng nằm trong khuôn viên của doanh nghiệp, cách biệt khu dân cư và có tường rào bao quanh. Hoạt động này đã giải quyết được vướng mắc lớn nhất trong việc đa dang hóa ngành nghề và tạo cho phạm nhân có nhiều cơ hội học nghề và nâng cao trình độ tay nghề. Tính đến năm 2018, Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng có 23 khu sản xuất trực thuộc các trại giam, 154 điểm lao động dạy nghề ngoài khu vực trại giam[10]. Hoạt động sản xuất của các cơ sở này đạt được những kết quả đáng ghi nhận, đem lại hiệu quả kinh tế, tạo cơ hội học nghề giúp phạm nhân sau khi mãn hạn tù có nhiều cơ hội sử dụng nghề đã học được để xây dựng, ổn định cuộc sống. Điều này khẳng định rằng, việc đưa phạm nhân ra ngoài lao động là một trong những biện pháp giáo dục, cải tạo phạm nhân có hiệu quả. Tuy nhiên, trong quá trình thảo luận biểu quyết thông qua Luật Thi hành án hình sự năm 2019, có nhiều quan điểm khác nhau xoay quanh việc cho phạm nhân được lao động ngoài khu vực trại giam. Theo đó, đối với các khu lao động, dạy nghề do trại giam tự mình hoặc hợp tác với các tổ chức và các khu này phải thuộc phạm vi quản lý của trại giam thì được khuyến khích thực hiện. Đối với các khu sản xuất ngoài trại giam do chính các doanh ngiệp bỏ vốn đầu tư, trực tiếp tổ chức sản xuất và quản lý thì chưa được đồng ý và đưa quy định này vào luật. Chính vì thế, việc xây dựng cơ chế pháp lý cho việc phạm nhân lao động ngoài trại giam vẫn đang là một vấn đề còn bỏ ngỏ và chưa đưa ra được quan điểm thống nhất.

3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả lao động, dạy nghề cho phạm nhân trong các trại giam ở Việt Nam

Có thể nói rằng, pháp luật thi hành án hình sự hiện hành đã có những quy định mới nhằm tăng cường quyền con người trong thi hành hình phạt tù nói chung và quyền lao động, học nghề của phạm nhân chấp hành hình phạt tù nói riêng. Tuy nhiên, để bảo đảm thực hiện quyền lao động, học nghề của phạm nhân trên thực tế cũng như tăng cường hiệu quả thực hiện chế độ lao động, dạy nghề cho phạm nhân các cơ quan, tổ chức có liên quan cần phải làm tốt một số nội dung sau:

Thứ nhất, cần cải cách các chương trình giáo dục, dạy nghề cho phạm nhân ở các cơ sở giam giữ bởi chất lượng giáo dục, cải tạo phạm nhân còn thấp, chương trình giáo dục còn nhiều bất cập. Cần đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục cảm hóa tạo được sự chủ động, giúp phạm nhân tuân thủ, chấp hành tốt quá trình cải tạo, sớm hoàn lương, tái hòa nhập cộng đồng.

Thứ hai, tăng cường xây dựng các chương trình dạy nghề thiết thực và hữu ích cho phạm nhân. Thực tiễn cho thấy, hiện nay các phạm nhân trong trại giam chủ yếu lao động nông nghiệp, lâm nghiệp và một số ngành nghề thủ công đơn giản chưa đáp ứng nhu cầu lao động xã hội. Chính vì thế, khi ra tù, phần lớn phạm nhân không áp dụng được ngành nghề mình được đào tạo trong trại giam để lao động và tìm kiếm việc làm gây ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tái hòa nhập cộng đồng sau này. Vì thế, mục đích của hoạt động dạy nghề thay vì phụ thuộc vào điều kiện của cơ sở giam giữ thì nên hướng đến việc tạo điều kiện cho phạm nhân học nghề có thể vận dụng để lao động và tìm kiếm việc làm. Cần tích cực, chủ động tạo môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn cho phạm nhân, tập trung xây dựng các mô hình dạy nghề phù hợp với yêu cầu thực tiễn xã hội, tạo điều kiện cho phạm nhân tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành án xong.

Thứ ba, trong tương lai, tác giả kiến nghị việc tiếp tục xem xét cũng như xây dựng đầy đủ cơ sở pháp lý về việc liên kết giữa trại giam với các doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất để đưa phạm nhân lao động ở bên ngoài. Bởi vì thực tiễn cũng đã chứng minh đây là một biện pháp giáo dục, cải tạo phạm nhân có hiệu quả, giúp các phạm nhân sau khi mãn hạn tù sớm trở về có thể kiếm được việc làm và tái hòa nhập cộng đồng.

ThS. Nguyễn Thị Thanh Trâm

Khoa Luật, Đại học Vinh



[1]. Điều 32, Điều 33, Điều 34.

[2]. Điều 33 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

[3]. Khoản 1 Điều 32 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

[4]. Điều 32, Điều 74 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

[5]. Điều 34 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

[6]. Vụ Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự, Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự năm 2017.

[7]. Vụ Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự, Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự năm 2017.

[8]. Bộ Công an, Báo cáo tổng kết 5 năm thi hành Luật Thi hành án hình sự trong Công an nhân dân (2011-2016), tr. 8 - 18.

[9]. Ngô Văn Trù (2017), Giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở Việt Nam, Sách chuyên khảo, Nxb. Công an nhân dân, tr. 106 - 109.

[10]. Phạm nhân lao động sản xuất ngoài trại giam: Giúp phạm nhân hoàn lương, tái hòa nhập cộng đồng, Cổng thông tin điện tử Bộ Công an, http://www.bocongan.gov.vn/tin-tuc-su-kien/pham-nhan-lao-dong-san-xuat-ngoai-trai-giam-giup-pham-nhan-hoan-luong-tai-hoa-nhap-cong-dong-d17-t25555.html.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: