Thứ sáu 11/09/2026 14:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật và sự phù hợp đối với Việt Nam

Bài viết này cung cấp thông tin về vị trí, ý nghĩa, nội hàm, nguồn dữ liệu, phương pháp đánh giá của Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật trong Bộ Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu, từ đó, đánh giá sự phù hợp và hạn chế của Chỉ số này áp dụng trong điều kiện Việt Nam.

1. Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật trong Bộ Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu

Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật là một chỉ số thành phần thuộc Bộ Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (tiếng Anh là Global Innovation Index, viết tắt là GII), đánh giá về năng lực của Chính phủ trong việc xây dựng và thực hiện chính sách, quy định pháp luật nhằm cho phép và thúc đẩy sự phát triển của khu vực tư nhân.

1.1. Vị trí, ý nghĩa của Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật trong Bộ Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu

Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật (tiếng Anh là Regulatory quality[1]) là chỉ số quan trọng thuộc nhóm Chỉ số về môi trường pháp lý, thuộc Trụ cột 1 về thể chế. Chỉ số này tổng hợp ý kiến đánh giá về năng lực của Chính phủ trong việc xây dựng và thực hiện chính sách, quy định pháp luật nhằm cho phép và thúc đẩy sự phát triển của khu vực sản xuất, kinh doanh. Đây là chỉ số tổng hợp, tức là được tổng hợp từ nhiều chỉ số, nhiều nguồn dữ liệu. Theo đó, giá trị của chỉ số càng cao thì điểm số và thứ hạng trong GII càng cao (thứ hạng của từng năm còn phụ thuộc vào số lượng quốc gia được đánh giá, xếp hạng của năm đó).

Chất lượng các quy định pháp luật có tác động quan trọng đến hoạt động đổi mới sáng tạo (ĐMST) của các đối tượng liên quan. Quy định pháp luật đầy đủ sẽ tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động sản xuất, kinh doanh nói chung và hoạt động ĐMST nói riêng diễn ra thuận lợi, theo định hướng của Nhà nước. Nhiều nghiên cứu cho thấy, một nền kinh tế có quá nhiều quy định rườm rà cũng sẽ tạo ra những gánh nặng, là rào cản đối với ĐMST hoặc quy định pháp luật lỗi thời, không bắt kịp sự phát triển của khoa học và công nghệ sẽ kìm hãm ĐMST. Việc cắt giảm những quy định mang tính rào cản, lỗi thời là để cải thiện, nâng cao chất lượng các quy định pháp luật, kịp thời ban hành quy định pháp luật trong những lĩnh vực mới tạo điều kiện cần thiết để khơi dậy và thúc đẩy ĐMST.

1.2. Nội hàm, phương pháp đánh giá Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật

Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật là một trong 06 chỉ số tổng hợp về quản trị toàn cầu (WGI) do Ngân hàng Thế giới (WB) phát triển và được Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) sử dụng trong GII. WGI là một dự án nghiên cứu đã thực hiện trong thời gian dài, xây dựng các chỉ số về quản trị nhà nước, bao gồm 06 chỉ số tổng hợp về quản trị, tính toán cho hơn 200 quốc gia từ năm 1996: (i) Tiếng nói và trách nhiệm giải trình; (ii) Ổn định chính trị và không có bạo lực/khủng bố; (iii) Hiệu quả của Chính phủ; (iv) Chất lượng các quy định pháp luật; (v) Nhà nước pháp quyền; (vi) Kiểm soát tham nhũng.

Ngân hàng Thế giới sử dụng hơn 30 nguồn dữ liệu khác nhau để tính toán 06 chỉ số thành phần cho từng quốc gia. Đối với Việt Nam, hiện nay, WB sử dụng 08 nguồn dữ liệu để tính toán Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật[2].

Thứ nhất, chỉ số Bertelsmann Transformation Index (BTI) do Quỹ Bertelsmann Foundation thực hiện[3]:

- Yếu tố liên quan đến chất lượng các quy định pháp luật được tổ chức này đánh giá và WGI sử dụng là các quy định pháp luật về tổ chức thị trường và cạnh tranh, bao gồm: Tổ chức thị trường, chính sách cạnh tranh, tự do hóa ngoại thương, hệ thống ngân hàng.

- Phương pháp đánh giá: Quỹ Bertelsmann thực hiện đánh giá 02 - 03 năm một lần, bắt đầu từ năm 2003 với trên 120 quốc gia/nền kinh tế, trong đó có Việt Nam. Việc đánh giá do các cán bộ của Quỹ Bertelsmann thực hiện theo thang điểm từ 1 - 10. Đánh giá gần nhất của Việt Nam là năm 2022.

Thứ hai, đánh giá do Tổ chức Economist Intelligence Unit (EIU)[4] thực hiện:

- Yếu tố liên quan đến chất lượng các quy định pháp luật được tổ chức này đánh giá và WGI sử dụng gồm các quy định pháp luật về: Cạnh tranh không lành mạnh, kiểm soát giá, phân biệt đối xử trong các rào cản thương mại, bảo hộ quá mức, phân biệt đối xử trong thuế quan.

- Phương pháp đánh giá: Các yếu tố này được đánh giá dựa trên ý kiến của mạng lưới 500 chuyên gia trên toàn thế giới của EIU, sau đó được các chuyên gia khu vực kiểm tra tính thống nhất. Các yếu tố được chuyên gia đánh giá theo điểm từ 1 - 4, sau đó được chia trung bình. Thông tin được thu thập và cập nhật hàng tháng, từ năm 1997 đến nay có khoảng 180 quốc gia/nền kinh tế, trong đó có Việt Nam. Đánh giá gần nhất của Việt Nam là năm 2022.

Thứ ba, đánh giá về hoạt động của khu vực nông thôn do Quỹ Phát triển nông nghiệp quốc tế (IFAD) thực hiện:

- Đánh giá của IFAD liên quan tới chất lượng của các quy định pháp luật được WGI sử dụng gồm các quy định pháp luật về: Tạo điều kiện cho phát triển dịch vụ tài chính nông thôn, môi trường đầu tư cho doanh nghiệp nông thôn, tiếp cận thị trường đầu vào và thị trường nông sản, chính sách thương mại.

- Phương pháp đánh giá: Các nội dung này được đánh giá bởi chuyên gia của IFAD tại hơn 100 quốc gia/nền kinh tế, trong đó có Việt Nam. IFAD đánh giá 12 khía cạnh của môi trường chính sách nông thôn trên thang điểm 6. Hiện nay, IFAD thực hiện đánh giá theo chu kỳ 03 năm/lần. Đánh giá gần nhất của Việt Nam là năm 2021.

Thứ tư, chỉ số tổng hợp về tự do kinh tế do Quỹ Heritage Foundation thực hiện[5]:

- Đánh giá của Quỹ Heritage liên quan đến chất lượng của các quy định pháp luật được WGI sử dụng gồm các quy định pháp luật về: Tự do đầu tư và tự do tài chính.

- Phương pháp đánh giá: Chỉ số này có 10 chỉ số thành phần. 03 chỉ số thành phần được đánh giá dựa trên ý kiến chủ quan của nhân viên Quỹ Heritage và được so sánh theo thời gian là tự do đầu tư, tự do tài chính và quyền sở hữu. Các chỉ số thành phần này được đánh giá trên thang điểm 100. Đánh giá gần nhất của Việt Nam là năm 2022.

Thứ năm, đánh giá về điều kiện và rủi ro kinh doanh - Global Insight Business Risk and Conditions (WMO) do tổ chức IHS Markit[6] thực hiện:

- Đánh giá này phản ánh đánh giá của các nhà phân tích về chất lượng và sự ổn định của các khía cạnh khác nhau của môi trường kinh doanh, trong đó có vấn đề về chất lượng các quy định pháp luật. 04 yếu tố liên quan đến các quy định pháp luật được xem xét bao gồm: Hiệu quả về thuế, pháp luật, gánh nặng quy định, sự không nhất quán về thuế.

- Phương pháp đánh giá: Các thông tin này được thu thập hàng năm và cập nhật trực tuyến hàng ngày từ hơn 200 quốc gia/nền kinh tế, trong đó có Việt Nam. Đánh giá gần nhất của Việt Nam là năm 2022.

Thứ sáu, đánh giá về các rủi ro chính trị do tổ chức Political Risk Services (PRS)[7] thực hiện:

- Tổ chức này đánh giá 12 yếu tố khác nhau của môi trường chính trị và kinh doanh mà các công ty đang hoạt động trong một quốc gia. WGI sử dụng đánh giá về các vấn đề liên quan tới các quy định pháp luật về đầu tư để tính toán Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật từ nguồn dữ liệu này.

- Phương pháp đánh giá: Nội dung liên quan đến quy định pháp luật về đầu tư được các chuyên gia của PRS đánh giá, sau đó được chuyên gia khu vực rà soát lại. Thông tin đánh giá được thực hiện hàng tháng từ năm 1984 cho khoảng 140 quốc gia/nền kinh tế, trong đó có Việt Nam. Đánh giá gần nhất của Việt Nam là năm 2022.

Thứ bảy, đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) về môi trường kinh doanh (khảo sát năng lực cạnh tranh toàn cầu):

- Khảo sát của WEF có câu hỏi được WGI sử dụng tính toán Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật như sau: Gánh nặng của các quy định nhà nước; tác động của thuế đến động lực làm việc, động lực đầu tư; rào cản thương mại; cạnh tranh trong nước; chính sách chống độc quyền; mức độ thuận lợi trong khởi sự kinh doanh; các quy định về môi trường đầu tư.

- Phương pháp đánh giá: Thông qua khảo sát ý kiến của các doanh nghiệp trong và ngoài nước về một loạt các vấn đề liên quan đến môi trường kinh doanh (khảo sát năng lực cạnh tranh toàn cầu). Thông tin được thu thập từ khảo sát ý kiến doanh nghiệp hàng năm, từ năm 1996 đến nay của hơn 130 quốc gia/nền kinh tế, trong đó có Việt Nam. Đánh giá gần nhất của Việt Nam là năm 2022.

Thứ tám, chỉ số quy định pháp luật do dự án World Justice Project Rule of Law Index (WJP)[8] thực hiện:

- Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật, WGI sử dụng kết quả đánh giá về việc thực thi các quy định pháp luật của WJP.

- Phương pháp đánh giá: Tổ chức này xếp hạng các tiểu hợp phần về luật pháp dựa trên hơn 500 câu hỏi khảo sát, kết hợp đánh giá của chuyên gia và thăm dò ý kiến công chúng. Một số nội dung khảo sát được thực hiện với các chuyên gia hàng năm; một số nội dung được thực hiện thông qua khảo sát người dân 03 năm một lần. Khảo sát được thực hiện tại hơn 100 quốc gia/nền kinh tế, trong đó có Việt Nam. Đánh giá gần nhất của Việt Nam là năm 2022.

1.3. Phương pháp tổng hợp đánh giá của WB và WIPO đối với Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật trong GII

1.3.1. Phương pháp tính toán của WB

Như đã nêu ở trên, WGI là chỉ số tổng hợp bao gồm 06 thước đo về quản trị tương ứng với 06 chỉ số tổng hợp. Các chỉ số này được tổng hợp từ hàng trăm chỉ số thành phần thu thập từ hơn 30 nguồn dữ liệu khác nhau, là kết quả của các cuộc khảo sát ý kiến, cảm nhận và đánh giá của người dân, chuyên gia, cán bộ chính quyền, doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ... về hoạt động quản trị của Chính phủ các quốc gia trên toàn thế giới.

Mỗi thước đo về quản trị của WGI được xây dựng bằng cách lấy trung bình có trọng số giá trị dữ liệu từ các nguồn cơ bản tương ứng với khái niệm quản trị được đo lường. Quy trình này được thực hiện theo 03 bước:

Bước 1: Gán dữ liệu từ các nguồn riêng lẻ cho 06 chỉ số tổng hợp. Các câu hỏi riêng lẻ từ các nguồn dữ liệu được gán cho từng chỉ số trong 06 chỉ số tổng hợp. Ví dụ, câu hỏi khảo sát doanh nghiệp về môi trường pháp lý sẽ được gán cho chỉ số tổng hợp “Chất lượng quy định pháp luật” hoặc câu hỏi về tự do báo chí được gán cho chỉ số tổng hợp “Tiếng nói và trách nhiệm giải trình”. Không phải tất cả các nguồn dữ liệu đều bao phủ tất cả các quốc gia trên thế giới, do đó, WGI phải sử dụng các bộ dữ liệu khác nhau cho các quốc gia khác nhau.

Bước 2: Chuẩn hóa giá trị dữ liệu từ các nguồn riêng lẻ theo thang đo từ 0 - 1. Đánh giá của các tổ chức quốc tế khác nhau sử dụng phương pháp khác nhau và các tính toán cho ra các giá trị khác nhau (ví dụ, có tổ chức sử dụng thang điểm từ 1 - 4 để đánh giá, có tổ chức sử dụng thang điểm từ 1 - 7...). Để có thể tổng hợp, tính toán kết quả đánh giá từ các nguồn đa dạng, cần phải đưa các kết quả về cùng một thang đo. Do vậy, WB đã chuẩn hóa dữ liệu từ các nguồn riêng lẻ về thang đo từ 0 - 1, trong đó, giá trị càng cao tương ứng với kết quả càng tốt (dữ liệu được chuẩn hóa lại theo thang đo từ 0 - 1 từ các nguồn dữ liệu có thể truy cập trực tuyến thông qua trang thông tin điện tử chính thức của WGI[9]).

Bước 3: Sử dụng Mô hình các thành phần không được quan sát (UCM) để tổng hợp giá trị trung bình cộng có trọng số của các chỉ số riêng lẻ cho từng nguồn. WB sử dụng công cụ thống kê UCM để các dữ liệu đã được chuẩn hóa theo thang đo từ 0 - 1 có thể sử dụng được nhằm so sánh giữa các nguồn riêng lẻ, sau đó xây dựng giá trị trung bình có trọng số của dữ liệu từ mỗi nguồn cho mỗi quốc gia/nền kinh tế. UCM giả định rằng, dữ liệu được quan sát từ mỗi nguồn có thể biểu thị bằng một hàm tuyến tính của cấp độ quản trị không được quan sát và một biến sai số. Hàm tuyến tính này là khác nhau đối với các nguồn dữ liệu khác nhau, do đó sẽ giải quyết được vấn đề tồn tại về tính không thể so sánh của các đơn vị dữ liệu đã được chuẩn hóa thang đo ở trên. Các ước tính về kết quả quản trị là giá trị trung bình có trọng số của dữ liệu từ mỗi nguồn, với trọng số phản ánh mối tương quan giữa các nguồn dữ liệu.

UCM gán trọng số lớn hơn cho các nguồn dữ liệu có xu hướng tương quan chặt chẽ hơn với nhau. Trọng số này cải thiện độ chính xác thống kê của các chỉ số tổng hợp nhưng thường không ảnh hưởng nhiều đến thứ hạng của các quốc gia trong các chỉ số tổng hợp. Các thước đo tổng hợp về quản trị do UCM tạo ra được tính bằng đơn vị của phân phối chuẩn, với giá trị trung bình bằng 0, độ lệch chuẩn là 1 và các kết quả phân bổ từ khoảng -2,5 đến 2,5, với giá trị cao hơn tương ứng với quản trị tốt hơn.

Trên cơ sở phương pháp này, Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật được WB báo cáo theo 02 cách: (i) Điểm quản trị: Theo giá trị tiêu chuẩn, dao động trong khoảng từ -2,5 đến 2,5; (ii) Xếp hạng phần trăm: Theo thứ hạng phần trăm từ 0 - 100, với giá trị cao hơn tương ứng với kết quả tốt hơn.

Với phương pháp tính toán này, điểm Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật của Việt Nam trong WGI do WB đánh giá năm 2021 là -0,40 điểm, năm 2022 là -0,43 điểm (kết quả năm 2022 mới được WB cập nhật, hiện chưa có kết quả đánh giá cho năm 2023).

1.3.2. Phương pháp tính toán của WIPO

Trên cơ sở kết quả tính toán Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật của WGI do WB thực hiện (kết quả tính toán phân bổ trong khoảng điểm từ -2,5 đến 2,5), WIPO tiếp tục chuẩn hóa điểm giá trị theo thang đo từ 0 - 100 (đây là thang điểm được WIPO áp dụng với toàn bộ 80 chỉ số thành phần của GII), với phương pháp min - max.

Điểm số của Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật của quốc gia A = (điểm giá trị của quốc gia A - điểm giá trị nhỏ nhất của Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật) *100/(điểm giá trị lớn nhất của Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật - điểm giá trị nhỏ nhất của Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật).

Việc chuẩn hóa này bảo đảm tất cả các chỉ số đều có cùng thang đo, giúp thể hiện được đóng góp của từng chỉ số vào điểm của chỉ số tổng hợp.

Trên cơ sở điểm số WGI do WB đánh giá năm 2021, WIPO đã tính toán, chuẩn hóa điểm số của Việt Nam đối với Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật trong GII năm 2023 theo thang điểm 0 - 100 là 31,8 điểm. Điểm số WGI năm 2022 của WB sẽ được WIPO sử dụng trong GII năm 2024 và công bố vào tháng 9/2024.

2. Áp dụng Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật trong điều kiện Việt Nam

2.1. Sự phù hợp của Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật trong điều kiện Việt Nam

Thứ nhất, phù hợp với đặc điểm, mục tiêu phát triển nền kinh tế.

Xem xét các đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam, có thể thấy, GII có cách tiếp cận và các chỉ số được lựa chọn sử dụng đều khá phù hợp. GII không sử dụng trọng số cho bất kì chỉ số hay nhóm chỉ số, trụ cột nào bao gồm cả Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật. Việc sử dụng các chỉ số tính theo GDP hoặc sức mua tương đương và quy mô dân số giúp bảo đảm được tính công bằng trong việc đánh giá, xếp hạng giữa các quốc gia/nền kinh tế.

Hiện nay, Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật được đánh giá từ 08 nguồn dữ liệu với cách thức thu thập thông tin khác nhau và đều tính tới các đặc điểm kinh tế - xã hội của các quốc gia/nền kinh tế. Như vậy, Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật phù hợp và bao trùm các yếu tố về đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam.

Thứ hai, phù hợp với mục tiêu cải thiện chất lượng quy định pháp luật, hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật là thước đo khả năng của Chính phủ trong việc xây dựng và thực thi các chính sách, quy định hợp lý cho phép và thúc đẩy phát triển khu vực tư nhân. Qua kết quả đánh giá của các tổ chức quốc tế đã cho thấy phần nào thực trạng chất lượng quy định pháp luật trong các lĩnh vực được đánh giá, từ đó đề xuất các giải pháp để cải thiện chất lượng quy định pháp luật. Theo đó, mục tiêu đánh giá Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật phù hợp với mục tiêu hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải thiện chất lượng các quy định pháp luật của Việt Nam nhằm thể chế hóa, cụ thể hóa kịp thời, đầy đủ, chính xác các chủ trương, đường lối của Đảng, nội luật hóa các điều ước, cam kết quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, đưa các quy định pháp luật thực sự đi vào cuộc sống, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; đẩy mạnh cải cách hành chính và phòng, chống tham nhũng, lãng phí; cải thiện môi trường kinh doanh; mở rộng và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế[10].

2.2. Một số điểm chưa phù hợp của Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật nếu áp dụng ở Việt Nam

Thứ nhất, GII đo lường hệ thống ĐMST quốc gia, trong đó có trụ cột thể chế trên 03 phương diện: Môi trường thể chế, môi trường pháp lý và môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh lại trụ cột thể chế trong báo cáo của WIPO tập trung vào các quy định pháp luật nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ĐMST mà không phải tất cả các quy định pháp luật nói chung. Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật là thước đo khả năng của Chính phủ trong việc xây dựng, thực hiện các chính sách, quy định hợp lý cho phép và thúc đẩy phát triển khu vực sản xuất, kinh doanh. Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật trong Bộ WGI và được WIPO sử dụng chủ yếu đánh giá các quy định pháp luật trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư và môi trường kinh doanh. Điều này làm cho việc áp dụng Chỉ số này trong điều kiện Việt Nam là chưa toàn diện và bao quát.

Thứ hai, Chỉ số này được đánh giá bởi các tổ chức nước ngoài độc lập. Điều này bảo đảm các thông tin được thu thập, đánh giá và báo cáo là khách quan, trung thực. Tuy nhiên, đánh giá được thực hiện bởi các tổ chức nước ngoài cũng có những hạn chế như không có thông tin đối chứng, kiểm định để bảo đảm tính đại diện, kết quả phản ánh đúng thực tế. Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật của Việt Nam được WB sử dụng từ 08 nguồn dữ liệu mềm (khảo sát ý kiến các đối tượng khác nhau), trong khi đó, trong nước không có các khảo sát, đánh giá tương tự để đối chiếu, so sánh. Một số đánh giá có tính tương đồng như năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), cải cách hành chính (PAR Index) nhưng phương pháp, cách tiếp cận khác nhau nên khó tiến hành so sánh. Các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam không có cơ hội, điều kiện để có thể cung cấp thông tin, phản biện lại các đánh giá của các tổ chức quốc tế.

Thứ ba, phương pháp đánh giá của các tổ chức quốc tế chủ yếu dựa trên cảm nhận, đánh giá về quản trị theo ý kiến của những người tham gia khảo sát (người dân, doanh nghiệp, cán bộ sứ quán, cán bộ của các cơ quan, tổ chức ở khu vực công và khu vực tư...). Do đó, việc đánh giá có thể mang tính chủ quan nhất định (vì nắm bắt cảm nhận) nên ở góc độ nào đó không phản ánh hết được chất lượng của quy định pháp luật. Bên cạnh đó, đối tượng tham gia khảo sát, đánh giá trong một số trường hợp có thể không bảo đảm tính đại diện.

Thứ tư, theo Báo cáo Nghiên cứu sự phù hợp và những hạn chế của GII áp dụng trong điều kiện Việt Nam (năm 2023) cho thấy, Chỉ số được đánh giá tốt chưa chắc đã phản ánh năng lực thực sự của quốc gia đó ở nội dung tương ứng. Ngược lại, kết quả GII kém ở nội dung nào đó chưa chắc đã là điểm yếu của quốc gia này. Điều này có thể đến từ nguyên nhân như năm dữ liệu được sử dụng để đánh giá. Năm dữ liệu gần nhất được sử dụng đánh giá cho Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật trong Báo cáo GII năm 2023 là năm 2021, như vậy có độ trễ 02 năm so với thực tế.

Nhìn chung, Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật khi áp dụng vào điều kiện Việt Nam còn gặp một số khó khăn, hạn chế nhất định về mặt dữ liệu và tính bao trùm. Điều này có thể dẫn đến Chỉ số này không đưa ra được đánh giá bao quát và toàn diện nhất trong bối cảnh của Việt Nam.

Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật là một chỉ số quan trọng trong GII. Việc cải thiện chất lượng các quy định pháp luật là một nhiệm vụ quan trọng cần được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo sát sao cho các bộ, ngành, địa phương thực hiện thường xuyên, liên tục để tạo ra môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định, thuận lợi, hấp dẫn nhằm thu hút đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, nâng tầm hình ảnh và vị thế đất nước trong khu vực Đông Nam Á và thế giới./.

Nguyễn Hồng Tuyến

Vụ trưởng Vụ Pháp luật, Văn phòng Chính phủ

Nguyễn Thị Phương Mai

Học viện Khoa học, công nghệ và Đổi mới sáng tạo, Bộ Khoa học và công nghệ

[1]. Tại Phụ lục IV Nghị quyết 19/2017/NQ-CP ngày 06/02/2017 của Chính phủ, Chỉ số này được dịch sang tiếng Việt là “Cải thiện chất lượng các quy định pháp luật”.

[2]. Tổng hợp thông tin tại địa chỉ: http://info.worldbank.org/governance/wgi/index.aspx#home.

[3]. Tổ chức phi Chính phủ có trụ sở chính ở Đức thực hiện, với mục tiêu nghiên cứu các thách thức, vấn đề xã hội và đề xuất giải pháp.

[4]. Tổ chức chuyên cung cấp thông tin, có trụ sở chính ở London, Anh.

[5]. Tổ chức phi Chính phủ có trụ sở tại Hoa Kỳ.

[6]. Tổ chức tư vấn, thực hiện các đánh giá về thị trường nhằm cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư.

[7]. Tổ chức có trụ sở đặt tại Hoa Kỳ, chuyên cung cấp dịch vụ đánh giá các rủi ro về chính trị tại các thị trường (quốc gia/nền kinh tế) nhằm phục vụ các nhà đầu tư.

[8]. Tổ chức phi Chính phủ có trụ sở đặt tại Hoa Kỳ.

[9]. https://www.worldbank.org/en/publication/worldwide-governance-indicators/interactive-data-access.

[10]. Báo cáo số 415/BC-BTP ngày 15/12/2023 của Bộ Tư pháp về tình hình triển khai thực hiện Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật năm 2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 408), tháng 7/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: