Thứ ba 03/03/2026 10:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật và sự phù hợp đối với Việt Nam

Bài viết này cung cấp thông tin về vị trí, ý nghĩa, nội hàm, nguồn dữ liệu, phương pháp đánh giá của Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật trong Bộ Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu, từ đó, đánh giá sự phù hợp và hạn chế của Chỉ số này áp dụng trong điều kiện Việt Nam.

1. Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật trong Bộ Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu

Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật là một chỉ số thành phần thuộc Bộ Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (tiếng Anh là Global Innovation Index, viết tắt là GII), đánh giá về năng lực của Chính phủ trong việc xây dựng và thực hiện chính sách, quy định pháp luật nhằm cho phép và thúc đẩy sự phát triển của khu vực tư nhân.

1.1. Vị trí, ý nghĩa của Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật trong Bộ Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu

Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật (tiếng Anh là Regulatory quality[1]) là chỉ số quan trọng thuộc nhóm Chỉ số về môi trường pháp lý, thuộc Trụ cột 1 về thể chế. Chỉ số này tổng hợp ý kiến đánh giá về năng lực của Chính phủ trong việc xây dựng và thực hiện chính sách, quy định pháp luật nhằm cho phép và thúc đẩy sự phát triển của khu vực sản xuất, kinh doanh. Đây là chỉ số tổng hợp, tức là được tổng hợp từ nhiều chỉ số, nhiều nguồn dữ liệu. Theo đó, giá trị của chỉ số càng cao thì điểm số và thứ hạng trong GII càng cao (thứ hạng của từng năm còn phụ thuộc vào số lượng quốc gia được đánh giá, xếp hạng của năm đó).

Chất lượng các quy định pháp luật có tác động quan trọng đến hoạt động đổi mới sáng tạo (ĐMST) của các đối tượng liên quan. Quy định pháp luật đầy đủ sẽ tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động sản xuất, kinh doanh nói chung và hoạt động ĐMST nói riêng diễn ra thuận lợi, theo định hướng của Nhà nước. Nhiều nghiên cứu cho thấy, một nền kinh tế có quá nhiều quy định rườm rà cũng sẽ tạo ra những gánh nặng, là rào cản đối với ĐMST hoặc quy định pháp luật lỗi thời, không bắt kịp sự phát triển của khoa học và công nghệ sẽ kìm hãm ĐMST. Việc cắt giảm những quy định mang tính rào cản, lỗi thời là để cải thiện, nâng cao chất lượng các quy định pháp luật, kịp thời ban hành quy định pháp luật trong những lĩnh vực mới tạo điều kiện cần thiết để khơi dậy và thúc đẩy ĐMST.

1.2. Nội hàm, phương pháp đánh giá Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật

Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật là một trong 06 chỉ số tổng hợp về quản trị toàn cầu (WGI) do Ngân hàng Thế giới (WB) phát triển và được Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) sử dụng trong GII. WGI là một dự án nghiên cứu đã thực hiện trong thời gian dài, xây dựng các chỉ số về quản trị nhà nước, bao gồm 06 chỉ số tổng hợp về quản trị, tính toán cho hơn 200 quốc gia từ năm 1996: (i) Tiếng nói và trách nhiệm giải trình; (ii) Ổn định chính trị và không có bạo lực/khủng bố; (iii) Hiệu quả của Chính phủ; (iv) Chất lượng các quy định pháp luật; (v) Nhà nước pháp quyền; (vi) Kiểm soát tham nhũng.

Ngân hàng Thế giới sử dụng hơn 30 nguồn dữ liệu khác nhau để tính toán 06 chỉ số thành phần cho từng quốc gia. Đối với Việt Nam, hiện nay, WB sử dụng 08 nguồn dữ liệu để tính toán Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật[2].

Thứ nhất, chỉ số Bertelsmann Transformation Index (BTI) do Quỹ Bertelsmann Foundation thực hiện[3]:

- Yếu tố liên quan đến chất lượng các quy định pháp luật được tổ chức này đánh giá và WGI sử dụng là các quy định pháp luật về tổ chức thị trường và cạnh tranh, bao gồm: Tổ chức thị trường, chính sách cạnh tranh, tự do hóa ngoại thương, hệ thống ngân hàng.

- Phương pháp đánh giá: Quỹ Bertelsmann thực hiện đánh giá 02 - 03 năm một lần, bắt đầu từ năm 2003 với trên 120 quốc gia/nền kinh tế, trong đó có Việt Nam. Việc đánh giá do các cán bộ của Quỹ Bertelsmann thực hiện theo thang điểm từ 1 - 10. Đánh giá gần nhất của Việt Nam là năm 2022.

Thứ hai, đánh giá do Tổ chức Economist Intelligence Unit (EIU)[4] thực hiện:

- Yếu tố liên quan đến chất lượng các quy định pháp luật được tổ chức này đánh giá và WGI sử dụng gồm các quy định pháp luật về: Cạnh tranh không lành mạnh, kiểm soát giá, phân biệt đối xử trong các rào cản thương mại, bảo hộ quá mức, phân biệt đối xử trong thuế quan.

- Phương pháp đánh giá: Các yếu tố này được đánh giá dựa trên ý kiến của mạng lưới 500 chuyên gia trên toàn thế giới của EIU, sau đó được các chuyên gia khu vực kiểm tra tính thống nhất. Các yếu tố được chuyên gia đánh giá theo điểm từ 1 - 4, sau đó được chia trung bình. Thông tin được thu thập và cập nhật hàng tháng, từ năm 1997 đến nay có khoảng 180 quốc gia/nền kinh tế, trong đó có Việt Nam. Đánh giá gần nhất của Việt Nam là năm 2022.

Thứ ba, đánh giá về hoạt động của khu vực nông thôn do Quỹ Phát triển nông nghiệp quốc tế (IFAD) thực hiện:

- Đánh giá của IFAD liên quan tới chất lượng của các quy định pháp luật được WGI sử dụng gồm các quy định pháp luật về: Tạo điều kiện cho phát triển dịch vụ tài chính nông thôn, môi trường đầu tư cho doanh nghiệp nông thôn, tiếp cận thị trường đầu vào và thị trường nông sản, chính sách thương mại.

- Phương pháp đánh giá: Các nội dung này được đánh giá bởi chuyên gia của IFAD tại hơn 100 quốc gia/nền kinh tế, trong đó có Việt Nam. IFAD đánh giá 12 khía cạnh của môi trường chính sách nông thôn trên thang điểm 6. Hiện nay, IFAD thực hiện đánh giá theo chu kỳ 03 năm/lần. Đánh giá gần nhất của Việt Nam là năm 2021.

Thứ tư, chỉ số tổng hợp về tự do kinh tế do Quỹ Heritage Foundation thực hiện[5]:

- Đánh giá của Quỹ Heritage liên quan đến chất lượng của các quy định pháp luật được WGI sử dụng gồm các quy định pháp luật về: Tự do đầu tư và tự do tài chính.

- Phương pháp đánh giá: Chỉ số này có 10 chỉ số thành phần. 03 chỉ số thành phần được đánh giá dựa trên ý kiến chủ quan của nhân viên Quỹ Heritage và được so sánh theo thời gian là tự do đầu tư, tự do tài chính và quyền sở hữu. Các chỉ số thành phần này được đánh giá trên thang điểm 100. Đánh giá gần nhất của Việt Nam là năm 2022.

Thứ năm, đánh giá về điều kiện và rủi ro kinh doanh - Global Insight Business Risk and Conditions (WMO) do tổ chức IHS Markit[6] thực hiện:

- Đánh giá này phản ánh đánh giá của các nhà phân tích về chất lượng và sự ổn định của các khía cạnh khác nhau của môi trường kinh doanh, trong đó có vấn đề về chất lượng các quy định pháp luật. 04 yếu tố liên quan đến các quy định pháp luật được xem xét bao gồm: Hiệu quả về thuế, pháp luật, gánh nặng quy định, sự không nhất quán về thuế.

- Phương pháp đánh giá: Các thông tin này được thu thập hàng năm và cập nhật trực tuyến hàng ngày từ hơn 200 quốc gia/nền kinh tế, trong đó có Việt Nam. Đánh giá gần nhất của Việt Nam là năm 2022.

Thứ sáu, đánh giá về các rủi ro chính trị do tổ chức Political Risk Services (PRS)[7] thực hiện:

- Tổ chức này đánh giá 12 yếu tố khác nhau của môi trường chính trị và kinh doanh mà các công ty đang hoạt động trong một quốc gia. WGI sử dụng đánh giá về các vấn đề liên quan tới các quy định pháp luật về đầu tư để tính toán Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật từ nguồn dữ liệu này.

- Phương pháp đánh giá: Nội dung liên quan đến quy định pháp luật về đầu tư được các chuyên gia của PRS đánh giá, sau đó được chuyên gia khu vực rà soát lại. Thông tin đánh giá được thực hiện hàng tháng từ năm 1984 cho khoảng 140 quốc gia/nền kinh tế, trong đó có Việt Nam. Đánh giá gần nhất của Việt Nam là năm 2022.

Thứ bảy, đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) về môi trường kinh doanh (khảo sát năng lực cạnh tranh toàn cầu):

- Khảo sát của WEF có câu hỏi được WGI sử dụng tính toán Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật như sau: Gánh nặng của các quy định nhà nước; tác động của thuế đến động lực làm việc, động lực đầu tư; rào cản thương mại; cạnh tranh trong nước; chính sách chống độc quyền; mức độ thuận lợi trong khởi sự kinh doanh; các quy định về môi trường đầu tư.

- Phương pháp đánh giá: Thông qua khảo sát ý kiến của các doanh nghiệp trong và ngoài nước về một loạt các vấn đề liên quan đến môi trường kinh doanh (khảo sát năng lực cạnh tranh toàn cầu). Thông tin được thu thập từ khảo sát ý kiến doanh nghiệp hàng năm, từ năm 1996 đến nay của hơn 130 quốc gia/nền kinh tế, trong đó có Việt Nam. Đánh giá gần nhất của Việt Nam là năm 2022.

Thứ tám, chỉ số quy định pháp luật do dự án World Justice Project Rule of Law Index (WJP)[8] thực hiện:

- Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật, WGI sử dụng kết quả đánh giá về việc thực thi các quy định pháp luật của WJP.

- Phương pháp đánh giá: Tổ chức này xếp hạng các tiểu hợp phần về luật pháp dựa trên hơn 500 câu hỏi khảo sát, kết hợp đánh giá của chuyên gia và thăm dò ý kiến công chúng. Một số nội dung khảo sát được thực hiện với các chuyên gia hàng năm; một số nội dung được thực hiện thông qua khảo sát người dân 03 năm một lần. Khảo sát được thực hiện tại hơn 100 quốc gia/nền kinh tế, trong đó có Việt Nam. Đánh giá gần nhất của Việt Nam là năm 2022.

1.3. Phương pháp tổng hợp đánh giá của WB và WIPO đối với Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật trong GII

1.3.1. Phương pháp tính toán của WB

Như đã nêu ở trên, WGI là chỉ số tổng hợp bao gồm 06 thước đo về quản trị tương ứng với 06 chỉ số tổng hợp. Các chỉ số này được tổng hợp từ hàng trăm chỉ số thành phần thu thập từ hơn 30 nguồn dữ liệu khác nhau, là kết quả của các cuộc khảo sát ý kiến, cảm nhận và đánh giá của người dân, chuyên gia, cán bộ chính quyền, doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ... về hoạt động quản trị của Chính phủ các quốc gia trên toàn thế giới.

Mỗi thước đo về quản trị của WGI được xây dựng bằng cách lấy trung bình có trọng số giá trị dữ liệu từ các nguồn cơ bản tương ứng với khái niệm quản trị được đo lường. Quy trình này được thực hiện theo 03 bước:

Bước 1: Gán dữ liệu từ các nguồn riêng lẻ cho 06 chỉ số tổng hợp. Các câu hỏi riêng lẻ từ các nguồn dữ liệu được gán cho từng chỉ số trong 06 chỉ số tổng hợp. Ví dụ, câu hỏi khảo sát doanh nghiệp về môi trường pháp lý sẽ được gán cho chỉ số tổng hợp “Chất lượng quy định pháp luật” hoặc câu hỏi về tự do báo chí được gán cho chỉ số tổng hợp “Tiếng nói và trách nhiệm giải trình”. Không phải tất cả các nguồn dữ liệu đều bao phủ tất cả các quốc gia trên thế giới, do đó, WGI phải sử dụng các bộ dữ liệu khác nhau cho các quốc gia khác nhau.

Bước 2: Chuẩn hóa giá trị dữ liệu từ các nguồn riêng lẻ theo thang đo từ 0 - 1. Đánh giá của các tổ chức quốc tế khác nhau sử dụng phương pháp khác nhau và các tính toán cho ra các giá trị khác nhau (ví dụ, có tổ chức sử dụng thang điểm từ 1 - 4 để đánh giá, có tổ chức sử dụng thang điểm từ 1 - 7...). Để có thể tổng hợp, tính toán kết quả đánh giá từ các nguồn đa dạng, cần phải đưa các kết quả về cùng một thang đo. Do vậy, WB đã chuẩn hóa dữ liệu từ các nguồn riêng lẻ về thang đo từ 0 - 1, trong đó, giá trị càng cao tương ứng với kết quả càng tốt (dữ liệu được chuẩn hóa lại theo thang đo từ 0 - 1 từ các nguồn dữ liệu có thể truy cập trực tuyến thông qua trang thông tin điện tử chính thức của WGI[9]).

Bước 3: Sử dụng Mô hình các thành phần không được quan sát (UCM) để tổng hợp giá trị trung bình cộng có trọng số của các chỉ số riêng lẻ cho từng nguồn. WB sử dụng công cụ thống kê UCM để các dữ liệu đã được chuẩn hóa theo thang đo từ 0 - 1 có thể sử dụng được nhằm so sánh giữa các nguồn riêng lẻ, sau đó xây dựng giá trị trung bình có trọng số của dữ liệu từ mỗi nguồn cho mỗi quốc gia/nền kinh tế. UCM giả định rằng, dữ liệu được quan sát từ mỗi nguồn có thể biểu thị bằng một hàm tuyến tính của cấp độ quản trị không được quan sát và một biến sai số. Hàm tuyến tính này là khác nhau đối với các nguồn dữ liệu khác nhau, do đó sẽ giải quyết được vấn đề tồn tại về tính không thể so sánh của các đơn vị dữ liệu đã được chuẩn hóa thang đo ở trên. Các ước tính về kết quả quản trị là giá trị trung bình có trọng số của dữ liệu từ mỗi nguồn, với trọng số phản ánh mối tương quan giữa các nguồn dữ liệu.

UCM gán trọng số lớn hơn cho các nguồn dữ liệu có xu hướng tương quan chặt chẽ hơn với nhau. Trọng số này cải thiện độ chính xác thống kê của các chỉ số tổng hợp nhưng thường không ảnh hưởng nhiều đến thứ hạng của các quốc gia trong các chỉ số tổng hợp. Các thước đo tổng hợp về quản trị do UCM tạo ra được tính bằng đơn vị của phân phối chuẩn, với giá trị trung bình bằng 0, độ lệch chuẩn là 1 và các kết quả phân bổ từ khoảng -2,5 đến 2,5, với giá trị cao hơn tương ứng với quản trị tốt hơn.

Trên cơ sở phương pháp này, Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật được WB báo cáo theo 02 cách: (i) Điểm quản trị: Theo giá trị tiêu chuẩn, dao động trong khoảng từ -2,5 đến 2,5; (ii) Xếp hạng phần trăm: Theo thứ hạng phần trăm từ 0 - 100, với giá trị cao hơn tương ứng với kết quả tốt hơn.

Với phương pháp tính toán này, điểm Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật của Việt Nam trong WGI do WB đánh giá năm 2021 là -0,40 điểm, năm 2022 là -0,43 điểm (kết quả năm 2022 mới được WB cập nhật, hiện chưa có kết quả đánh giá cho năm 2023).

1.3.2. Phương pháp tính toán của WIPO

Trên cơ sở kết quả tính toán Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật của WGI do WB thực hiện (kết quả tính toán phân bổ trong khoảng điểm từ -2,5 đến 2,5), WIPO tiếp tục chuẩn hóa điểm giá trị theo thang đo từ 0 - 100 (đây là thang điểm được WIPO áp dụng với toàn bộ 80 chỉ số thành phần của GII), với phương pháp min - max.

Điểm số của Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật của quốc gia A = (điểm giá trị của quốc gia A - điểm giá trị nhỏ nhất của Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật) *100/(điểm giá trị lớn nhất của Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật - điểm giá trị nhỏ nhất của Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật).

Việc chuẩn hóa này bảo đảm tất cả các chỉ số đều có cùng thang đo, giúp thể hiện được đóng góp của từng chỉ số vào điểm của chỉ số tổng hợp.

Trên cơ sở điểm số WGI do WB đánh giá năm 2021, WIPO đã tính toán, chuẩn hóa điểm số của Việt Nam đối với Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật trong GII năm 2023 theo thang điểm 0 - 100 là 31,8 điểm. Điểm số WGI năm 2022 của WB sẽ được WIPO sử dụng trong GII năm 2024 và công bố vào tháng 9/2024.

2. Áp dụng Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật trong điều kiện Việt Nam

2.1. Sự phù hợp của Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật trong điều kiện Việt Nam

Thứ nhất, phù hợp với đặc điểm, mục tiêu phát triển nền kinh tế.

Xem xét các đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam, có thể thấy, GII có cách tiếp cận và các chỉ số được lựa chọn sử dụng đều khá phù hợp. GII không sử dụng trọng số cho bất kì chỉ số hay nhóm chỉ số, trụ cột nào bao gồm cả Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật. Việc sử dụng các chỉ số tính theo GDP hoặc sức mua tương đương và quy mô dân số giúp bảo đảm được tính công bằng trong việc đánh giá, xếp hạng giữa các quốc gia/nền kinh tế.

Hiện nay, Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật được đánh giá từ 08 nguồn dữ liệu với cách thức thu thập thông tin khác nhau và đều tính tới các đặc điểm kinh tế - xã hội của các quốc gia/nền kinh tế. Như vậy, Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật phù hợp và bao trùm các yếu tố về đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam.

Thứ hai, phù hợp với mục tiêu cải thiện chất lượng quy định pháp luật, hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật là thước đo khả năng của Chính phủ trong việc xây dựng và thực thi các chính sách, quy định hợp lý cho phép và thúc đẩy phát triển khu vực tư nhân. Qua kết quả đánh giá của các tổ chức quốc tế đã cho thấy phần nào thực trạng chất lượng quy định pháp luật trong các lĩnh vực được đánh giá, từ đó đề xuất các giải pháp để cải thiện chất lượng quy định pháp luật. Theo đó, mục tiêu đánh giá Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật phù hợp với mục tiêu hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải thiện chất lượng các quy định pháp luật của Việt Nam nhằm thể chế hóa, cụ thể hóa kịp thời, đầy đủ, chính xác các chủ trương, đường lối của Đảng, nội luật hóa các điều ước, cam kết quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, đưa các quy định pháp luật thực sự đi vào cuộc sống, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; đẩy mạnh cải cách hành chính và phòng, chống tham nhũng, lãng phí; cải thiện môi trường kinh doanh; mở rộng và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế[10].

2.2. Một số điểm chưa phù hợp của Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật nếu áp dụng ở Việt Nam

Thứ nhất, GII đo lường hệ thống ĐMST quốc gia, trong đó có trụ cột thể chế trên 03 phương diện: Môi trường thể chế, môi trường pháp lý và môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh lại trụ cột thể chế trong báo cáo của WIPO tập trung vào các quy định pháp luật nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ĐMST mà không phải tất cả các quy định pháp luật nói chung. Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật là thước đo khả năng của Chính phủ trong việc xây dựng, thực hiện các chính sách, quy định hợp lý cho phép và thúc đẩy phát triển khu vực sản xuất, kinh doanh. Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật trong Bộ WGI và được WIPO sử dụng chủ yếu đánh giá các quy định pháp luật trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư và môi trường kinh doanh. Điều này làm cho việc áp dụng Chỉ số này trong điều kiện Việt Nam là chưa toàn diện và bao quát.

Thứ hai, Chỉ số này được đánh giá bởi các tổ chức nước ngoài độc lập. Điều này bảo đảm các thông tin được thu thập, đánh giá và báo cáo là khách quan, trung thực. Tuy nhiên, đánh giá được thực hiện bởi các tổ chức nước ngoài cũng có những hạn chế như không có thông tin đối chứng, kiểm định để bảo đảm tính đại diện, kết quả phản ánh đúng thực tế. Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật của Việt Nam được WB sử dụng từ 08 nguồn dữ liệu mềm (khảo sát ý kiến các đối tượng khác nhau), trong khi đó, trong nước không có các khảo sát, đánh giá tương tự để đối chiếu, so sánh. Một số đánh giá có tính tương đồng như năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), cải cách hành chính (PAR Index) nhưng phương pháp, cách tiếp cận khác nhau nên khó tiến hành so sánh. Các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam không có cơ hội, điều kiện để có thể cung cấp thông tin, phản biện lại các đánh giá của các tổ chức quốc tế.

Thứ ba, phương pháp đánh giá của các tổ chức quốc tế chủ yếu dựa trên cảm nhận, đánh giá về quản trị theo ý kiến của những người tham gia khảo sát (người dân, doanh nghiệp, cán bộ sứ quán, cán bộ của các cơ quan, tổ chức ở khu vực công và khu vực tư...). Do đó, việc đánh giá có thể mang tính chủ quan nhất định (vì nắm bắt cảm nhận) nên ở góc độ nào đó không phản ánh hết được chất lượng của quy định pháp luật. Bên cạnh đó, đối tượng tham gia khảo sát, đánh giá trong một số trường hợp có thể không bảo đảm tính đại diện.

Thứ tư, theo Báo cáo Nghiên cứu sự phù hợp và những hạn chế của GII áp dụng trong điều kiện Việt Nam (năm 2023) cho thấy, Chỉ số được đánh giá tốt chưa chắc đã phản ánh năng lực thực sự của quốc gia đó ở nội dung tương ứng. Ngược lại, kết quả GII kém ở nội dung nào đó chưa chắc đã là điểm yếu của quốc gia này. Điều này có thể đến từ nguyên nhân như năm dữ liệu được sử dụng để đánh giá. Năm dữ liệu gần nhất được sử dụng đánh giá cho Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật trong Báo cáo GII năm 2023 là năm 2021, như vậy có độ trễ 02 năm so với thực tế.

Nhìn chung, Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật khi áp dụng vào điều kiện Việt Nam còn gặp một số khó khăn, hạn chế nhất định về mặt dữ liệu và tính bao trùm. Điều này có thể dẫn đến Chỉ số này không đưa ra được đánh giá bao quát và toàn diện nhất trong bối cảnh của Việt Nam.

Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật là một chỉ số quan trọng trong GII. Việc cải thiện chất lượng các quy định pháp luật là một nhiệm vụ quan trọng cần được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo sát sao cho các bộ, ngành, địa phương thực hiện thường xuyên, liên tục để tạo ra môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định, thuận lợi, hấp dẫn nhằm thu hút đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, nâng tầm hình ảnh và vị thế đất nước trong khu vực Đông Nam Á và thế giới./.

Nguyễn Hồng Tuyến

Vụ trưởng Vụ Pháp luật, Văn phòng Chính phủ

Nguyễn Thị Phương Mai

Học viện Khoa học, công nghệ và Đổi mới sáng tạo, Bộ Khoa học và công nghệ

[1]. Tại Phụ lục IV Nghị quyết 19/2017/NQ-CP ngày 06/02/2017 của Chính phủ, Chỉ số này được dịch sang tiếng Việt là “Cải thiện chất lượng các quy định pháp luật”.

[2]. Tổng hợp thông tin tại địa chỉ: http://info.worldbank.org/governance/wgi/index.aspx#home.

[3]. Tổ chức phi Chính phủ có trụ sở chính ở Đức thực hiện, với mục tiêu nghiên cứu các thách thức, vấn đề xã hội và đề xuất giải pháp.

[4]. Tổ chức chuyên cung cấp thông tin, có trụ sở chính ở London, Anh.

[5]. Tổ chức phi Chính phủ có trụ sở tại Hoa Kỳ.

[6]. Tổ chức tư vấn, thực hiện các đánh giá về thị trường nhằm cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư.

[7]. Tổ chức có trụ sở đặt tại Hoa Kỳ, chuyên cung cấp dịch vụ đánh giá các rủi ro về chính trị tại các thị trường (quốc gia/nền kinh tế) nhằm phục vụ các nhà đầu tư.

[8]. Tổ chức phi Chính phủ có trụ sở đặt tại Hoa Kỳ.

[9]. https://www.worldbank.org/en/publication/worldwide-governance-indicators/interactive-data-access.

[10]. Báo cáo số 415/BC-BTP ngày 15/12/2023 của Bộ Tư pháp về tình hình triển khai thực hiện Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định pháp luật năm 2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 408), tháng 7/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: