Chủ nhật 31/05/2026 06:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chính quyền địa phương ở Cộng hòa Pháp và gợi mở kinh nghiệm cho Việt Nam

Cộng hòa Pháp thực hiện cơ chế phân quyền mạnh cho chính quyền địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương thành lập chính quyền địa phương tự quản. Nguyên tắc phân chia chức năng, nhiệm vụ cho chính quyền địa phương các cấp là chỉ quy định các cấp chính quyền địa phương không được làm những gì, còn lại thì chính quyền địa phương đều được làm. Do đó, chính quyền địa phương ở Cộng hòa Pháp có tính tự quản cao, chủ động và linh hoạt trong thực thi công vụ.


1. Khái niệm chính quyền địa phương

Chính quyền địa phương là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến, thông dụng trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Tuy nhiên, thuật ngữ này vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất cả về phương diện khoa học pháp lý và khoa học hành chính. Sự khác biệt và đa dạng trong cách hiểu thuật ngữ này phần lớn là do sự khác biệt về lý luận, thực tiễn trong xây dựng, tổ chức chính quyền địa phương ở từng quốc gia trên thế giới. Để hiểu rõ được thuật ngữ “chính quyền địa phương”, cần xem xét từ hai khái niệm gốc “chính quyền” và “địa phương”.

Theo Từ điển mở Wiktionary, thuật ngữ chính quyền được hiểu ở góc độ danh từ là “tổ chức bộ máy điều hành, quản lý công việc của Nhà nước và xã hội trong một quốc gia”[1]. Từ điển tiếng Việt[2] có 38.410 mục từ, nhưng không có mục từ “chính quyền địa phương”, mà chỉ có mục từ “chính quyền”, được giải thích theo hai nghĩa: “1. Chính quyền là quyền điều khiển bộ máy nhà nước. Nắm chính quyền. Chính quyền trong tay nhân dân. 2. Chính quyền là bộ máy điều khiển, quản lý công việc của Nhà nước. Chính quyền dân chủ. Các cấp chính quyền”. Theo Từ điển Hiến pháp online của Liên bang Nga, thì chính quyền địa phương được hiểu là “tất cả các cấp quyền lực bất kỳ hoạt động trong phạm vi địa phương. Theo cách này, chính quyền địa phương ở Liên bang Nga bao gồm cả chính quyền cấp bang và chính quyền cấp tự quản địa phương”[3].

Ở Việt Nam, thuật ngữ chính quyền địa phương đã được sử dụng rộng rãi từ lâu, có thể tìm thấy thuật ngữ này trong các văn kiện của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước, các sách báo, các bài viết trong các tạp chí khoa học phát hành trong nước. Tuy nhiên thuật ngữ ngày ở Việt Nam vẫn chưa có cách hiểu chung, thống nhất. Theo PGS.TS. Thái Vĩnh Thắng và các đồng tác giả của Đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân địa phương (Góp phần sửa đổi chế định Hội đồng nhân dân trong Hiến pháp 1992)”, “Chính quyền địa phương ở nước ta là một bộ phận hợp thành của chính quyền nhà nước thống nhất của nhân dân, bao gồm các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho nhân dân địa phương, do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra (Hội đồng nhân dân) và các cơ quan, tổ chức khác được thành lập trên cơ sở các cơ quan đại diện, quyền lực nhà nước này theo quy định của Hiến pháp và pháp luật (Ủy ban nhân dân, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các ban của Hội đồng nhân dân …) nhằm quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương, trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ và kết hợp giữa lợi ích của nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước”[4].

Về phương diện pháp luật nhà nước, chính quyền địa phương chính thức được quy định trong Chương IX của Hiến pháp năm 2013 và được cụ thể hóa trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2016. Theo đó, “Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Điều 111, Hiến pháp năm 2013). Và tại Điều 2 – Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, đơn vị hành chính được phân chia cụ thể như sau: “Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có: 1. Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); 2. Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện); 3. Xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã); 4. Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt.”

2. Chính quyền địa phương ở Cộng hòa Pháp

2.1. Về phân chia đơn vị hành chính

Theo Điều 72, Hiến pháp Cộng hòa Pháp năm 1958 quy định: “Các đơn vị hành chính lãnh thổ hiến định của Cộng hoà Pháp bao gồm xã, tỉnh và các lãnh thổ hải ngoại. Các đơn vị hành chính lãnh thổ khác được thành lập theo luật”. Theo Đạo luật ngày 2/3/1982, vùng mới được chuyển thành một cấp chính quyền địa phương có tư cách pháp nhân độc lập của tự quản địa phương. Hiện nay, “Cộng hòa Pháp được chia thành 26 vùng (đại khu): 22 trong Pháp quốc bản thổ (21 ở bản thổ; 1 là "lãnh thổ tập thể" Corse, trên đảo Corse, thường được gọi là một “đại khu” theo cách nói thông thường), và 4 đại khu hải ngoại (DOM – TOM). Các vùng được chia tiếp thành 100 tỉnh (hành tỉnh). Các hành tỉnh được đánh số (chủ yếu theo bảng chữ cái) và số này được dùng làm mã bưu chính cũng như mã trên bảng số xe. Các hành tỉnh lại được chia tiếp thành 341 huyện (chuyên khu), nhưng các chuyên khu không có hội đồng lập pháp theo bầu cử và chỉ là đơn vị hành chính của đất nước. Các chuyên khu được chia thành 4.032 tổng(hương), các hương này cũng chỉ có ý nghĩa hành chính. Cuối cùng, các hương được chia thành 36.682 xã (công xã), đây là các chính quyền tự quản với hội đồng được bầu cử riêng biệt (hội đồng tự quản).

Đại khu, hành tỉnh và công xã đều là “lãnh thổ tập thể”, có nghĩa họ có một cơ quan hành pháp và lập pháp riêng biệt, trong khi các chuyên khu và hương chỉ đơn giản là các đơn vị hành chính. Tới tận năm 1940, các chuyên khu vẫn là các lãnh thổ tập thể với một cơ quan lập pháp bầu cử riêng biệt (hội đồng chuyên khu), nhưng dưới thời Vichy, Pháp cơ quan này đã bị ngừng hoạt động và chính thức bị hủy bỏ bởi nền Đệ Tứ Cộng hòa Pháp năm 1946. Theo lịch sử, các hương cũng từng là các lãnh thổ chung với cơ quan lập pháp riêng biệt. Bốn hành tỉnh hải ngoại (cũng tức là bốn đại khu hải ngoại) là một phần trong tổng thể nước Pháp (và Liên minh Châu Âu) và vì thế có quy chế tương tự như các hành tỉnh thuộc bản thổ. Ngoài 26 đại khu và 100 hành tỉnh, Cộng hòa Pháp còn gồm sáu khu vực hải ngoại, một “thực thể địa phương có địa vị đặc thù” (New Caledonia), một lãnh địa hải ngoại và một hòn đảo ở Thái Bình Dương. Các khu vực hải ngoại và lãnh địa hải ngoại là một phần hình thành nên Cộng hòa Pháp nhưng không hình thành nên Liên minh Châu Âu hay vùng tài chính của nó. Các lãnh thổ Thái Bình Dương tiếp tục sử dụng đồng franc Thái Bình Dương có giá trị ổn định với đồng euro. Trái lại, bốn đại khu (hành tỉnh) hải ngoại sử dụng đồng franc Pháp và hiện dùng đồng euro”[5].

Như vậy, ở Cộng hòa Pháp, các đơn vị hành chính hoàn chỉnh có đủ cơ quan hành pháp, lập pháp chỉ bao gồm: Các vùng, tỉnh và xã. Còn các đơn vị hành chính huyện, tổng chỉ là các đơn vị hành chính đơn giản, thực hiện một số chức năng nhất định như: Bầu cử...

2.2. Về chức năng, nhiệm vụ của chính quyền địa phương

Điều 72 Hiến pháp Cộng hòa Pháp quy định: “Các đơn vị hành chính lãnh thổ này được quản lý theo hình thức tự quản bởi các Hội đồng dân cử địa phương và theo các điều kiện do pháp luật quy định. Trong mỗi tỉnh và mỗi lãnh thổ đều có một đại diện của Chính phủ chịu trách nhiệm đảm bảo cho lợi ích quốc gia, kiểm tra về mặt hành chính và đảm bảo sự tuân thủ pháp luật”.

2.2.1. Chức năng, nhiệm vụ của đơn vị hành chính cấp vùng – cấp chính quyền địa phương Cộng hòa Pháp

Trong hệ thống cơ quan quản lý vùng sẽ có Hội đồng vùng và Vùng trưởng. Hội đồng vùng sẽ do nhân dân trong đơn vị hành chính vùng trực tiếp bầu phổ thông ra với nhiệm kỳ 6 năm. Thông qua các kỳ họp, Hội đồng vùng sẽ tiến hành thống nhất các kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, giao thông… Để thực hiện có hiệu quả các công việc, Hội đồng vùng thành lập các ban chuyên môn, như: Ban kinh tế - xã hội; Ban ngân sách; Ban văn hóa – giáo dục… các ban này sẽ có nhiệm vụ tham mưu cho hội đồng về các công việc liên quan đến chuyên môn của từng ban đảm nhiệm. Chủ tịch hội đồng vùng được bầu ra trong số các đại biểu nằm trong Hội đồng vùng với nhiệm kỳ là 6 năm. Chủ tịch hội đồng vùng chủ trì các cuộc họp của Hội đồng vùng để giải quyết các công việc, đồng thời nắm giữ vị trí đứng đầu, lãnh đạo cơ quan hành chính vùng để thực thi các nghị quyết, chính sách do Hội đồng vùng ban hành. Vùng trưởng không do nhân dân hay đại biểu Hội đồng vùng bầu ra, vùng trưởng sẽ được Thủ tưởng hoặc Bộ trưởng bổ nhiệm về từng vùng theo hình thức tản quyền từ trung ương về địa phương. Vùng trưởng sẽ chịu trách nhiệm phối hợp với Hội đồng vùng giải quyết và đảm bảo các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của vùng được thực hiện, đồng thời sẽ thực hiện nhiệm vụ giám sát, kiểm tra tính hợp pháp trong thực thi công vụ của các đơn vị hành chính địa phương trực thuộc Hội đồng vùng.

2.2.2. Chức năng, nhiệm vụ của đơn vị hành chính cấp tỉnh – cấp chính quyền địa phương Cộng hòa Pháp

Đơn vị hành chính tỉnh về mặt tổ chức không có sự khác biệt với đơn vị hành chính vùng. Cơ quan quản lý tỉnh gồm có Hội đồng tỉnh và Tỉnh trưởng. Hội đồng tỉnh do nhân dân trong tỉnh trực tiếp bầu ra dưới hình thức phổ thông đầu phiếu theo nhiệm kỳ 6 năm. Để nêu cao sự cam kết trách nhiệm và đảm bảo các công việc ở địa phương được thực thi có hiệu quả, cứ 3 năm Hội đồng tỉnh tiến hành bầu lại 1/3 số lượng đại biểu để tiến hàng sàng lọc ra những đại biểu làm việc kém hiệu quả. Các ban chuyên môn trực thuộc Hội đồng tỉnh: Ban kinh tế, ban ngân sách, ban văn hóa – giáo dục… sẽ thực hiện chức năng tham mưu, tham vấn về mặt chuyên môn cho Hội đồng khi họp bàn về các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của từng ban. Đứng đầu Hội đồng tỉnh là Chủ tịch hội đồng tỉnh được bầu ra từ kỳ họp đầu tiên với nhiệm kỳ 6 năm, Chủ tịch hội đồng tỉnh là người chủ trì các phiên họp của Hội đồng tỉnh để đưa ra các kế hoạch, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Tỉnh trưởng không nằm trong cơ cấu tổ chức của Hội đồng tỉnh, mà do Thủ tướng hoặc Hội đồng Bộ trưởng trực tiếp bổ nhiệm cho các tỉnh. Tỉnh trưởng kết hợp với Hội đồng tỉnh để cùng thực hiện các công việc ở địa phương, tiến hành kiểm soát tính hợp pháp trong thực thi công vụ của các cơ quan nằm trong Hội đồng tỉnh, nếu phát hiện ra những sai trái, bất hợp pháp thì tỉnh trưởng sẽ đưa các vụ việc đó ra tòa án hành chính để giải quyết, đồng thời thực hiện nhiệm vụ giám sát hoạt động của các cơ quan trực thuộc Hội đồng tỉnh chủ yếu về các vấn đề: tài chính, ngân sách, để tài chính, ngân sách được phân bổ và sử dụng có hiệu quả.

2.2.3. Chức năng, nhiệm vụ của đơn vị hành chính cấp xã – cấp chính quyền địa phương Cộng hòa Pháp

Cơ quan quản lý cấp xã của Cộng hòa Pháp chỉ có Hội đồng xã, đến cấp đơn vị hành chính này thì chính quyền trung ương không còn can thiệp sâu vào cơ cấu tổ chức cấp xã theo hình thức tản quyền như chính quyền cấp vùng, cấp tỉnh. Hội đồng xã và Xã trưởng được nhân dân trong xã bầu trực tiếp dưới hình thức phổ thông đầu phiếu với nhiệm kỳ 6 năm. Số lượng đại biểu trong Hội đồng xã từ 9 – 69 đại biểu tương ứng với số lượng dân cư của xã đó. Hội đồng xã tiến hành họp thường kỳ mỗi tháng 1 lần để giải quyết các công việc của địa phương. Đơn vị hành chính cấp xã có tính tự quản cao nhất trong số đơn vị hành chính các cấp của Cộng hòa Pháp. Hội đồng xã toàn quyền tự quyết định cách thức giải quyết các công việc của địa phương thông qua các nghị quyết phiên họp. Các xã thường có xu hướng liên kết với nhau để cùng giải quyết các công việc có tính liên kết cộng đồng cao: Giáo dục, y tế, giao thông, an ninh trật tự, môi trường...

Xã trưởng là thành viên của Hội đồng xã, phải có quốc tịch Pháp, và được bầu lên tại kỳ họp đầu tiên của Hội đồng xã theo hình thức phổ thông đầu phiếu. Xã trưởng không thể bị Hội đồng xã bãi nhiệm, khi bãi nhiệm Xã trưởng phải có quyết định của Hội đồng Bộ trưởng. Xã trưởng có hai chức năng chính: là người chủ trì các phiên họp và thực thi các nghị quyết của Hội đồng xã, tiến hành bổ nhiệm các chức danh dân sự của xã; thực hiện chức năng đại diện cho chính quyền trung ương, trực tiếp công bố, triển khai các đạo luật, chính sách của chính quyền trung ương cho cấp xã. Ở các xã sẽ có chức danh Xã phó, được bầu ra để giúp việc cho Xã trưởng, số lượng Xã phó sẽ phụ thuộc vào tính chất đặc thù, số lượng dân cư của từng xã.

2.3. Mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương ở Cộng hòa Pháp

Cộng hòa Pháp là quốc gia quản lý chính quyền địa phương dưới hai hình thức chủ yếu là phân quyền và tản quyền, mục đích là để đảm bảo sự quản lý thống nhất, tập trung vào chính quyền trung ương và vừa để đảm bảo tính tự quản cho chính quyền địa phương. Cơ quan tản quyền của chính quyền trung ương ở chính quyền địa phương là các chức danh: Vùng trưởng, tỉnh trưởng. Các chức danh này sẽ có hai nhiệm vụ chính: Một mặt, là phối hợp với chính quyền địa phương cấp đó thực thi và giải quyết các công việc của địa phương, điều hòa các công việc của địa phương, tạo điều kiện cho các đại biểu dân cử ở địa phương được tham gia vào quá trình ra các quyết định của chính quyền trung ương. Thay mặt địa phương để giải quyết các mối quan hệ, các công việc với chính quyền cấp trên và cấp trung ương. Mặt khác, các chức danh này thay mặt chính quyền trung ương giám sát và đảm bảo tính hợp pháp trong việc thực thi công vụ của các cơ quan thuộc chính quyền địa phương, đồng thời, thực hiện báo cáo kết quả hoạt động của chính quyền địa phương với chính quyền trung ương.

Cộng hòa Pháp thực hiện cơ chế phân quyền mạnh cho chính quyền địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương thành lập chính quyền địa phương tự quản. “Các đơn vị hành chính địa phương được hưởng chế độ bình đẳng và thống nhất, để quản lý lợi ích của nhân dân địa phương, dựa trên một số thẩm quyền được Nhà nước chuyển giao… các đơn vị hành chính địa phương có phương tiện hoạt động riêng: nhân sự (thuộc về nền công vụ địa phương) và nguồn tài chính (để đảm bảo quyền tự do hành chính)[6]. Ở Cộng hòa Pháp, nguyên tắc phân chia chức năng, nhiệm vụ cho chính quyền địa phương các cấp là chỉ quy định các cấp chính quyền địa phương không được làm những gì, còn lại thì chính quyền địa phương đều được làm. Do đó chính quyền địa phương ở Cộng hòa Pháp có tính tự quản cao, chủ động và linh hoạt trong thực thi công vụ.

3. Đánh giá về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở Cộng hòa Pháp

Một là, chính quyền địa phương Cộng hòa Pháp được tổ chức và hoạt động không theo hệ thống thứ bậc và là một dạng chính quyền địa phương tự quản có tính triệt để cao. Qua nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương các cấp vùng, tỉnh, xã của Cộng hòa Pháp cho thấy, các cấp này hoạt động có tính độc lập cao và chỉ tuân theo pháp luật. Đặc trưng của hệ thống thứ bậc đó là quyền chỉ đạo và quyền kiểm tra, thực tế ở Cộng hòa Pháp cho thấy, chính quyền địa phương cấp dưới không bị chỉ đạo và kiểm tra của chính quyền địa phương cấp trên. Tính tự quản của chính quyền địa phương ở Cộng hòa Pháp về mặt pháp lý là được Hiến pháp bảo vệ, theo đó, chính quyền địa phương được tự chủ trong việc thành lập ra Hội đồng quản lý địa phương, giải quyết các công việc của địa phương thông qua các kỳ họp của Hội đồng, được tự chủ trong công tác nhân sự ở địa phương và được quyết định về ngân sách và tài chính cho hoạt động của chính quyền địa phương.

Hai là, chính quyền địa phương Cộng hòa Pháp được tổ chức tinh gọn và có tính phù hợp với đặc điểm của từng đơn vị hành chính địa phương. Cơ cấu tổ chức của các cấp “chính quyền địa phương hoàn chỉnh” ở Cộng hòa Pháp chỉ bao gồm: Cấp vùng có Hội đồng vùng, vùng trưởng, các cơ quan chuyên môn giúp việc cho Hội đồng vùng và vùng trưởng; Cấp tỉnh có Hội đồng tỉnh, tỉnh trưởng, các cơ quan chuyên môn giúp việc cho Hội đồng tỉnh và tỉnh trưởng; Cấp xã có Hội đồng xã, xã trưởng và các nhân sự chuyên môn. Từ cơ cấu tổ chức trên cho thấy, chính quyền địa phương ở mỗi cấp đơn vị hành chính luôn có giới hạn thành lập các cơ quan, đơn vị ở mức thấp nhất có thể, trong quá trình hoạt động sẽ phụ thuộc vào đặc điểm của từng đơn vị hành chính để thành lập, bổ sung hoặt rút gọn cơ cấu tổ chức và biên chế nhân sự. Điều này có thể thấy rõ thông qua đặc điểm cơ cấu tổ chức của 3 thành phố lớn Paris, Lyon và Marseille, theo Luật Chính quyền địa phương năm 1982, ba thành phố lớn này được phép thành lập thêm các quận (có Hội đồng quận và quận trưởng), được bầu cùng thời gian với các Hội đồng xã. Hội đồng quận ở ba thành phố lớn này có chức năng, nhiệm vụ giống với chức năng, nhiệm của các cấp chính quyền vùng, tỉnh ở các thành phố khác. Hội đồng xã ở các thành phố này được trao một cách hạn chế các công việc liên quan đến quản lý, thường chỉ đảm nhận các công việc như quản lý các cơ sở vật chất của các hoạt động xã hội, văn hóa, thể thao và tham mưu về quản lý đô thị. Ở bốn khu hải ngoại (DOM – TOM) thì cơ cấu tổ chức chính quyền địa phương lại gọn nhẹ hơn, theo đó, bốn đơn vị hành chính hải ngoại này vừa có tư cách tỉnh, vừa có tư các vùng, cơ cấu tổ chức chỉ có một tỉnh trưởng và hai hội đồng (Hội đồng vùng và hội đồng tỉnh).

Ba là, cơ chế kiểm soát chính quyền địa phương Cộng hòa Pháp gọn nhẹ và đem lại hiệu quả cao. Việc giám sát tính hợp pháp trong thực thi công vụ của chính quyền địa phương ở Cộng hòa Pháp là thông qua các chức danh tản quyền và Tòa hành chính. Chức danh tản quyền thực hiện chức năng kiểm soát ở địa phương gồm có vùng trưởng, tỉnh trưởng, các chức danh này sẽ tiến hành kiểm soát tính hợp pháp trong thực thi công vụ của các cơ quan, nhân sự trực thuộc hội đồng, khi phát hiện ra những bất hợp lý thì sẽ chuyển vụ việc ra tòa hành chính để giải quyết, tòa hành chính sẽ đảm nhiệm chức năng trọng tài xét xử các vụ việc liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước ở địa phương. Tòa hành chính là cơ quan hoạt động độc lập với chính quyền địa phương và chỉ tuân theo pháp luật và Tòa hành chính là cơ quan duy nhất có thẩm quyền hủy các quyết định bất hợp pháp của chính quyền địa phương, đồng thời thực hiện chức năng giám sát các hoạt động của chính quyền địa phương. Chỉ có thông qua cơ chế như vậy thì hoạt động kiểm soát mới đảm bảo tính độc lập, khách quan.

4. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong tổ chức hoạt động của chính quyền địa phương

Xét tổng thể, tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở Việt Nam có sự khác biệt tương đối lớn với tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở Cộng hòa Pháp. Sự khác biệt này do các đặc điểm về chính trị, hình thức nhà nước, đảng phái… quy định, nhưng qua nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở Cộng hòa Pháp, có thể rút ra một số gợi mở tích cực, tiến bộ để nghiên cứu và vận dụng trong việc tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương Việt Nam:

Thứ nhất, về cơ cấu tổ chức. Việc tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở Cộng hòa Pháp luôn đề cao tính gọn nhẹ và phù hợp với đặc điểm từng vùng, trong cơ cấu tổ chức của Hội đồng thì cứ 3 năm bầu lại 1/3 số lượng đại biểu để đảm bảo tính trách nhiệm trong hoạt động của các đại biểu hội đồng. Về đặc điểm này, chính quyền địa phương ở Việt Nam nên xem xét, nghiên cứu và áp dụng. Theo khoản 1 Điều 4 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định: “Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại Điều 2 của Luật này”, nghĩa là, ở các đơn vị hành chính của nước ta được pháp luật công nhận là cấp chính quyền địa phương (bao gồm đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã) thì đều được tổ chức hai cơ quan là Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Như vậy, dẫn đến thực trạng chính quyền địa phương cấp thấp là bản sao của chính quyền địa phương cấp cao hơn, nếu cơ chế quản lý không tốt sẽ dẫn đến thực trạng bộ máy chính quyền địa phương cồng kềnh, nhiều tầng nấc. Trước đó, theo Nghị quyết 26 năm 2008 của Quốc hội quyết định thí điểm Đề án không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường và bắt đầu thực hiện đề án từ ngày 25/4/2009 cho đến khi Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 có hiệu lực thì Đề án thí điểm này sẽ chấm dứt hiệu lực. Thông qua báo cáo của Bội Nội vụ về kết quả thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường ở một số đơn vị hành chính địa phương, thì việc tổ chức thí điểm đã mang lại nhiều kết quả tích cực như: Bộ máy chính quyền địa phương các cấp được thí điểm gọn nhẹ hơn bộ máy chính quyền trước khi thí điểm, tinh giảm được biên chế, cán bộ, công chức nhà nước làm việc với tinh thần trách nhiệm cao hơn, công việc được thực hiện nhanh chóng, tình trạng ùn tắc công việc gần như không có, các biểu hiện như quan liêu, hách dịch giảm đáng kể. Tuy nhiên, việc thực hiện thí điểm cũng gặp một số khó khăn, vướng mắc là: Một trong những chức năng chính của Hội đồng nhân dân là chức năng giám sát, việc thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường ở các đơn vị hành chính này dẫn đến cơ chế giám sát còn chưa chặt chẽ, một số cán bộ, công chức chưa thạo việc, nhưng so với những kết quả tích cực đã đạt được nêu trên từ việc thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường mang lại thì những bất cập, hạn chế này không đáng kể và có thể tìm ra nhiều biện pháp khắc phục dứt điểm. Việc tổ chức thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường là một trong những biện pháp giúp tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương gọn nhẹ, tạo được tính phù hợp với đặc điểm từng cấp đơn vị hành chính, vì vậy, nước ta nên xem xét và tiếp tục triển khai, áp dụng. Về số lượng đại biểu hội đồng, nên nghiên cứu và áp dụng biện pháp cứ 2,5 năm hoặc 3 năm bầu lại 1/3 số lượng đại biểu hội đồng, qua việc bầu lại như này sẽ sàng lọc ra những đại biểu làm việc thiếu trách nhiệm hoặc không có năng lực, đồng thời, nêu cao được tinh thần trách nhiệm trong công việc của từng đại biểu, tránh tình trạng đại biểu được bầu vào chỉ cho đủ số lượng, đủ biên chế mà làm việc lại không có hiệu quả. Việc tổ chức bầu lại phải đảm bảo được tính khách quan, dân chủ, phản ánh đúng được năng lực của từng đại biểu, tránh tình trạng bầu cử lại chỉ mang tính chất hình thức.

Thứ hai, về phân cấp, phân quyền, ủy quyền. Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ở Cộng hòa Pháp quy định chế độ tự quản cho chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương ở Cộng hòa Pháp được hoàn toàn tự quyết về nhân sự, tài chính, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Về phương diện này, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 của Việt Nam đã quy định điều kiện, hình thức, cơ chế phân quyền, phân cấp và ủy quyền cho chính quyền địa phương, đánh dấu một bước chuyển biển quan trong về cả tư duy và hành động pháp lý trong tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương. Tuy nhiên, việc quy định điều kiện, cơ chế phân quyền, phân cấp và ủy quyền trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương của Việt Nam còn chung chung, chưa thật sự cụ thể. Để áp dụng cơ chế phân quyền, phân cấp và ủy quyền một cách thực sự có hiệu quả và triệt để cho tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương Việt Nam, hướng đến chính quyền địa phương tự quản, thiết nghĩ, chúng ta cần có thêm các văn bản pháp lý hướng dẫn một cách cụ thể, chi tiết từng điều, khoản của Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Tổ chức chính quyền địa phương nên theo xu hướng chỉ quy định những gì chính quyền địa phương không được làm để tạo ra tính mở trong hoạt động của các cấp chính quyền địa phương.

Thứ ba, về cơ chế kiểm soát. Như đã trình bày, ở Cộng hòa Pháp, cơ chế kiểm soát của chính quyền trung ương đối với chính quyền địa phương thông qua chức danh tản quyền và Tòa án hành chính. Việc tổ chức cơ chế kiểm soát như vậy có nhiều ưu điểm như tinh gọn bộ máy, hoạt động kiểm soát được thực hiện độc lập, khách quan, thông qua cơ chế kiểm soát của Tòa hành chính thì mọi vụ việc sẽ được giải quyết khách quan, công tâm và không bị chi phối bởi bất cứ tổ chức, cá nhân nào, vì Tòa hành chính hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Để đảm bảo tính thượng tôn của pháp luật, mọi cơ quan trong tổ chức và hoạt động đều tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, chính quyền nhà nước Việt Nam nói chung và chính quyền địa phương Việt Nam nói riêng nên nghiên cứu, áp dụng cơ chế kiểm soát tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước qua cơ chế Tòa hành chính. Thông qua cơ chế này, mọi việc sẽ được xử lý khách quan, công bằng và không còn tình trạng, cơ chế xin cho và hoạt động không tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước.

Có thể nói, thông qua nghiên cứu mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở Cộng hòa Pháp, có thể rút ra nhiều đặc điểm tiến bộ và tích cực mà trong tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương nước ta có thể xem xét, nghiên cứu và áp dụng. Đặc biệt trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, việc cải cách hành chính nhà nước nói chung và cải cách hành chính địa phương nói riêng thực sự là cần thiết để đảm bảo các cơ quan nhà nước đều được tổ chức gọn nhẹ và hoạt động có hiệu quả. Tuy nhiên việc nghiên cứu và áp dụng các đặc điểm tiến bộ từ chính quyền địa phương ở Cộng hòa Pháp cần được tiến hành một cách thận trọng, việc áp dụng này phải được xem xét một cách tổng thể và đặt trong mối quan hệ với các yếu tố, đặc điểm: chính trị, thể chế nhà nước, tính đặc thù của địa phương Việt Nam, để từ đó có sự vận dụng một cách chính xác và hiệu quả, tránh tình trạng áp dụng dập khuôn, máy móc./.

Nguyễn Phú Quang
Đại học Thủ đô Hà Nội


[1] https://vi.wiktionary.org/wiki/ch%C3%ADnh_quy%E1%BB%81n

[2] Viện Ngôn ngữ học thuộc Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia do Hoàng Phê chủ biên, xuất bản năm 1995, tr.157.

[3] http://constitutional_law.academic.ru/639.

[4] Đề tài Khoa học cấp Bộ, Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND địa phương (Góp phần sửa đổi chế định HĐND trong Hiến pháp 1992)” (Chủ biên: PGS.TS. Thái Vĩnh Thắng), Cơ quan chủ trì: Viện Khoa học pháp lý Bộ Tư pháp, Hà Nội 2012, tr.20.

[5] https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A1p

[6] Rênốtđơ Đênoaxơ đờ Xanh Mác, 2002. Bàn về hành chính Pháp (sách chuyên khảo). NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, Việt Nam, tr. 101-102.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: