Thứ sáu 16/01/2026 17:35
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chính sách pháp luật tố tụng hình sự theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng

Bộ luật Tố tụng hình sự có nhiệm vụ bảo đảm việc phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

1. Về mục tiêu của chính sách pháp luật tố tụng hình sự
Bộ luật Tố tụng hình sự có nhiệm vụ bảo đảm việc phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Mặc dù pháp luật có xác định phải xử lý công minh, không làm oan người vô tội, nhưng ở vị thế độc quyền chân lý, sự chủ quan là khó tránh khỏi. Với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi phải có nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính đủ bảo đảm để pháp luật và công lý được tôn trọng[1], do đó, cần đánh giá lại một cách cụ thể hơn mục đích của tố tụng hình sự (TTHS).
Chính sách pháp luật hình sự nhằm đáp ứng ngăn ngừa có hiệu quả và xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm hình sự, đặc biệt là các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội tham nhũng và các loại tội phạm có tổ chức; bảo vệ trật tự, kỷ cương; bảo đảm và tôn trọng dân chủ, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân[2]. Như vậy, chính sách pháp luật TTHS trong thời gian tới phải hướng tới mục tiêu giải quyết vụ án hình sự khách quan mà nền tảng là dựa trên cơ chế tranh tụng, chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, đảm bảo xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội, giáo dục công dân ý thức tôn trọng pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm Nhà nước ta thực sự là của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
2. Định hướng về mô hình tố tụng
Mô hình TTHS nước ta thời gian qua đã phát huy tác dụng tích cực trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và từng bước đáp ứng yêu cầu bảo đảm dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong điều kiện trình độ dân trí cũng như kinh tế còn thấp. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực vẫn cho thấy sự mờ nhạt, thụ động của các chủ thể khác ngoài cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) trong việc đi tìm sự thật của vụ án, mất cân bằng giữa các chủ thể trong quá trình xác định sự thật khách quan của vụ án. Hạn chế này cho thấy, chẳng những nó hạn chế khả năng xác định sự thật của vụ án mà còn ảnh hưởng tới các nguyên tắc khác của TTHS[3].
Duy trì mô hình TTHS hiện nay còn bảo đảm tính thống nhất của các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước xã hội chủ nghĩa trong việc tổ chức hệ thống các cơ quan THTT nói riêng cũng như hệ thống các cơ quan nhà nước khác và toàn bộ hệ thống chính trị trong xã hội ta và các điều kiện hiện đã có của Việt Nam về năng lực của đội ngũ trong các cơ quan THTT, điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị của các cơ quan THTT và trình độ pháp lý của xã hội ta cũng như sự hội nhập quốc tế để bảo đảm tính đồng bộ, hiện đại, dân chủ, công khai, minh bạch, liêm chính, tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Vì vậy, tiếp tục duy trì và phát huy những ưu điểm vốn có của mô hình TTHS thẩm vấn, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Khắc phục những hạn chế của mô hình tố tụng tranh tụng và mô hình tố tụng thẩm vấn như: Đẩy mạnh công cuộc phòng, chống tội phạm, khám phá vụ án tất yếu dẫn đến sự coi nhẹ các giá trị khác trong tố tụng, nổi bật nhất là tính công bằng của phiên tòa và các quyền con người của người bị buộc tội, bởi chức năng buộc tội, nên hồ sơ vụ án thường tập trung đến các chứng cứ buộc tội hơn là chứng cứ vô tội; trong quá trình điều tra còn nhiều hạn chế đã dẫn đến tình trạng bức cung, nhục hình ở một số nơi. Tiếp thu những yếu tố hợp lý của mô hình TTHS tranh tụng, như thủ tục tố tụng công bằng, quyền im lặng được tôn trọng tuyệt đối, thể hiện ở mức độ cao hơn sự tôn trọng quyền cơ bản của công dân, nâng cao vị thế vai trò người bào chữa trong tố tụng hình sự, thể hiện những đặc trưng quan trọng nhất trong ba yếu tố: Buộc tội - bào chữa - xét xử với ba nhóm chủ thể: (i) Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; (ii) Người bị buộc tội, người bào chữa; (iii) Tòa án.
3. Định hướng về các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự
Mục tiêu của chính sách pháp luật TTHS được cụ thể hóa thành những định hướng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự và được xác định thông qua những nguyên tắc cơ bản của TTHS trong quá trình xây dựng pháp luật TTHS. Chính sách pháp luật TTHS phải dựa vào và cụ thể hóa tư tưởng, đường lối mà trước hết là các nguyên tắc cơ bản với vai trò là sự trung chuyển chính sách pháp luật TTHS tới các quy phạm pháp luật điều chỉnh các lĩnh vực hoạt động của TTHS[4]. Các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Tố tụng hình sự chính là những quy luật khách quan có vai trò chủ đạo trong hoạt động tố tụng mà chúng ta phải tôn trọng và tuân thủ. Theo đó, cần tiếp tục lấy các nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắc suy đoán vô tội làm hai nguyên tắc trụ cột của TTHS, nguyên tắc tranh tụng dẫn đến sự hình thành các bên trên cơ sở xác định vị trí của các lợi ích tố tụng, từ đó tạo nên sự bình đẳng của các bên trong vị trí tố tụng. Nguyên tắc suy đoán vô tội tạo cơ sở cho việc bảo vệ quyền con người, là lá chắn quan trọng để khắc phục tình trạng án oan, sai trong TTHS. Nghiên cứu để hoàn thiện hơn nữa chế định minh oan trong pháp luật TTHS tương lai với các quy phạm cụ thể và dứt khoát[5]. Bổ sung một số nguyên tắc cơ bản của luật TTHS như giải quyết khiếu nại, tố cáo… thể hiện tinh thần cải cách mạnh mẽ thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đảng công khai, minh bạch, chặt chẽ, chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính bảo đảm thuận tiện, sự tham gia và giám sát của nhân dân.
4. Định hướng về các chủ thể của tố tụng hình sự
Trong thời gian qua, tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, hệ thống Tòa án chưa thực sự tổ chức theo thẩm quyền xét xử, hai cấp Tòa án vẫn gắn với đơn vị hành chính, Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan điều tra chậm đổi mới[6]. Vì vậy, cần tiếp tục đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động và uy tín của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án và các cơ quan, tổ chức tham gia vào quá trình tố tụng tư pháp[7]. Theo đó, xây dựng các cơ quan tiến hành tố tụng hiện đại, trong sạch, hiệu quả, dân chủ, nghiêm minh, tăng cường công tác thống nhất, đồng bộ, khả thi, ổn định. Tổ chức hệ thống luật sư và các chế định bổ trợ tư pháp theo hướng phát triển mãnh mẽ thị trường dịch vụ pháp lý, khoa học, hiện đại, hiệu quả, cụ thể như sau:
Đối với Tòa án: Trên sơ sở nội hàm của quyền tư pháp, tiến hành đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, tự do tranh luận, tự do trình bày quan điểm của các bên, Tòa án là chủ thể trung tâm của hoạt động xét xử. Xác định là khâu đột phá của chính sách pháp luật tố tụng hình sự trong thời gian tới.
Đối với Viện kiểm sát: Hiện nay, chưa có cơ chế kiểm tra từ bên ngoài đối với các hoạt động công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, hoạt động điều tra của cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Vì vậy, chính sách pháp luật TTHS theo hướng phân biệt giữa kiểm sát và công tố; tổ chức cơ quan thực hành quyền công tố và cơ quan thực hiện chức năng kiểm sát; phân định vai trò, quyền và trách nhiệm của cơ quan, người đứng đầu và người không giữ chức vụ quản lý hành chính nhà nước trong Viện kiểm sát, tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra, chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật tố tụng hình sự. Nâng cao năng lực điều tra của kiểm sát viên và Cơ quan điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Đối với Cơ quan điều tra: Hiện nay, cơ quan điều tra được tổ chức ở 3 bộ, ngành với 5 hệ thống[8]. Ngoài ra, còn có các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra[9]. Việc tổ chức cơ quan điều tra ở một số nơi chưa hợp lý, chưa tách bạch rõ nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm và điều tra tố tụng, kết hợp giữa hoạt động trinh sát và điều tra tố tụng chưa đúng yêu cầu. Vì vậy, tiếp tục xác định rõ nhiệm vụ của cơ quan điều tra trong mối quan hệ với các cơ quan khác được giao một số hoạt động điều tra theo hướng cơ quan điều tra chuyên trách điều tra tất cả các vụ án hình sự, các cơ quan khác chỉ tiến hành một số hoạt động điều tra sơ bộ và tiến hành một số biện pháp điều tra theo yêu cầu của cơ quan điều tra chuyên trách. Cần tiếp tục nghiên cứu và chuẩn bị mọi điều kiện để tiến tới tổ chức lại các cơ quan điều tra theo hướng thu gọn đầu mối, kết hợp chặt chẽ giữa công tác trinh sát và hoạt động điều tra TTHS; tăng cường, nâng cao năng lực của Cơ quan điều tra hình sự.
Hoàn thiện các chế định bổ trợ tư pháp: Hiện nay, hoạt động bổ trợ tư pháp còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Cần tiếp tục thực hiện các đề án, chiến lược, văn bản quan trọng trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp như: Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020; Đề án đổi mới công tác trợ giúp lý giai đoạn 2015 - 2025; Chiến lược phát triển trợ giúp pháp lý Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; Quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng đến năm 2020; Đề án “đẩy mạnh xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục phát luật và trợ giúp pháp lý”; Đề án “đẩy mạnh xã hội hóa giám định tư pháp theo quy định của Luật Giám định tư pháp”… theo đó phát triển đội ngũ luật sư đủ về số lượng, có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ chuyên môn. Hoàn thiện cơ chế bảo đảm để luật sư thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên tòa, đồng thời xác định rõ chế độ trách nhiệm đối với luật sư, tạo điều kiện về pháp lý để phát huy chế độ tự quản của tổ chức luật sư; đề cao trách nhiệm của các tổ chức luật sư đối với thành viên của mình.
Hoàn thiện chế định giám định tư pháp: Đầu tư cho một số lĩnh vực giám định để đáp ứng yêu cầu thường xuyên của hoạt động tố tụng. Thực hiện xã hội hóa đối với các lĩnh vực. Quy định chặt chẽ, rõ ràng về trình tự, thủ tục, thời hạn trưng cầu và thực hiện giám định. Xác định rõ cơ chế đánh giá kết luận giám định, bảo đảm đúng đắn, khách quan để làm căn cứ giải quyết vụ việc.
Xác định rõ phạm vi của công chứng và chứng thực, giá trị pháp lý của văn bản công chứng. Xây dựng mô hình quản lý nhà nước về công chứng theo hướng Nhà nước chỉ tổ chức cơ quan công chứng thích hợp, có bước đi phù hợp để từng bước xã hội hóa. Tiếp tục tổ chức thí điểm chế định thừa phát lại tại một số địa phương, trên cơ sở tổng kết, đánh giá thực tiễn sẽ có bước đi tiếp theo.
Đối với đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan tư pháp: Tập trung chính sách để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan tư pháp có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và phát triển đất nước. Có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân.
5. Về thủ tục tố tụng tư pháp
Hiện nay, cải cách hành chính trong các cơ quan tư pháp còn chậm, pháp luật về tố tụng tư pháp còn nhiều bất cập, chậm được sửa đổi, bổ sung, thiếu đồng bộ, khó thực hiện, chưa sát với thực tiễn. Yêu cầu đặt ra là hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, minh bạch, công khai và thuận lợi, chính sách pháp luật TTHS làm tiền đề cho cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng: Kết hợp chặt chẽ việc đổi mới thủ tục tố tụng tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tư pháp phù hợp với hoạt động tư pháp. Hoàn thiện trình tự, thu thập tài liệu chứng cứ của người bào chữa. Hoàn thiện cơ chế xét xử theo thủ tục rút gọn, cải tiến các thủ tục tố tụng tại phiên tòa để bảo đảm tranh tụng dân chủ, bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa, lấy kết quả tranh tụng tại phiên tòa làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản án. Hoàn thiện thủ tục khởi tố vụ án, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số trong thủ tục tố tụng tư pháp. Phát triển một số loại hình dịch vụ tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ. Xây dựng cơ chế phát huy sức mạnh của nhân dân, các tổ chức đoàn thể trong giám sát hoạt động tư pháp[10].
6. Về bào chữa trong tố tụng hình sự
Hiện nay, đang thiếu các cơ chế để người bào chữa thực hiện đầy đủ, có hiệu quả các quyền năng tố tụng đã được luật định và để người bào chữa bảo vệ quyền của mình trước sự vi phạm của các chủ thể khác, đặc biệt là sự vi phạm từ phía các cơ quan THTT, vai trò của người bào chữa trong giai đoạn điều tra, truy tố còn mờ nhạt. Người bào chữa chưa được bảo đảm các cơ hội để trở thành một bên bình đẳng với bên buộc tội trong việc thực hiện chức năng bào chữa của mình[11].
Chính sách pháp luật TTHS theo hướng tăng cường các cơ chế bảo đảm để người bào chữa thực hiện ngày càng tốt hơn chức năng bào chữa của mình, như: Phải bảo đảm để người bào chữa có mặt ngay trong buổi làm việc đầu tiên của cơ quan điều tra đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, người bị tạm giữ; quy định trình tự, thủ tục người bảo vệ quyền lợi ích pháp của người tham gia tố tụng khác. Tăng thẩm quyền mới cho người bào chữa, giá trị chứng minh của các tài liệu chứng cứ do người bào chữa thu thập được, đề cao vai trò của người bào chữa trong các giai đoạn tố tụng, đặc biệt là giai đoạn điều tra và truy tố.
7. Về giải quyết khiếu nại tố cáo trong tố tụng hình sự
Hiện nay, quy định về khiếu nại, tố cáo trong TTHS còn một số hạn chế như: Một số chủ thể trong TTHS không quy định được quyền khiếu nại trong khi tham gia tố tụng như người giám định, người phiên dịch; chưa có quy định cụ thể về chế tài xử lý đối với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo không đúng thời hạn quy định, không quy định về khiếu nại trực tiếp bằng miệng và phương thức giải quyết khiếu nại bằng miệng. Chưa phân biệt rõ hoặc quy định chi tiết về hành vi tố tụng, những chủ thể được quyền khiếu nại, tố cáo khó có thể nhận biết đâu là hành vi tố tụng để thực hiện quyền của mình[12]. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật về đối tượng khiếu nại, tố cáo trong TTHS theo hướng: Cần phải quy định là nguyên tắc xuyên suốt về nội dung bất cứ hành vi tố tụng, quyết định tố tụng nào có căn cứ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức đều bị khiếu nại mà không hạn chế bởi chỉ có cá nhân tham gia tố tụng. Mở rộng quyền được khiếu nại của một số người tham gia tố tụng, hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm đối với chủ thể của khiếu nại, tố cáo; trách nhiệm của người bị khiếu nại, tố cáo; trách nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo.
8. Về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
Tăng cường hợp tác quốc tế là một trong những nội dung lớn của cải cách tư pháp trong thời gian qua, theo đó rà soát một cách cơ bản và toàn diện các quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trên cơ sở so sánh và đối chiếu các quy định về thủ tục TTHS và hợp tác quốc tế trong TTHS để nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong hoạt động TTHS. Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong công tác phòng, chống tội phạm, tổ chức thực hiện tốt các công ước quốc tế, hiệp định tương trợ tư pháp, hiệp định hợp tác phòng, chống tội phạm mà Nhà nước ta đã ký kết hoặc gia nhập. Tiếp tục nghiên cứu tham gia, ký kết các điều ước quốc tế khác liên quan đến công tác phòng, chống tội phạm.
Bổ sung các nguyên tắc hợp tác quốc tế trong TTHS: Xem xét, tiến hành hợp tác quốc tế trong TTHS theo nguyên tắc có đi có lại. Theo hướng này, các cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu để hướng dẫn quy định về nguyên tắc có đi có lại để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật[13]. Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền THTT và các điều kiện bảo đảm hiệu quả hợp tác quốc tế trong TTHS để nâng cao hiệu quả trong thực tiễn giải quyết vụ án có yếu tố nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác quốc tế trong TTHS của các cơ quan có thẩm quyền, như: Thời hạn, thủ tục dẫn độ; thủ tục công nhận các quyết định của cơ quan có thẩm quyền nước yêu cầu dẫn độ, hỗ trợ tư pháp; thủ tục tiếp nhận yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự là công dân Việt Nam của nước yêu cầu; cách xác định nơi cư trú cuối cùng trước khi ra nước ngoài của công dân Việt Nam; vấn đề chi phí thực hiện tương trợ tư pháp. Nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp tác quốc tế đối với pháp nhân thương mại phạm tội./.

Hoàng Đình Duyên
NCS Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội


[1] PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí, “Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự - yếu tố quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học 27 (2011).

[2] Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới;.
[3] TS. Đinh Thế Hưng, “Về tố tụng công bằng trong tố tụng hình sự Việt Nam”, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/ve-to-tung-cong-bang-trong-to-tung-hinh-su-viet-nam.[4] PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí “Giáo trình Các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng hình sự”, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2018, tr. 25.[5] TSKH. GS. Lê Văn Cảm “Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự”, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2019, tr.84.[6] Báo cáo tổng kết số 35-BC/CCTP ngày 12/3/2014 của Ban Cải cách tư pháp Trung ương về 8 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.[7] Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị, 2021, tập 1, tr. 178.
[8] Bộ Công an có hai hệ thống: (1) Cơ quan Cảnh sát điều tra được tổ chức ở 3 cấp: Bộ, tỉnh và huyện; (2) Cơ quan An ninh điều tra được tổ chức ở 2 cấp: Bộ và tỉnh; Bộ Quốc phòng có 2 hệ thống: (1) Cơ quan điều tra hình sự trong Quân đội được tổ chức ở 3 cấp: Bộ, quân khu và khu vực; (2) Cơ quan An ninh điều tra Quân đội được tổ chức theo 2 cấp: Bộ và quân khu; Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát quân sự trung ương có cơ quan điều tra.
[9] Bộ Công an và công an cấp tỉnh có một số Cục, Phòng Cảnh sát, An ninh, Giám thị trại giam và Trại tạm giam; Bộ Quốc phòng có Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Giám thị trại giam và Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương; Bộ Tài chính có lực lượng Hải quan; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có lực lượng Kiểm lâm.
[10] Báo cáo tổng kết số 35-BC/CCTP ngày 12/3/2014 của Ban Cải cách tư pháp Trung ương về 8 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
[11] TS. Lê Hữu Thể, ThS. Nguyễn Thị Thủy “Hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp” (Nguồn: http://www.nclp.org.vn).
[12] Nguyễn Thị Hương, “Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học giáo dục, 2009.
[13] GS. TS. Nguyễn Ngọc Anh, “Hoàn thiện chế định hợp tác quốc tế trong Tố tụng Hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” (https://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/224).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: