Thứ ba 22/09/2026 11:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt cần phải thực sự là giải pháp hữu hiệu nhằm phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh

Đây là kết luận của đồng chí Nguyễn Thanh Tịnh, Thứ trưởng Bộ Tư pháp tại phiên họp thẩm định đề nghị xây dựng và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để phát triển hệ thống đường sắt đô thị tại thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2035.

Toàn cảnh phiên họp thẩm định.

Tham dự phiên họp thẩm định còn có đại diện của các cơ quan: Văn phòng Chính phủ; Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội; Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; Bộ Giao thông vận tải; Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng; Bộ Ngoại Giao; Bộ Quốc phòng; Bộ Công an…

Thay mặt cơ quan chủ trì soạn thảo, đại diện Bộ Giao thông vận tải báo cáo, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch Thủ đô Hà Nội giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065, Quy hoạch Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2021- 2030, tầm nhìn đến 2050. Theo đó, thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là các đô thị bền vững, trung tâm kinh tế, tài chính, dịch vụ của cả nước, văn hóa phát triển đặc sắc, người dân có chất lượng cuộc sống cao và định hướng phát triển đường sắt đô thị để đáp ứng nhu cầu giao thông đô thị. Đường sắt đô thị tại thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu triển khai các thủ tục đầu tư xây dựng từ năm 2007. Tuy nhiên, tiến độ triển khai các dự án đường sắt đô thị chậm, không đáp ứng nhu cầu vận tải, hạ tầng giao thông không bắt kịp tốc độ đô thị hóa nhanh của thành phố. Phát triển hệ thống đường sắt đô thị là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững của thành phố, gắn kết phát triển giao thông với phát triển đô thị, giảm ùn tắc giao thông, bảo vệ môi trường, phát triển giao thông xanh, giao thông thông minh và hiện đại, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần bảo đảm an ninh, quốc phòng của hai thành phố. Thực tiễn cho thấy, các thành phố lớn trên thế giới đều ưu tiên phát triển đường sắt đô thị để đáp ứng như cầu vận tải đô thị; là giải pháp căn cơ để giải bài toán ùn tắc giao thông, ô nhiễm không khí, tai nạn giao thông đô thị. Hai thành phố đều xác định mục tiêu phát triển hệ thống đường sắt đô thị nhằm đáp ứng nhu cầu vận tải công cộng, góp phần tái cơ cấu các phương thức vận tải đô thị bền vững, hài hòa, hợp lý; trong đó, đến năm 2035, phấn đấu cơ bản hoàn thành mạng lưới đường sắt đô thị theo các quy hoạch đã được duyệt, đảm nhận 30 - 40% thị phần vận tải hành khách công cộng.

Thành phố Hà Nội đã đưa vào vận hành khai thác tuyến số 2A, đoạn Cát Linh - Hà Đông, chiều dài 13 km; tuyến số 3, đoạn Nhổn - ga Hà Nội (đoạn tuyến trên cao Nhổn - Cầu Giấy), chiều dài khoảng 8,5km. Thành phố Hồ Chí Minh đã vận hành, khai thác tuyến số 1, đoạn Bến Thành - Suối Tiên khoảng 19,7km. Việc triển khai đầu tư các tuyến đường sắt đô thị tại hai thành phố còn chậm, chưa đạt mục tiêu, nhu cầu phát triển và giảm ùn tắc giao thông trên địa bàn trong thời gian qua. Vì vậy cần nghiên cứu giải pháp, cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để huy động nguồn lực, rút ngắn trình tự, thủ tục nhằm tạo hành lang pháp lý thông thoáng, đẩy nhanh tiến độ đầu tư các tuyến đường sắt đô thị trong thời gian tới.

Việc xây dựng Nghị quyết của Quốc hội là nhằm huy động mọi nguồn lực hợp pháp để triển khai đầu tư, rút ngắn tối đa trình tự, thủ tục, thời gian chuẩn bị đầu tư, tiến độ thực hiện, đào tạo nguồn nhân lực, khai thác có hiệu quả nguồn lực quỹ đất; phân cấp, phân quyền cho hai thành phố trong việc triển khai đầu tư phù hợp với tình hình thực tế, đặc điểm và nhu cầu phát triển của thành phố; đồng thời, phát huy tính chủ động, tích cực của các địa phương, bảo đảm hiệu quả; hiện thực hóa Kết luận số 49-KL/TW ngày 28/02/2023 của Bộ Chính trị về định hướng phát triển giao thông vận tải đường sắt Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó xác định mục tiêu “Hoàn chỉnh mạng lưới đường sắt đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2035” và Kết luận của Bộ Chính trị tại Văn bản số 12766-CV/VPTW ngày 27/12/2024.

Dự thảo Nghị quyết gồm 12 điều quy định 08 nhóm chính sách đặc thù: (i) huy động nguồn vốn; (ii) về trình tự, thủ tục thực hiện đầu tư; (iii) phát triển theo mô hình TOD; (iv) phát triển công nghiệp đường sắt, chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực; (v) chính sách vật liệu xây dựng và bãi đổ thải; (vi) phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; (vii) chính sách riêng cho Thành phố Hồ Chí Minh; (viii) tổ chức thực hiện.

Đại diện Bộ Xây dựng phát biểu tại phiên họp.

Tại phiên họp, các thành viên Hội đồng thẩm định đã cho ý kiến đối với hồ sơ đề nghị xây dựng Nghị quyết và dự thảo Nghị quyết, theo đó, đại diện Bộ Xây dựng cho biết, hiện nay, cơ quan chủ trì soạn thảo đề xuất “Dự án được lập thiết kế kỹ thuật tổng thể (FEED) thay thế cho thiết kế cơ sở trong Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án”. Đại diện Bộ Xây dựng đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu, đánh giá thêm tính khả thi của đề xuất này; đồng thời quy định rõ các nội dung liên quan đến thiết kế kỹ thuật tổng thể (FEED). Bên cạnh đó, theo quy định của pháp luật về đầu tư, tổng mức đầu tư xây dựng được xác định trên cơ sở khối lượng, diện tích, công suất hoặc năng lực phục vụ theo thiết kế cơ sở. Vì vậy, khi đề xuất lập thiết kế kỹ thuật tổng thể (FEED) thay thế cho thiết kế cơ sở, cũng cần nghiên cứu điều chỉnh cách xác định tổng mức đầu tư cho phù hợp.

Góp ý đối với Hồ sơ đề nghị xây dựng Nghị quyết của Quốc hội, đại diện Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng, Hồ sơ đề nghị xây dựng Nghị quyết này đang được thực hiện theo trình tự, thủ tục rút gọn nên không cần đến nội dung Báo cáo lồng ghép về bình đẳng giới theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Vì vậy, đại diện Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo hoàn thiện lại Hồ sơ đề nghị xây dựng Nghị quyết theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Đại diện Bộ Tài chính phát biểu tại phiên họp.

Về việc phát hành trái phiếu Chính phủ để bổ sung dự toán và kế hoạch đầu tư hàng năm cho dự án đường sắt đô thị, dự án đường sắt đô thị theo mô hình TOD, đại diện Bộ Tài chính đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo làm rõ cơ sở pháp lý đối với đề xuất này; đồng thời, rà soát với quy định tại Luật Quản lý nợ công và Luật Ngân sách nhà nước để bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật. Đối với điều khoản chuyển tiếp, đại diện Bộ Tài chính nhất trí về việc các dự án đã được quyết định chủ trương đầu tư trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực, cấp quyết định đầu tư được quyết định việc áp dụng các quy định tại Nghị quyết này. Đồng thời, dự thảo Nghị quyết cũng quy định “Trường hợp có quy định khác nhau về cùng một vấn đề giữa Nghị quyết này với luật, nghị quyết khác của Quốc hội thì áp dụng quy định của Nghị quyết này”. Tuy nhiên, một số văn bản ban hành sau có thể có những quy định thuận lợi, ưu việt hơn; vì vậy, cần điều chỉnh lại nội dung này để tạo thuận lợi cho địa phương trong quá trình vận dụng, thực hiện Nghị quyết. Bên cạnh đó, đại diện Bộ Tài chính cũng đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu, giải trình thêm trường hợp kéo dài thời gian thực hiện đối với dự án đường sắt đô thị, dự án đường sắt đô thị có liên quan đến nước ngoài.

Đối với Hồ sơ đề nghị xây dựng và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để phát triển hệ thống đường sắt đô thị tại thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2035, đại diện Bộ Công an cho rằng đây là yêu cầu rất cấp thiết để hoàn tất các dự án đường sắt đô thị theo Kết luận số 49-KL/TW ngày 28/02/2023 của Bộ Chính trị về định hướng phát triển giao thông vận tải đường sắt Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đại diện Bộ Công an đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo cần ban hành về khung tiêu chuẩn áp dụng chung cho các thành phố để các nhà thầu trong nước và quốc tế có thể tham gia vào tất cả các giai đoạn của dự án, tránh trường hợp khi một nhà thầu đã tham gia giai đoạn 01 thì sẽ được ưu tiên tham gia giai đoạn 02 của dự án. Đối với vấn đề về dự trữ quỹ đất để phát triển TOD, đại diện Bộ Công an cho rằng thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cần phải hạn chế tối đa việc giao đất cho các doanh nghiệp bất động sản để dự trữ quỹ đất nhằm phát triển TOD cho giai đoạn sau này. Đại diện Bộ Công an cũng đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội và Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sẽ tổ chức rà soát, tổng kết, đánh giá và rút kinh nghiệm trong quá trình triển khai từng dự án, từ đó khắc phục triệt để những khó khăn, vướng mắc để triển khai dự án đường sắt đô thị tại thành phố để bảo đảm lợi ích cho Nhà nước, tránh thiệt hại và lãng phí nguồn lực của đất nước.

Đại diện Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp phát biểu tại phiên họp.

Tại phiên họp, đại diện Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo bổ sung đầy đủ các bản tổng hợp ý kiến, nhất là ý kiến của các bộ liên quan như Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao và Bộ Nội vụ… là những bộ bắt buộc phải có ý kiến theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Đặc biệt, trong giai đoạn lập đề nghị thì không được rút gọn. Hiện nay, trong hồ sơ tờ trình, đại diện Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp chưa thấy rõ trình tự, thủ tục soạn thảo, đặc biệt việc lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động. Chính vì vậy, đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục hoàn thiện hồ sơ. Về báo cáo đánh giá tác động của chính sách, đại biểu cho rằng cơ quan chủ trì soạn thảo cần rà soát lại và viết theo hướng khái quát. Từ các giải pháp nhỏ, đề nghị cơ quan chủ trì lập đề nghị nhóm lại thành các chính sách lớn và đặt tên đúng cho các chính sách. Đối với hồ sơ dự thảo Nghị quyết, về thành phần hồ sơ, đại biểu cho biết với quy trình và yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hiện nay, Chính phủ đã có chỉ đạo thực hiện xây dựng Nghị quyết theo trình tự, thủ tục rút gọn. Đây cũng là cơ sở bước đầu để báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin trình tự xây dựng Nghị quyết theo thủ tục rút gọn. Tuy nhiên, theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), đối với Nghị quyết của Quốc hội thì thẩm quyết định thủ tục rút gọn là của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Vì vậy, đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo cần phải lưu ý trong quá trình phối hợp để bảo đảm trình tự. Đối với tờ trình, đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo rà soát để chỉnh lý lại theo đúng mẫu ở Phụ lục 03 của Nghị định số 59/2024/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ nhằm làm rõ các lập luận, các căn cứ để các cấp có thẩm quyền khi quyết định về nội dung này. Bên cạnh đó, đại biểu cũng đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo cần rà soát dự thảo Nghị quyết để tránh chồng chéo đối với các quy định của Luật Thủ đô năm 2024.

Góp ý tại phiên họp, đại diện Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính cho rằng, liên quan đến vấn đề vật liệu xây dựng, bãi đổ thải và sử dụng tầng đất mặt, cơ quan chủ trì soạn thảo đề xuất được áp dụng tương tự như Nghị quyết số 172/2024/QH15 ngày 30/11/2024 của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam. Tuy nhiên, tại Nghị quyết số 172/2024/QH15, Quốc hội đã có dự kiến sơ bộ về số lượng và diện tích để sử dụng đất trồng lúa và đất tầng mặt để làm bãi đổ thải, nhưng trong dự thảo Nghị quyết này, cơ quan chủ trì soạn thảo chưa dự kiến được diện tích sơ bộ, dẫn đến chưa đánh giá được tác động trong Tờ trình. Bên cạnh đó, dự thảo Nghị quyết quy định Ủy ban nhân dân thành phố quyết định thu hồi và quyết định tổ chức việc sử dụng tầng đất mặt. Tuy nhiên, trong trường hợp diện tích đất trồng lúa và tầng nước mặn ở thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh không đủ để sử dụng cho việc làm bãi đổ thải, thì có cần cân nhắc đến việc sử dụng đất của các địa phương lân cận hay không? Vì vậy, nếu chỉ quy định thẩm quyền của Ủy ban nhân dân thành phố mà không có tính toán hay dự kiến thông tin sơ bộ thì chính sách đề xuất này đối với hai thành phố liệu có đủ thuyết phục hay không? Liên quan đến việc sử dụng tiền thu trong khu vực TOD tại Thành phố Hồ Chí Minh, dự thảo Nghị quyết này được xây dựng đồng thời với dự thảo của Luật Đường sắt (sửa đổi), dự kiến trình Quốc hội cho ý kiến vào kỳ họp tháng 05 và thông qua vào kỳ họp tháng 10. Tại khoản 4 Điều 23 dự thảo Luật Đường sắt (sửa đổi), Bộ Giao thông vận tải đã đề xuất quy định liên quan đến việc sử dụng tiền thu từ khai thác quỹ đất ở vùng ga phụ cận. Nội dung sử dụng tiền thu trong dự thảo Luật Đường sắt (sửa đổi) khác biệt so với nội dung của dự thảo Nghị quyết này, đặc biệt, tại dự thảo Luật Đường sắt (sửa đổi), Bộ Giao thông Vận tải đề xuất “trường hợp quy định này khác với quy định của Luật Thủ đô và các Nghị quyết cùng một số cơ chế, chính sách đặc thù cho các địa phương, áp dụng theo quy định của Luật này”. Như vậy, Luật Đường sắt (sửa đổi) sẽ được thông qua sau khi Nghị quyết về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để phát triển hệ thống đường sắt đô thị tại thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2035 được ban hành, vẫn chưa rõ cơ chế áp dụng tiền thu sẽ theo nội dung của luật nào. Vì vậy, đại biểu đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo cần rà soát thật kỹ để bảo đảm tính thống nhất trong nội dung và nhất quán về mặt quan điểm đề xuất chính sách.

Đồng chí Nguyễn Thanh Tịnh, Thứ trưởng Bộ Tư pháp phát biểu kết luận phiên họp thẩm định.

Kết luận phiên họp thẩm định, đồng chí Nguyễn Thanh Tịnh, Thứ trưởng Bộ Tư pháp đánh giá cao cơ quan chủ trì soạn thảo đã rất khẩn trương hoàn thành đầy đủ và toàn diện hồ sơ đề nghị xây dựng và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để phát triển hệ thống đường sắt đô thị tại thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2035. Thứ trưởng đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát, hoàn chỉnh hơn nữa hồ sơ đề nghị xây dựng và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để phát triển hệ thống đường sắt đô thị tại thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2035 theo tinh thần là Nghị quyết cần phải quy định cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt, phải thực sự là giải pháp hữu hiệu để thực hiện hiệu quả Kết luận số 49-KL/TW ngày 28/02/2023 và Văn bản số 12766-CV/VPTW ngày 27/12/2024 của Bộ Chính trị nhằm phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với Tờ trình đề nghị xây dựng Nghị quyết của Quốc Hội, Thứ trưởng đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo giải trình làm rõ hơn nội dung của việc thực hiện các mục tiêu dự thảo Nghị quyết đưa ra như thu hút nguồn lực; rút ngắn tối đa thủ tục trình tự; thực hiện tối đa việc phân cấp, phân quyền và tính hiệu quả kinh tế - xã hội của các dự án. Bên cạnh đó, trên cơ sở rà soát, Thứ trưởng đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo cần bổ sung trong dự thảo Nghị quyết điều, khoản quy định về trách nhiệm của các cấp có thẩm quyền trong việc tổ chức thực hiện Nghị quyết, cụ thể là trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, thanh tra, giám sát của các cấp có thẩm quyền, đặc biệt là các cấp ủy Đảng, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân… nhằm bảo đảm thực hiện chính sách phòng chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm./.

Hoàng Trung

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
KPI trong xây dựng pháp luật: Phương thức quản trị dựa trên dữ liệu, rõ trách nhiệm, rõ kết quả

KPI trong xây dựng pháp luật: Phương thức quản trị dựa trên dữ liệu, rõ trách nhiệm, rõ kết quả

Ngày 21/9, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo Công bố, triển khai Bộ Tài liệu hướng dẫn thực hiện đánh giá, chấm điểm (KPI) về công tác xây dựng pháp luật, trong khuôn khổ hợp tác giữa Bộ Tư pháp Việt Nam và Dự án “Tăng cường pháp luật và tư pháp tại Việt Nam giai đoạn II” (EU JULE) do Liên minh châu Âu tài trợ. Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì Hội thảo.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Đổi mới tư duy, đưa cuộc sống vào pháp luật

Đổi mới tư duy, đưa cuộc sống vào pháp luật

Phát biểu kết luận Hội thảo khoa học cấp quốc gia "Những giải pháp tạo đột phá nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật, thúc đẩy việc xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật" tổ chức ngày 21/9/2026, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy, hoàn thiện cơ chế và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật; trong đó, muốn pháp luật nhanh chóng đi vào cuộc sống, phát huy hiệu quả thì trước hết phải đưa cuộc sống vào trong pháp luật.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu: Tạo môi trường để người dân, doanh nghiệp "dễ làm đúng, muốn làm đúng" pháp luật

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu: Tạo môi trường để người dân, doanh nghiệp "dễ làm đúng, muốn làm đúng" pháp luật

Ngày 21/9/2026, Hội thảo khoa học cấp quốc gia "Những giải pháp tạo đột phá nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật, thúc đẩy việc xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật" được tổ chức tại trụ sở Bộ Tư pháp.
Đổi mới Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong kỷ nguyên số

Đổi mới Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong kỷ nguyên số

Ngày 18/9, ông Nguyễn Duy Thắng, Phó Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp chủ trì Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 52/2015/NĐ-CP về cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Tham dự cuộc họp có đại diện các đơn vị có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp xã, phường, đặc khu

Nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức tư pháp xã, phường, đặc khu

Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ theo vị trí việc làm cho công chức thực hiện nhiệm vụ tư pháp xã, phường, đặc khu (Chương trình) tập trung vào tập huấn kỹ năng, đặc biệt các kỹ năng liên quan đến chuyển đổi số, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu và xử lý tình huống gắn với những khó khăn, vướng mắc trong thực tế triển khai thực hiện công việc.
Triển khai kịp thời, hiệu quả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Triển khai kịp thời, hiệu quả Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Ngày 15/9/2026, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1788/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Đề xuất phương án xác định phạm vi hòa giải ở cơ sở

Đề xuất phương án xác định phạm vi hòa giải ở cơ sở

Sáng ngày 16/9, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở (dự thảo Nghị định). Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc, Tổ trưởng Tổ soạn thảo chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì Hội thảo có Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý Ngô Quỳnh Hoa.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.

Theo dõi chúng tôi trên: