Thứ sáu 23/01/2026 11:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cơ sở kinh tế - xã hội cho sự hình thành và phát triển của công lý

Công lý là một giá trị căn bản mà hệ thống tư pháp của mọi quốc gia đều hướng tới. Tại Việt Nam, với tư cách là một giá trị chính trị - tư pháp, công lý đã xuất hiện từ rất sớm, đồng hành và hỗ trợ đắc lực cho sự ra đời và phát triển của Nhà nước cách mạng nhân dân. Để tiếp tục củng cố niềm tin vững chắc của nhân dân vào đường lối, chính sách và sự lãnh đạo của Đảng

Công lý là một giá trị căn bản mà hệ thống tư pháp của mọi quốc gia đều hướng tới. Tại Việt Nam, với tư cách là một giá trị chính trị - tư pháp, công lý đã xuất hiện từ rất sớm, đồng hành và hỗ trợ đắc lực cho sự ra đời và phát triển của Nhà nước cách mạng nhân dân. Để tiếp tục củng cố niềm tin vững chắc của nhân dân vào đường lối, chính sách và sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là trong lĩnh vực tư pháp, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã tiếp tục khẳng định những giá trị bền vững của công lý trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Để có một cái nhìn thấu đáo về bản chất của công lý, bài viết này sẽ tập trung làm rõ cơ sở kinh tế - xã hội cần và đủ cho sự xuất hiện, hình thành và phát triển của công lý với tư cách là một quan hệ xã hội cũng như những chuyển biến trong quan niệm về công lý trong nền văn minh nhân loại và tại Việt Nam.

1. Sự hình thành và phát triển công lý trong nền văn minh nhân loại

Lý luận hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, để có quan niệm đúng, có thực, khách quan về sự hình thành và vận động của một hiện tượng xã hội, cần phải quy mọi quan hệ xã hội về quan hệ sản xuất, quy quan hệ sản xuất vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Cách tiếp cận duy vật và biện chứng này khẳng định sản xuất vật chất là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội, lĩnh vực vật chất, kinh tế quyết định lĩnh vực tinh thần, chính trị và theo đó, những quan hệ tinh thần, pháp quyền chỉ có thể được giải thích từ những điều kiện sinh hoạt vật chất và bằng những mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa các lực lượng sản xuất và những quan hệ sản xuất xã hội[1].

Cũng như những quan hệ xã hội khác, công lý là một giá trị xã hội mang tính giai cấp và tính lịch sử sâu sắc. Công lý chỉ xuất hiện, hình thành khi các yếu tố kinh tế - xã hội của xã hội loài người đã phát triển đến một trình độ nhất định. Và theo đó, quan niệm về công lý phụ thuộc chặt chẽ và do mỗi hình thái kinh tế - xã hội mà nó tồn tại chi phối, quyết định. Ngược lại, các giá trị của công lý cùng với các quan hệ sản xuất khác cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ, sâu rộng đến các phương thức tổ chức xã hội, từ đó thúc đẩy hoặc cản trở, kìm hãm sự phát triển của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Bên cạnh đó, trong mỗi giai đoạn, tùy thuộc vào yêu cầu cai trị, lãnh đạo, quản lý xã hội của giai cấp thống trị mà công lý sẽ có các nội dung, tính chất và phương thức vận hành khác nhau.

Lịch sử phát triển của xã hội loài người khi xuất hiện chế độ công xã nguyên thủy với đặc trưng về sự phát triển thấp kém, chậm chạp của điều kiện lao động kiếm sống. Trình độ kỹ thuật thấp kém, bấp bênh cùng với tình trạng hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên đã buộc con người phải toàn tâm, toàn ý liên kết, hợp tác với nhau trong lao động tập thể và trong đấu tranh sinh tồn. Chế độ sở hữu tập thể nguyên thủy đó hàm chứa những giá trị cốt lõi “sơ khai”, “chất phác” về công bằng và bình đẳng, mọi thành viên của cộng đồng xã hội chung sống như trong một “gia đình lớn”, hòa bình, hữu ái, tự giác tham gia, cùng làm, cùng hưởng như nhau, không tồn tại chiếm hữu tư nhân, không phân hóa giàu nghèo, giai cấp, không có xung đột, không tồn tại người bóc lột hay bộ máy chính quyền cai trị. Trong xã hội đó, con người còn “chưa phân biệt đâu là quyền lợi và đâu là nghĩa vụ” bởi tình trạng cộng đồng, cùng chung nhau, cùng giống nhau trong mọi mặt của đời sống[2]. Các nhà nghiên cứu cho rằng, trong giai đoạn này, bởi phương thức sản xuất còn thấp kém, xã hội chưa phát triển, các mâu thuẫn, xung đột xã hội chưa trở nên gay gắt, vì vậy, xã hội chưa hội đủ các yếu tố cho sự hình thành của công lý.

Khi xã hội loài người chuyển sang chế độ công xã thị tộc phụ hệ, cùng với sự xuất hiện của kim khí, lực lượng sản xuất đã phát triển vượt bậc, năng suất lao động, sản phẩm cho xã hội ngày càng tăng, tạo dư thừa và tích lũy xã hội. Với kinh nghiệm sản xuất và công lao đóng góp ngày càng lớn, người đàn ông bắt đầu bước lên nấc thang quyền lực trong gia đình và xã hội với nhiều quyền năng quan trọng, trong đó cần phải kể đến là quyền quyết định phân công lao động trong xã hội. Xã hội cũng xuất hiện một nhóm người tự cho mình có quyền chiếm một phần sản phẩm xã hội nhiều hơn người khác. Chế độ tư hữu và đặc biệt là sự xuất hiện của nền sản xuất cá thể đã góp phần quan trọng tạo sự phân hóa giàu nghèo, giai cấp và sự bất bình đẳng, xung đột trong xã hội. Các quan hệ xã hội không còn gắn kết như thời kỳ công xã nguyên thủy, từ đó đã tạo cơ sở, điều kiện kinh tế - xã hội cho sự xuất hiện công lý trong xã hội loài người.

Theo cách hiểu truyền thống, công lý là khái niệm chỉ áp dụng trong quá trình tương hỗ, khi hành động của một cá nhân này hướng tới người khác. Câu hỏi về công lý (justice) và bất công (injustice) chỉ xuất hiện khi có nhiều cá nhân và có những sự kiện thực tế liên quan đến quá trình tương tác với người khác. Các nhà nghiên cứu triết học luật pháp đã chứng minh rằng, về bản chất, công lý trước tiên là nghĩa vụ với người khác, vì vậy, quyền phải là yếu tố có trước, khi các quyền bị vi phạm thì công lý sẽ xuất hiện. Việc xuất hiện chế độ tư hữu cùng các quyền tư hữu chính là điều kiện kinh tế tiên quyết cho sự hình thành công lý. Thứ hai, công lý chỉ xuất hiện trong mối quan hệ giữa con người với một người khác mang tính tách biệt, xa lạ. Công lý không thể xuất hiện giữa những người chung sống cộng đồng, chung nhau, như nhau, như trong một gia đình chung của chế độ công xã nguyên thủy trước đó. Nền sản xuất cá thể phát triển, sự phân hóa, khác biệt, bất bình đẳng từ tình trạng tài sản cho đến địa vị xã hội ngày càng sâu sắc, sự gắn kết giữa các thành viên xã hội dần rời rạc chính là điều kiện, cơ sở xã hội cho sự xuất hiện và hình thành công lý. Như Plato nhận định, công lý chỉ áp dụng trong mối quan hệ giữa con người và đặc biệt là trong mối quan hệ giữa những người không có sự bình đẳng[3]. Theo hướng lập luận này thì trong quan hệ công lý, con người quan hệ với một người khác mang tính tách biệt, mà gần như phải là một người xa lạ. Quan hệ giữa người cha và người con là quan hệ không hoàn toàn tách biệt, người con còn phụ thuộc nhiều vào người cha và người cha với tình yêu thương bao la luôn coi người con như chính mình, vì vậy ở một nghĩa chính xác thì không thể có công lý giữa những người yêu thương nhau[4].

Sự xuất hiện của công lý thể hiện văn minh xã hội loài người đã phát triển sang một giai đoạn cao hơn. Trong giai đoạn xã hội sơ khai, bán khai trước đó, pháp luật dựa trên các giải pháp thô sơ là sử dụng “cường lực”, “bạo lực”, hay “bản năng”, công lý, lẽ phải sẽ thuộc về kẻ khỏe hơn, mạnh hơn. “Cá nhân là viên cảnh sát của chính mình, người nào đủ mạnh thì dùng cách trả thù để xử tội theo ý mình”. Cùng với sự tiến hóa của nhân loại, vai trò của “cường lực”, “bạo lực”, “sức mạnh” ngày càng phai nhạt, loài người nhận ra rằng không thể để cho các cá nhân tự ý định đoạt khu xử, trật tự xã hội cần phải được thiết lập trên cơ sở công lý[5].

Ý niệm về công lý, khát vọng về công lý sẽ chỉ xuất hiện và trở nên mạnh mẽ như một nhu cầu tự thân khi xã hội đã phát triển đến trạng thái có xung đột và mâu thuẫn về quyền và lợi ích giữa các thành viên trong xã hội. Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng, khi xã hội tồn tại trong trạng thái mà người dân sống thưa thớt và chiến tranh luôn rình rập, công lý còn chưa được coi là một phẩm hạnh quan trọng của mỗi cá nhân bởi nó còn phải nhường chỗ cho những phẩm chất quan trọng của các chiến binh như sức mạnh, lòng quả cảm, sự khéo léo hay kỹ năng sử dụng vũ khí thuần thục. Phải cho đến khi chế độ thành bang được thiết lập, xã hội cổ đại có nhiều bước chuyển mình mạnh mẽ, các cá nhân phải gắn bó, liên kết, hợp tác, bảo vệ lẫn nhau, không được có những hành vi làm phương hại lẫn nhau để cùng tồn tại và phát triển thì những yêu cầu của hình thái kinh tế - xã hội đó đã làm phai nhạt những phẩm hạnh của các chiến binh và đưa công lý tiến tới vị trí trung tâm của hệ giá trị đạo đức của xã hội loài người[6].

2. Sự hình thành và phát triển của công lý trong xã hội Việt Nam

Trong giai đoạn đầu của xã hội Việt Nam, khi các cơ quan công quyền chưa được tổ chức để xét xử các vụ tranh chấp giữa các cá nhân với nhau thì quan niệm về công lý với ý nghĩa là “phục cừu” là một cơ chế nổi trội. Theo cơ chế này, mỗi khi quyền lợi của một người bị xâm phạm, người đó sẽ tự động phản ứng để trả thù kẻ đã gây ra thiệt hại cho họ. Sự trả thù đó nhiều khi còn được thực hiện dưới hình thức đoạt lại tài sản hoặc bắt cả đối phương và thân nhân của họ làm nô lệ. Truyện cổ tích là một ví dụ điển hình về quan niệm của nhân dân ta về công lý “phục cừu” giai đoạn này. Trong truyện Cây khế, người anh bị ngã xuống biển chết, trong truyện Thạch Sanh, Lý Thông bị sét đánh chết, và đặc biệt, trong câu truyện Tấm Cám, Cám bị dội nước sôi chết. Công lý báo thù, “dĩ oán báo oán”, “răng đền răng, mắt đền mắt” là một hiện tượng, dấu tích xã hội với bối cảnh là quá trình tan rã của chế độ công xã nguyên thủy. Với quan niệm về công lý, lẽ phải như vậy, một kết thúc quen thuộc của truyện cổ tích như trong truyện Tấm Cám là việc cô Tấm giết cô Cám, làm mắm gửi cho mụ dì ghẻ vẫn tồn tại qua các thời đại, được tiếp nhận một cách bình thường, trong thực tế không hề mang lại cảm giác ghê sợ hay không đồng tình với cô Tấm. Khi cái ác phải đền tội, đứa trẻ nào cũng thấy hả hê và tin tưởng vào công lý và sự công bằng mà thế giới “ngày xửa ngày xưa” mở ra trước mắt chúng[7].

Khi xã hội phát triển ở một bước cao hơn, các cơ quan công quyền đã được tổ chức vững chắc và bình ổn để giải quyết các việc tranh chấp thì chế độ “thục kim” từng bước chiếm ưu thế. Khi một người gây thiệt hại cho người khác, thì sự can thiệp đầu tiên của cơ quan công quyền là buộc hai bên đương sự không được tự ý báo thù như trong chế độ phục cừu mà phải giải quyết tranh chấp xảy ra bằng cách trả cho nhau một số tiền chuộc lỗi theo một giá ngạch do pháp luật quy định. Tiền thục kim (tiền chuộc) có thể coi như vừa có tính chất là một hình phạt, vừa có tính chất là sự bồi thường. Pháp luật nhà Lý, nền pháp luật thống nhất, thành văn đầu tiên của dân tộc ta đã quy định nghiêm, phạt kẻ nào ỷ sức mạnh để giải quyết việc tương tranh về đất cát. Hình phạt cho hành vi này là ngoài tội về mặt hình, còn mất cả ruộng đất tương tranh để đền cho kẻ bị thương hay thiệt hại. Nhà Lý cũng đã rất quan tâm đến công lý thủ tục thông qua việc ban hành nhiều quy định khá rõ và khả dĩ làm cho việc giải quyết các vụ tranh tụng được nhanh chóng và rõ ràng. Lịch triều hiến chương loại chí còn ghi lại năm thứ 06 đời vua Anh Tông (năm 1.139), nhà vua xuống chiếu quy định những kẻ tranh nhau ruộng ao, của cải gì thì không được nhờ những người có quyền thế giúp sức, nếu trái lệnh thì phải tội 80 trượng và kết tội đồ.

Một đặc điểm nổi bật của nền văn hóa đất nước ta là truyền thống đoàn kết và muốn đoàn kết được thì phải lấy hòa mục làm trọng. Yếu tố truyền thống đoàn kết cộng đồng đã ảnh hưởng sâu sắc đến quan niệm về công lý, lẽ công bằng trong văn hóa Việt Nam. Điều 585 Bộ luật Hồng Đức quy định: “Nếu trâu bò hai nhà đánh nhau, con nào chết thì hai nhà cùng hưởng, con nào sống thì hai nhà cùng cày, trái luật phải phạt 80 trượng”. Có thể nói, trong chế định này, các nhà làm luật đã vận dụng sáng tạo tinh thần tương thân, tương ái trong khung cảnh của nền kinh tế nông nghiệp đương thời để tìm ra một giải pháp công bằng điều chỉnh các quan hệ xã hội, giữ gìn và phát huy yếu tố tích cực của truyền thống dân tộc.

Trong giai đoạn tiếp theo, quan niệm về công lý tiếp tục có những bước phát triển mạnh mẽ và được cụ thể hóa bằng những cơ chế mới. Trước tiên, đó là sự can thiệp mạnh mẽ hơn của cơ quan công quyền thông qua việc quy định các chế tài về hình sự để trừng phạt kẻ nào đã xâm phạm vào tài sản hay nhân thân của người khác. Ngoài hình phạt, phạm nhân còn phải bồi thường cho nạn nhân về thiệt hại do mình gây ra. Vì tiền bồi thường cũng coi là một hình phạt nên số tiền này thường được ấn định gấp đôi hay gấp ba, bốn lần số thiệt hại. Trong chế độ phong kiến Việt Nam, chế độ trách nhiệm dân sự cũng đã bước đầu manh nha hình thành, có sự phân biệt với trách nhiệm hình sự. Điều 581 Bộ luật Hồng Đức quy định nếu trâu, ngựa chạy lồng lên, không kìm hãm được, thì được miễn tội và chỉ phải đền sự thiệt hại. Tương tự, Điều 91 Hoàng Việt luật lệ quy định trường hợp khi hủy hay phá hoại các đồ vật, mùa màng, cây cối thuộc sở hữu của người khác và sự hủy hoại là vô ý hay sơ ý gây nên, thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường mà không phải tội. Có thể nói, từ chế độ tự trừng phạt đối phương để bảo vệ lợi ích khi bị xâm phạm tiến đến chế độ trách nhiệm hình sự, dân sự là một quá trình phát triển lâu dài và vô cùng quan trọng về quan niệm công lý trong lịch sử văn minh của đất nước ta[8].

Nguyễn Xuân Tùng

Tài liệu tham khảo

[1]. GS.TS. Hoàng Chí Bảo (Chủ biên), Bản chất khoa học và cách mạng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Nxb. Chính trị quốc gia năm 2010.

[2] Lương Ninh (Chủ biên), Lịch sử thế giới cổ đại, Nxb. Giáo dục Việt Nam, năm 2013.

[3] Lương Ninh (Chủ biên), Lịch sử thế giới cổ đại, Nxb. Giáo dục Việt Nam, năm 2013.

[4] Rescoe Pound, Justice according to Law (Công lý dựa trên nền tảng pháp luật), Nxb. Yale University Press, năm 1951.

[5] Vũ Văn Mẫu, Dân luật khái luận, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, năm 1961.

[6] David Johnston, A brief history of Justice (Tóm lược lịch sử về công lý), Wiley-Blackwell, năm 2011.

[7] PGS.TS. Vũ Anh Tuấn (chủ biên), Giáo trình văn học dân gian, Nxb. Giáo dục Việt Nam, năm 2012.

[8] Bộ Tư pháp, Nghiên cứu một số di sản pháp luật dân sự từ thế kỷ XV đến thời Pháp thuộc (Đề tài nghiên cứu cấp Bộ), năm 1996.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: