Chủ nhật 26/07/2026 09:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cơ sở kinh tế - xã hội cho sự hình thành và phát triển của công lý

Công lý là một giá trị căn bản mà hệ thống tư pháp của mọi quốc gia đều hướng tới. Tại Việt Nam, với tư cách là một giá trị chính trị - tư pháp, công lý đã xuất hiện từ rất sớm, đồng hành và hỗ trợ đắc lực cho sự ra đời và phát triển của Nhà nước cách mạng nhân dân. Để tiếp tục củng cố niềm tin vững chắc của nhân dân vào đường lối, chính sách và sự lãnh đạo của Đảng

Công lý là một giá trị căn bản mà hệ thống tư pháp của mọi quốc gia đều hướng tới. Tại Việt Nam, với tư cách là một giá trị chính trị - tư pháp, công lý đã xuất hiện từ rất sớm, đồng hành và hỗ trợ đắc lực cho sự ra đời và phát triển của Nhà nước cách mạng nhân dân. Để tiếp tục củng cố niềm tin vững chắc của nhân dân vào đường lối, chính sách và sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là trong lĩnh vực tư pháp, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã tiếp tục khẳng định những giá trị bền vững của công lý trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Để có một cái nhìn thấu đáo về bản chất của công lý, bài viết này sẽ tập trung làm rõ cơ sở kinh tế - xã hội cần và đủ cho sự xuất hiện, hình thành và phát triển của công lý với tư cách là một quan hệ xã hội cũng như những chuyển biến trong quan niệm về công lý trong nền văn minh nhân loại và tại Việt Nam.

1. Sự hình thành và phát triển công lý trong nền văn minh nhân loại

Lý luận hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, để có quan niệm đúng, có thực, khách quan về sự hình thành và vận động của một hiện tượng xã hội, cần phải quy mọi quan hệ xã hội về quan hệ sản xuất, quy quan hệ sản xuất vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Cách tiếp cận duy vật và biện chứng này khẳng định sản xuất vật chất là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội, lĩnh vực vật chất, kinh tế quyết định lĩnh vực tinh thần, chính trị và theo đó, những quan hệ tinh thần, pháp quyền chỉ có thể được giải thích từ những điều kiện sinh hoạt vật chất và bằng những mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa các lực lượng sản xuất và những quan hệ sản xuất xã hội[1].

Cũng như những quan hệ xã hội khác, công lý là một giá trị xã hội mang tính giai cấp và tính lịch sử sâu sắc. Công lý chỉ xuất hiện, hình thành khi các yếu tố kinh tế - xã hội của xã hội loài người đã phát triển đến một trình độ nhất định. Và theo đó, quan niệm về công lý phụ thuộc chặt chẽ và do mỗi hình thái kinh tế - xã hội mà nó tồn tại chi phối, quyết định. Ngược lại, các giá trị của công lý cùng với các quan hệ sản xuất khác cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ, sâu rộng đến các phương thức tổ chức xã hội, từ đó thúc đẩy hoặc cản trở, kìm hãm sự phát triển của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Bên cạnh đó, trong mỗi giai đoạn, tùy thuộc vào yêu cầu cai trị, lãnh đạo, quản lý xã hội của giai cấp thống trị mà công lý sẽ có các nội dung, tính chất và phương thức vận hành khác nhau.

Lịch sử phát triển của xã hội loài người khi xuất hiện chế độ công xã nguyên thủy với đặc trưng về sự phát triển thấp kém, chậm chạp của điều kiện lao động kiếm sống. Trình độ kỹ thuật thấp kém, bấp bênh cùng với tình trạng hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên đã buộc con người phải toàn tâm, toàn ý liên kết, hợp tác với nhau trong lao động tập thể và trong đấu tranh sinh tồn. Chế độ sở hữu tập thể nguyên thủy đó hàm chứa những giá trị cốt lõi “sơ khai”, “chất phác” về công bằng và bình đẳng, mọi thành viên của cộng đồng xã hội chung sống như trong một “gia đình lớn”, hòa bình, hữu ái, tự giác tham gia, cùng làm, cùng hưởng như nhau, không tồn tại chiếm hữu tư nhân, không phân hóa giàu nghèo, giai cấp, không có xung đột, không tồn tại người bóc lột hay bộ máy chính quyền cai trị. Trong xã hội đó, con người còn “chưa phân biệt đâu là quyền lợi và đâu là nghĩa vụ” bởi tình trạng cộng đồng, cùng chung nhau, cùng giống nhau trong mọi mặt của đời sống[2]. Các nhà nghiên cứu cho rằng, trong giai đoạn này, bởi phương thức sản xuất còn thấp kém, xã hội chưa phát triển, các mâu thuẫn, xung đột xã hội chưa trở nên gay gắt, vì vậy, xã hội chưa hội đủ các yếu tố cho sự hình thành của công lý.

Khi xã hội loài người chuyển sang chế độ công xã thị tộc phụ hệ, cùng với sự xuất hiện của kim khí, lực lượng sản xuất đã phát triển vượt bậc, năng suất lao động, sản phẩm cho xã hội ngày càng tăng, tạo dư thừa và tích lũy xã hội. Với kinh nghiệm sản xuất và công lao đóng góp ngày càng lớn, người đàn ông bắt đầu bước lên nấc thang quyền lực trong gia đình và xã hội với nhiều quyền năng quan trọng, trong đó cần phải kể đến là quyền quyết định phân công lao động trong xã hội. Xã hội cũng xuất hiện một nhóm người tự cho mình có quyền chiếm một phần sản phẩm xã hội nhiều hơn người khác. Chế độ tư hữu và đặc biệt là sự xuất hiện của nền sản xuất cá thể đã góp phần quan trọng tạo sự phân hóa giàu nghèo, giai cấp và sự bất bình đẳng, xung đột trong xã hội. Các quan hệ xã hội không còn gắn kết như thời kỳ công xã nguyên thủy, từ đó đã tạo cơ sở, điều kiện kinh tế - xã hội cho sự xuất hiện công lý trong xã hội loài người.

Theo cách hiểu truyền thống, công lý là khái niệm chỉ áp dụng trong quá trình tương hỗ, khi hành động của một cá nhân này hướng tới người khác. Câu hỏi về công lý (justice) và bất công (injustice) chỉ xuất hiện khi có nhiều cá nhân và có những sự kiện thực tế liên quan đến quá trình tương tác với người khác. Các nhà nghiên cứu triết học luật pháp đã chứng minh rằng, về bản chất, công lý trước tiên là nghĩa vụ với người khác, vì vậy, quyền phải là yếu tố có trước, khi các quyền bị vi phạm thì công lý sẽ xuất hiện. Việc xuất hiện chế độ tư hữu cùng các quyền tư hữu chính là điều kiện kinh tế tiên quyết cho sự hình thành công lý. Thứ hai, công lý chỉ xuất hiện trong mối quan hệ giữa con người với một người khác mang tính tách biệt, xa lạ. Công lý không thể xuất hiện giữa những người chung sống cộng đồng, chung nhau, như nhau, như trong một gia đình chung của chế độ công xã nguyên thủy trước đó. Nền sản xuất cá thể phát triển, sự phân hóa, khác biệt, bất bình đẳng từ tình trạng tài sản cho đến địa vị xã hội ngày càng sâu sắc, sự gắn kết giữa các thành viên xã hội dần rời rạc chính là điều kiện, cơ sở xã hội cho sự xuất hiện và hình thành công lý. Như Plato nhận định, công lý chỉ áp dụng trong mối quan hệ giữa con người và đặc biệt là trong mối quan hệ giữa những người không có sự bình đẳng[3]. Theo hướng lập luận này thì trong quan hệ công lý, con người quan hệ với một người khác mang tính tách biệt, mà gần như phải là một người xa lạ. Quan hệ giữa người cha và người con là quan hệ không hoàn toàn tách biệt, người con còn phụ thuộc nhiều vào người cha và người cha với tình yêu thương bao la luôn coi người con như chính mình, vì vậy ở một nghĩa chính xác thì không thể có công lý giữa những người yêu thương nhau[4].

Sự xuất hiện của công lý thể hiện văn minh xã hội loài người đã phát triển sang một giai đoạn cao hơn. Trong giai đoạn xã hội sơ khai, bán khai trước đó, pháp luật dựa trên các giải pháp thô sơ là sử dụng “cường lực”, “bạo lực”, hay “bản năng”, công lý, lẽ phải sẽ thuộc về kẻ khỏe hơn, mạnh hơn. “Cá nhân là viên cảnh sát của chính mình, người nào đủ mạnh thì dùng cách trả thù để xử tội theo ý mình”. Cùng với sự tiến hóa của nhân loại, vai trò của “cường lực”, “bạo lực”, “sức mạnh” ngày càng phai nhạt, loài người nhận ra rằng không thể để cho các cá nhân tự ý định đoạt khu xử, trật tự xã hội cần phải được thiết lập trên cơ sở công lý[5].

Ý niệm về công lý, khát vọng về công lý sẽ chỉ xuất hiện và trở nên mạnh mẽ như một nhu cầu tự thân khi xã hội đã phát triển đến trạng thái có xung đột và mâu thuẫn về quyền và lợi ích giữa các thành viên trong xã hội. Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng, khi xã hội tồn tại trong trạng thái mà người dân sống thưa thớt và chiến tranh luôn rình rập, công lý còn chưa được coi là một phẩm hạnh quan trọng của mỗi cá nhân bởi nó còn phải nhường chỗ cho những phẩm chất quan trọng của các chiến binh như sức mạnh, lòng quả cảm, sự khéo léo hay kỹ năng sử dụng vũ khí thuần thục. Phải cho đến khi chế độ thành bang được thiết lập, xã hội cổ đại có nhiều bước chuyển mình mạnh mẽ, các cá nhân phải gắn bó, liên kết, hợp tác, bảo vệ lẫn nhau, không được có những hành vi làm phương hại lẫn nhau để cùng tồn tại và phát triển thì những yêu cầu của hình thái kinh tế - xã hội đó đã làm phai nhạt những phẩm hạnh của các chiến binh và đưa công lý tiến tới vị trí trung tâm của hệ giá trị đạo đức của xã hội loài người[6].

2. Sự hình thành và phát triển của công lý trong xã hội Việt Nam

Trong giai đoạn đầu của xã hội Việt Nam, khi các cơ quan công quyền chưa được tổ chức để xét xử các vụ tranh chấp giữa các cá nhân với nhau thì quan niệm về công lý với ý nghĩa là “phục cừu” là một cơ chế nổi trội. Theo cơ chế này, mỗi khi quyền lợi của một người bị xâm phạm, người đó sẽ tự động phản ứng để trả thù kẻ đã gây ra thiệt hại cho họ. Sự trả thù đó nhiều khi còn được thực hiện dưới hình thức đoạt lại tài sản hoặc bắt cả đối phương và thân nhân của họ làm nô lệ. Truyện cổ tích là một ví dụ điển hình về quan niệm của nhân dân ta về công lý “phục cừu” giai đoạn này. Trong truyện Cây khế, người anh bị ngã xuống biển chết, trong truyện Thạch Sanh, Lý Thông bị sét đánh chết, và đặc biệt, trong câu truyện Tấm Cám, Cám bị dội nước sôi chết. Công lý báo thù, “dĩ oán báo oán”, “răng đền răng, mắt đền mắt” là một hiện tượng, dấu tích xã hội với bối cảnh là quá trình tan rã của chế độ công xã nguyên thủy. Với quan niệm về công lý, lẽ phải như vậy, một kết thúc quen thuộc của truyện cổ tích như trong truyện Tấm Cám là việc cô Tấm giết cô Cám, làm mắm gửi cho mụ dì ghẻ vẫn tồn tại qua các thời đại, được tiếp nhận một cách bình thường, trong thực tế không hề mang lại cảm giác ghê sợ hay không đồng tình với cô Tấm. Khi cái ác phải đền tội, đứa trẻ nào cũng thấy hả hê và tin tưởng vào công lý và sự công bằng mà thế giới “ngày xửa ngày xưa” mở ra trước mắt chúng[7].

Khi xã hội phát triển ở một bước cao hơn, các cơ quan công quyền đã được tổ chức vững chắc và bình ổn để giải quyết các việc tranh chấp thì chế độ “thục kim” từng bước chiếm ưu thế. Khi một người gây thiệt hại cho người khác, thì sự can thiệp đầu tiên của cơ quan công quyền là buộc hai bên đương sự không được tự ý báo thù như trong chế độ phục cừu mà phải giải quyết tranh chấp xảy ra bằng cách trả cho nhau một số tiền chuộc lỗi theo một giá ngạch do pháp luật quy định. Tiền thục kim (tiền chuộc) có thể coi như vừa có tính chất là một hình phạt, vừa có tính chất là sự bồi thường. Pháp luật nhà Lý, nền pháp luật thống nhất, thành văn đầu tiên của dân tộc ta đã quy định nghiêm, phạt kẻ nào ỷ sức mạnh để giải quyết việc tương tranh về đất cát. Hình phạt cho hành vi này là ngoài tội về mặt hình, còn mất cả ruộng đất tương tranh để đền cho kẻ bị thương hay thiệt hại. Nhà Lý cũng đã rất quan tâm đến công lý thủ tục thông qua việc ban hành nhiều quy định khá rõ và khả dĩ làm cho việc giải quyết các vụ tranh tụng được nhanh chóng và rõ ràng. Lịch triều hiến chương loại chí còn ghi lại năm thứ 06 đời vua Anh Tông (năm 1.139), nhà vua xuống chiếu quy định những kẻ tranh nhau ruộng ao, của cải gì thì không được nhờ những người có quyền thế giúp sức, nếu trái lệnh thì phải tội 80 trượng và kết tội đồ.

Một đặc điểm nổi bật của nền văn hóa đất nước ta là truyền thống đoàn kết và muốn đoàn kết được thì phải lấy hòa mục làm trọng. Yếu tố truyền thống đoàn kết cộng đồng đã ảnh hưởng sâu sắc đến quan niệm về công lý, lẽ công bằng trong văn hóa Việt Nam. Điều 585 Bộ luật Hồng Đức quy định: “Nếu trâu bò hai nhà đánh nhau, con nào chết thì hai nhà cùng hưởng, con nào sống thì hai nhà cùng cày, trái luật phải phạt 80 trượng”. Có thể nói, trong chế định này, các nhà làm luật đã vận dụng sáng tạo tinh thần tương thân, tương ái trong khung cảnh của nền kinh tế nông nghiệp đương thời để tìm ra một giải pháp công bằng điều chỉnh các quan hệ xã hội, giữ gìn và phát huy yếu tố tích cực của truyền thống dân tộc.

Trong giai đoạn tiếp theo, quan niệm về công lý tiếp tục có những bước phát triển mạnh mẽ và được cụ thể hóa bằng những cơ chế mới. Trước tiên, đó là sự can thiệp mạnh mẽ hơn của cơ quan công quyền thông qua việc quy định các chế tài về hình sự để trừng phạt kẻ nào đã xâm phạm vào tài sản hay nhân thân của người khác. Ngoài hình phạt, phạm nhân còn phải bồi thường cho nạn nhân về thiệt hại do mình gây ra. Vì tiền bồi thường cũng coi là một hình phạt nên số tiền này thường được ấn định gấp đôi hay gấp ba, bốn lần số thiệt hại. Trong chế độ phong kiến Việt Nam, chế độ trách nhiệm dân sự cũng đã bước đầu manh nha hình thành, có sự phân biệt với trách nhiệm hình sự. Điều 581 Bộ luật Hồng Đức quy định nếu trâu, ngựa chạy lồng lên, không kìm hãm được, thì được miễn tội và chỉ phải đền sự thiệt hại. Tương tự, Điều 91 Hoàng Việt luật lệ quy định trường hợp khi hủy hay phá hoại các đồ vật, mùa màng, cây cối thuộc sở hữu của người khác và sự hủy hoại là vô ý hay sơ ý gây nên, thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường mà không phải tội. Có thể nói, từ chế độ tự trừng phạt đối phương để bảo vệ lợi ích khi bị xâm phạm tiến đến chế độ trách nhiệm hình sự, dân sự là một quá trình phát triển lâu dài và vô cùng quan trọng về quan niệm công lý trong lịch sử văn minh của đất nước ta[8].

Nguyễn Xuân Tùng

Tài liệu tham khảo

[1]. GS.TS. Hoàng Chí Bảo (Chủ biên), Bản chất khoa học và cách mạng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Nxb. Chính trị quốc gia năm 2010.

[2] Lương Ninh (Chủ biên), Lịch sử thế giới cổ đại, Nxb. Giáo dục Việt Nam, năm 2013.

[3] Lương Ninh (Chủ biên), Lịch sử thế giới cổ đại, Nxb. Giáo dục Việt Nam, năm 2013.

[4] Rescoe Pound, Justice according to Law (Công lý dựa trên nền tảng pháp luật), Nxb. Yale University Press, năm 1951.

[5] Vũ Văn Mẫu, Dân luật khái luận, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, năm 1961.

[6] David Johnston, A brief history of Justice (Tóm lược lịch sử về công lý), Wiley-Blackwell, năm 2011.

[7] PGS.TS. Vũ Anh Tuấn (chủ biên), Giáo trình văn học dân gian, Nxb. Giáo dục Việt Nam, năm 2012.

[8] Bộ Tư pháp, Nghiên cứu một số di sản pháp luật dân sự từ thế kỷ XV đến thời Pháp thuộc (Đề tài nghiên cứu cấp Bộ), năm 1996.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: