Thứ hai 10/08/2026 20:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công khai, minh bạch trong quản lý hành chính nhà nước – Kinh nghiệm của một số nước Châu Mỹ

Hiện nay, vấn đề công khai, minh bạch trong quản lý hành chính nhà nước đang là vấn đề nóng hổi, cấp bách của pháp luật các quốc gia trên thế giới nói chung và các nước trong cộng đồng Châu Mỹ nói riêng. Minh bạch thông tin được hiểu là việc cung cấp thông tin không giới hạn một cách rõ ràng, chính xác, kịp thời. Sự cung cấp thông tin “không giới hạn” này dường như hiếm có Chính phủ nào làm được. Vì vậy, tần suất xuất hiện của những vụ án liên quan đến bí mật thông tin ngày càng nhiều, đặc biệt là những thông tin liên quan đến Chính phủ.

Hoa Kỳ có một hệ thống pháp luật khá đặc thù mà nguyên nhân là do có sự phân chia giữa luật liên bang và bang[1]. Hiến pháp Hoa Kỳ (phê chuẩn năm 1788)[2] là đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất của Hoa Kỳ. Nhiều quyền con người đã được Hiến pháp ghi nhận, trong đó có quyền truy cập thông tin liên quan đến hoạt động của Chính phủ. Quyền truy cập thông tin của người dân và hoạt động minh bạch hóa của cơ quan chính quyền được quy định trong Đạo luật tự do thông tin (Freedom of Information Act - FOIA) ban hành ngày 4/7/1966[3]. Đạo luật này đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ quyền con người của nhân dân Hoa Kỳ cũng như có tác động tích cực vào hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước. Đạo luật quy định bất kỳ người nào cũng đều có quyền truy cập vào hồ sơ cơ quan liên bang, ngoại trừ các hồ sơ (hoặc một phần của các hồ sơ) được miễn trừ công khai bởi một trong chín trường hợp miễn trừ[4]. Bất kỳ một yêu cầu minh bạch thông tin nào cũng đều có thể áp dụng cho tất cả các loại hình hồ sơ và ở bất kì cơ quan công quyền nào (trừ những hồ sơ mật). Ở Hoa Kỳ, mỗi cơ quan có một trang web riêng và mỗi trang web đó sẽ chứa thông tin về các loại hồ sơ mà cơ quan đó đang nắm giữ. Điều này rất tiện lợi cho việc tìm kiếm thông tin cũng như đáp ứng các yêu cầu của người dân[5].

Vụ án nổi tiếng trên đất nước Hoa Kỳ liên quan đến tội xâm nhập hệ thống máy chủ của Strategic Forecasting Inc (Stratfor)

Nhân vật chính trong vụ án này đã bị kết án 10 năm tù giam và 3 năm giám sát quản chế vì tội xâm nhập hệ thống máy chủ của Strategic Forecasting Inc (Stratfor) - Tổ chức tình báo tư nhân chuyên nghiên cứu và phân tích các vấn đề địa chính trị trên toàn cầu ở Austin bang Texas. Bị cáo là Eremy Hammond (28 tuổi) bị bắt vào tháng 3/2012 tại Chicago, một trong những thành viên của nhóm tin tặc nổi tiếng thế giới LulzSec (chi nhánh của Anonymous) đã đánh cắp hàng triệu tài khoản email, trên 60.000 thông tin thẻ tín dụng, thông tin cá nhân của khoảng 860.000 khách hàng của Stratfor. Danh sách các khách hàng của Stratfor nằm trong các cơ quan đầu não của Mỹ như Bộ Quốc phòng, quân đội, không lực, các cơ quan hành pháp, các công ty công nghệ như Apple và Microsoft đã bị nhóm tin tặc Anonymous đánh cắp[6].

Theo như Hammond khai nhận, anh ta đã thông qua một người thứ ba có biệt danh là “Sabu” (từng lãnh đạo nhóm LulzSec của Anonymous trước khi trở thành chỉ điểm cho FBI) để thâm nhập vào hệ thống máy chủ của Stratfor, lấy đi những thông tin quan trọng như đã kể trên. Sabu cung cấp cho anh ta danh sách các website dễ bị tấn công, trong đó bao gồm hàng chục trang web của nước ngoài như Brazil, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran nhằm mục đích thu thập thông tin cho FBI. Hammond đã cùng với Sabu cung cấp chi tiết về cách xâm nhập các trang web của một quốc gia giấu tên để các tin tặc khác tiến hành gây mất uy tín và phá hoại chúng. Tuy nhiên, Jeremy Hammond lại tố cáo Cục Điều tra Liên bang Hoa Kỳ (FBI) đã bí mật sử dụng anh thông qua "Sabu" để được tự do sau khi bị bắt giữ năm 2011 (6 tháng trước khi hệ thống máy chủ của Stratfor bị xâm nhập). Trước Toà án, Hammond khẳng định: “Tôi không biết thông tin mà tôi cung cấp cho Sabu được sử dụng như thế nào, nhưng tôi nghĩ rằng hành động thu thập và sử dụng dữ liệu này của chính quyền Hoa Kỳ phải được điều tra. Chính quyền muốn buộc tội và bỏ tù tôi với hy vọng sẽ khép lại toàn bộ câu chuyện mờ ám liên quan đến họ. Tôi nhận trách nhiệm về hành động của tôi và nhận tội nhưng liệu đến khi nào chính quyền Hoa Kỳ mới có câu trả lời về những tội lỗi của họ?”. Hammond khẳng định hành vi của mình là nhằm phơi bày những thông tin liên quan đến tham nhũng của Chính phủ Hoa Kỳ. Anh cho rằng, án phạt 10 năm tù giam chính là “sự trả thù ác ý” của chính quyền Hoa Kỳ chống lại hacker có động cơ chính trị[7].

Ngày nay, tình trạng thông tin bị đánh cắp bởi tin tặc đang ở mức báo động cao mà không phải quốc gia nào cũng đủ khả năng để ngăn chặn hiện tượng này. Những thông tin được coi là bí mật quốc gia ảnh hưởng tới an ninh quốc phòng, trị an đất nước… sẽ rất nguy hiểm nếu như bị tiết lộ ra ngoài. Bản án dành cho Hammond được coi là bản án cao nhất trong lịch sử nước Mỹ đối với một hacker. Điều này được Chính phủ Hoa Kỳ giải thích rằng, đây chính là những nỗ lực mà Chính phủ luôn cố gắng để vấn đề bảo mật thông tin được tốt hơn.

Minh bạch thông tin trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước không chỉ hiểu đơn thuần là công khai cho người dân biết hoạt động hay những quyết định của chính quyền đã đúng hay hợp lý chưa. Một mặt quan trọng hơn nữa của minh bạch hóa thông tin chính là bảo mật thông tin. Tất cả những hoạt động công khai, minh bạch hay bảo mật của cơ quan nhà nước đều nhằm một mục đích chung là tạo ra một cơ chế quản lý tốt, tránh lạm quyền, tham nhũng… Bởi vậy, dù không đề cập trực tiếp đến vấn đề minh bạch hóa thông tin, nhưng vụ án cũng đã đưa ra cho chúng ta một bài học về sự thống nhất trong cả hai hoạt động minh bạch và bảo mật. Đây là hai hoạt động trái ngược nhau nhưng lại bổ sung cho nhau, làm tốt cả hai mặt thì mới có thể đạt được hiệu quả cao nhất.

Vụ án đình đám liên quốc gia liên quan đến việc tiết lộ những thông tin tình báo giữa Hoa Kỳ và Israel

Vụ án này đã tốn không ít giấy mực của báo chí và được coi là “kỳ án tình báo” trong quan hệ giữa Hoa Kỳ và Israel. Người bị kết án tù chung thân cho tội danh bán các thông tin mật của Chính phủ Hoa Kỳ cho Israel là Jonathan Pollard.

Sinh ra ở Galveston, bang Texas, Pollard gia nhập ngành tình báo với công việc phân tích tình báo Hải quân Mỹ. Sau khi tốt nghiệp đại học Stanford khoa Chính trị học, Pollard bắt đầu làm chuyên gia phân tích cho Trung tâm Cảnh báo chống khủng bố (ATAC) thuộc Tình báo Hải quân Mỹ từ tháng 6/1979[8]. Theo tài liệu mới được công bố, Pollard bị đánh giá là người không ổn định về cảm xúc, có hành vi không nhất quán, có những vấn đề về tài chính, sử dụng ma túy. Do đó, vào tháng 8/1980, Pollard bị tước quyền sử dụng thông tin tuyệt mật và cấp trên gửi ông đến một chuyên gia tâm thần. Tuy nhiên, chưa đến 8 tháng sau đó, chuyên gia này kết luận Pollard hoàn toàn có khả năng thi hành bổn phận và "không có nguy cơ về an ninh". Quyền sử dụng thông tin mật của Pollard được phục hồi vào tháng 1/1982 và đến tháng 6/1984, ông bắt đầu bán các bí mật tình báo cho Israel cho tới khi bị bắt giữ vào ngày 21/11/1985[9]. Pollard bị bắt sau khi đã chuyển gần 800 ngàn trang tài liệu bí mật quân sự của nước Mỹ cho các điệp viên Israel ở nước Mỹ.

Hai năm sau, Pollard bị Tòa án tối cao Mỹ tuyên án tù chung thân cho các tội danh phản quốc và chuyển giao bí mật quốc gia cho nước ngoài[10]. Theo Cục Điều tra liên bang Mỹ (FBI), Pollard là một trong những kẻ phản bội gây nên tổn thất lớn nhất cho ngành tình báo và an ninh quốc phòng nước Mỹ. Từ thông tin của Pollard, khoảng 150 điệp viên Mỹ ở khu vực Trung Đông đã chuyển sang làm việc cho Mossad, trong khi mạng lưới hàng trăm điệp viên bí mật của Mỹ cài trong khối Đông Âu cũng bị bóc gỡ từng mảng. Nhiều điệp vụ bị thất bại do KGB (Cục Tình báo An ninh Liên Xô) nắm được mật mã liên lạc của điệp viên Mỹ, từ đó nhiều điệp viên CIA (Cục Tình báo Trung ương Mỹ) chủ chốt bị lật tẩy, khiến CIA điên đầu không hiểu vì sao.

Tai hại hơn, Pollard đã lấy cắp những trang tài liệu chứa đựng nội dung về những bí mật quốc phòng liên quan chương trình răn đe hạt nhân của Chính phủ Mỹ đối với Liên Xô rồi chuyển chúng cho Israel[11]. Khi Pollard bị bắt giam, Chính phủ Israel không hề thừa nhận việc mình thông qua Pollard để thu thập các thông tin bí mật liên quan đến quốc phòng của nước Mỹ. Sau hơn 10 năm Pollard bị tuyên án và giam giữ, Chính phủ Israel lại chính thức công khai thừa nhận rằng Pollard đã làm gián điệp cho mình. Cũng chính từ hành động thừa nhận này, Chính phủ Israel còn công bố rằng, sẽ ghi công Pollard bằng cách trao cho anh ta quốc tịch Israel, công nhận anh ta là dân Do Thái. Chính phủ Israel còn vận động Chính phủ Mỹ trả tự do cho Pollard nhưng ý định này đã không được Chính phủ Mỹ chấp thuận[12]. Tờ New York Times dẫn lời một quan chức FBI cho rằng, ít nhất hơn 10 vụ các quan chức chính quyền Mỹ bán thông tin mật cho Israel nhưng Bộ Tư pháp không xử lý. Như vậy, vấn đề minh bạch thông tin dường như chưa được đảm bảo ở Mỹ.

Dù là vụ án liên châu lục, liên quốc gia hay trong nước, nước Mỹ đang tự đưa mình vào một “mớ bòng bong” của những vấn đề về minh bạch thông tin. Chính phủ Mỹ có quá nhiều những thông tin giấu kín dư luận, vì vậy mà có những cá nhân như Pollard hay Hammond muốn phá vỡ bức tường rào cản, che chở cho những bí mật quốc gia của Mỹ. Chính phủ luôn cho rằng, những thông tin họ giữ bí mật là hoàn toàn hợp lý, nhưng người dân lại mong muốn Chính phủ Mỹ công khai những thông tin cần thiết, đảm bảo quyền tiếp cận thông tin nói chung và minh bạch thông tin nói riêng.

Minh bạch thông tin trong quản lý hành chính nhà nước là một vấn đề quan trọng và đang được dư luận quan tâm. Hiện nay, Việt Nam chưa có luật quy định về tiếp cận thông tin cũng như minh bạch thông tin; nhưng không phải vậy mà người dân Việt Nam chưa từng được tiếp cận với thông tin trong quản lý hành chính nhà nước. Vấn đề công khai thông tin của các cơ quan nhà nước được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành khác nhau. Tuy nhiên, phần lớn các văn bản pháp luật đó mới chỉ dừng ở việc quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm công khai một số loại thông tin; còn thiếu quy trình, thủ tục, cách thức cho tổ chức, cá nhân yêu cầu cung cấp thông tin. Pháp luật hiện hành cũng chưa xác định và phân loại các thông tin mà Nhà nước cần chủ động công khai hoặc thông tin mà người dân có thể tiếp cận theo yêu cầu. Hoạt động minh bạch thông tin của Việt Nam còn rất nhiều thiếu sót, những bài học mà châu Mỹ đã trải qua là kinh nghiệm quý giá cho Việt Nam trong tiến trình xây dựng Luật về quyền tiếp cận thông tin.

ThS. Bùi Thị Hải

Học viện Hành chính


[1] Giới thiệu hệ thống pháp luật Hoa kỳ - Ấn phẩm của chương trình thông tin quốc tế, Bộ ngoại giao Hoa Kỳ năm 2004, đăng tải trên trang web của đại sứ quán hợp chủng quốc Hoa Kỳ - Hà Nội – Việt Nam

[2] Giới thiệu hệ thống pháp luật Hoa kỳ - Ấn phẩm của chương trình thông tin quốc tế, Bộ ngoại giao Hoa Kỳ năm 2004, đăng tải trên trang web của đại sứ quán hợp chủng quốc Hoa Kỳ - Hà Nội – Việt Nam

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: