Thứ ba 17/03/2026 22:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công khai, minh bạch trong quản lý hành chính nhà nước – Kinh nghiệm của một số nước Châu Mỹ

Hiện nay, vấn đề công khai, minh bạch trong quản lý hành chính nhà nước đang là vấn đề nóng hổi, cấp bách của pháp luật các quốc gia trên thế giới nói chung và các nước trong cộng đồng Châu Mỹ nói riêng. Minh bạch thông tin được hiểu là việc cung cấp thông tin không giới hạn một cách rõ ràng, chính xác, kịp thời. Sự cung cấp thông tin “không giới hạn” này dường như hiếm có Chính phủ nào làm được. Vì vậy, tần suất xuất hiện của những vụ án liên quan đến bí mật thông tin ngày càng nhiều, đặc biệt là những thông tin liên quan đến Chính phủ.

Hoa Kỳ có một hệ thống pháp luật khá đặc thù mà nguyên nhân là do có sự phân chia giữa luật liên bang và bang[1]. Hiến pháp Hoa Kỳ (phê chuẩn năm 1788)[2] là đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất của Hoa Kỳ. Nhiều quyền con người đã được Hiến pháp ghi nhận, trong đó có quyền truy cập thông tin liên quan đến hoạt động của Chính phủ. Quyền truy cập thông tin của người dân và hoạt động minh bạch hóa của cơ quan chính quyền được quy định trong Đạo luật tự do thông tin (Freedom of Information Act - FOIA) ban hành ngày 4/7/1966[3]. Đạo luật này đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ quyền con người của nhân dân Hoa Kỳ cũng như có tác động tích cực vào hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước. Đạo luật quy định bất kỳ người nào cũng đều có quyền truy cập vào hồ sơ cơ quan liên bang, ngoại trừ các hồ sơ (hoặc một phần của các hồ sơ) được miễn trừ công khai bởi một trong chín trường hợp miễn trừ[4]. Bất kỳ một yêu cầu minh bạch thông tin nào cũng đều có thể áp dụng cho tất cả các loại hình hồ sơ và ở bất kì cơ quan công quyền nào (trừ những hồ sơ mật). Ở Hoa Kỳ, mỗi cơ quan có một trang web riêng và mỗi trang web đó sẽ chứa thông tin về các loại hồ sơ mà cơ quan đó đang nắm giữ. Điều này rất tiện lợi cho việc tìm kiếm thông tin cũng như đáp ứng các yêu cầu của người dân[5].

Vụ án nổi tiếng trên đất nước Hoa Kỳ liên quan đến tội xâm nhập hệ thống máy chủ của Strategic Forecasting Inc (Stratfor)

Nhân vật chính trong vụ án này đã bị kết án 10 năm tù giam và 3 năm giám sát quản chế vì tội xâm nhập hệ thống máy chủ của Strategic Forecasting Inc (Stratfor) - Tổ chức tình báo tư nhân chuyên nghiên cứu và phân tích các vấn đề địa chính trị trên toàn cầu ở Austin bang Texas. Bị cáo là Eremy Hammond (28 tuổi) bị bắt vào tháng 3/2012 tại Chicago, một trong những thành viên của nhóm tin tặc nổi tiếng thế giới LulzSec (chi nhánh của Anonymous) đã đánh cắp hàng triệu tài khoản email, trên 60.000 thông tin thẻ tín dụng, thông tin cá nhân của khoảng 860.000 khách hàng của Stratfor. Danh sách các khách hàng của Stratfor nằm trong các cơ quan đầu não của Mỹ như Bộ Quốc phòng, quân đội, không lực, các cơ quan hành pháp, các công ty công nghệ như Apple và Microsoft đã bị nhóm tin tặc Anonymous đánh cắp[6].

Theo như Hammond khai nhận, anh ta đã thông qua một người thứ ba có biệt danh là “Sabu” (từng lãnh đạo nhóm LulzSec của Anonymous trước khi trở thành chỉ điểm cho FBI) để thâm nhập vào hệ thống máy chủ của Stratfor, lấy đi những thông tin quan trọng như đã kể trên. Sabu cung cấp cho anh ta danh sách các website dễ bị tấn công, trong đó bao gồm hàng chục trang web của nước ngoài như Brazil, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran nhằm mục đích thu thập thông tin cho FBI. Hammond đã cùng với Sabu cung cấp chi tiết về cách xâm nhập các trang web của một quốc gia giấu tên để các tin tặc khác tiến hành gây mất uy tín và phá hoại chúng. Tuy nhiên, Jeremy Hammond lại tố cáo Cục Điều tra Liên bang Hoa Kỳ (FBI) đã bí mật sử dụng anh thông qua "Sabu" để được tự do sau khi bị bắt giữ năm 2011 (6 tháng trước khi hệ thống máy chủ của Stratfor bị xâm nhập). Trước Toà án, Hammond khẳng định: “Tôi không biết thông tin mà tôi cung cấp cho Sabu được sử dụng như thế nào, nhưng tôi nghĩ rằng hành động thu thập và sử dụng dữ liệu này của chính quyền Hoa Kỳ phải được điều tra. Chính quyền muốn buộc tội và bỏ tù tôi với hy vọng sẽ khép lại toàn bộ câu chuyện mờ ám liên quan đến họ. Tôi nhận trách nhiệm về hành động của tôi và nhận tội nhưng liệu đến khi nào chính quyền Hoa Kỳ mới có câu trả lời về những tội lỗi của họ?”. Hammond khẳng định hành vi của mình là nhằm phơi bày những thông tin liên quan đến tham nhũng của Chính phủ Hoa Kỳ. Anh cho rằng, án phạt 10 năm tù giam chính là “sự trả thù ác ý” của chính quyền Hoa Kỳ chống lại hacker có động cơ chính trị[7].

Ngày nay, tình trạng thông tin bị đánh cắp bởi tin tặc đang ở mức báo động cao mà không phải quốc gia nào cũng đủ khả năng để ngăn chặn hiện tượng này. Những thông tin được coi là bí mật quốc gia ảnh hưởng tới an ninh quốc phòng, trị an đất nước… sẽ rất nguy hiểm nếu như bị tiết lộ ra ngoài. Bản án dành cho Hammond được coi là bản án cao nhất trong lịch sử nước Mỹ đối với một hacker. Điều này được Chính phủ Hoa Kỳ giải thích rằng, đây chính là những nỗ lực mà Chính phủ luôn cố gắng để vấn đề bảo mật thông tin được tốt hơn.

Minh bạch thông tin trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước không chỉ hiểu đơn thuần là công khai cho người dân biết hoạt động hay những quyết định của chính quyền đã đúng hay hợp lý chưa. Một mặt quan trọng hơn nữa của minh bạch hóa thông tin chính là bảo mật thông tin. Tất cả những hoạt động công khai, minh bạch hay bảo mật của cơ quan nhà nước đều nhằm một mục đích chung là tạo ra một cơ chế quản lý tốt, tránh lạm quyền, tham nhũng… Bởi vậy, dù không đề cập trực tiếp đến vấn đề minh bạch hóa thông tin, nhưng vụ án cũng đã đưa ra cho chúng ta một bài học về sự thống nhất trong cả hai hoạt động minh bạch và bảo mật. Đây là hai hoạt động trái ngược nhau nhưng lại bổ sung cho nhau, làm tốt cả hai mặt thì mới có thể đạt được hiệu quả cao nhất.

Vụ án đình đám liên quốc gia liên quan đến việc tiết lộ những thông tin tình báo giữa Hoa Kỳ và Israel

Vụ án này đã tốn không ít giấy mực của báo chí và được coi là “kỳ án tình báo” trong quan hệ giữa Hoa Kỳ và Israel. Người bị kết án tù chung thân cho tội danh bán các thông tin mật của Chính phủ Hoa Kỳ cho Israel là Jonathan Pollard.

Sinh ra ở Galveston, bang Texas, Pollard gia nhập ngành tình báo với công việc phân tích tình báo Hải quân Mỹ. Sau khi tốt nghiệp đại học Stanford khoa Chính trị học, Pollard bắt đầu làm chuyên gia phân tích cho Trung tâm Cảnh báo chống khủng bố (ATAC) thuộc Tình báo Hải quân Mỹ từ tháng 6/1979[8]. Theo tài liệu mới được công bố, Pollard bị đánh giá là người không ổn định về cảm xúc, có hành vi không nhất quán, có những vấn đề về tài chính, sử dụng ma túy. Do đó, vào tháng 8/1980, Pollard bị tước quyền sử dụng thông tin tuyệt mật và cấp trên gửi ông đến một chuyên gia tâm thần. Tuy nhiên, chưa đến 8 tháng sau đó, chuyên gia này kết luận Pollard hoàn toàn có khả năng thi hành bổn phận và "không có nguy cơ về an ninh". Quyền sử dụng thông tin mật của Pollard được phục hồi vào tháng 1/1982 và đến tháng 6/1984, ông bắt đầu bán các bí mật tình báo cho Israel cho tới khi bị bắt giữ vào ngày 21/11/1985[9]. Pollard bị bắt sau khi đã chuyển gần 800 ngàn trang tài liệu bí mật quân sự của nước Mỹ cho các điệp viên Israel ở nước Mỹ.

Hai năm sau, Pollard bị Tòa án tối cao Mỹ tuyên án tù chung thân cho các tội danh phản quốc và chuyển giao bí mật quốc gia cho nước ngoài[10]. Theo Cục Điều tra liên bang Mỹ (FBI), Pollard là một trong những kẻ phản bội gây nên tổn thất lớn nhất cho ngành tình báo và an ninh quốc phòng nước Mỹ. Từ thông tin của Pollard, khoảng 150 điệp viên Mỹ ở khu vực Trung Đông đã chuyển sang làm việc cho Mossad, trong khi mạng lưới hàng trăm điệp viên bí mật của Mỹ cài trong khối Đông Âu cũng bị bóc gỡ từng mảng. Nhiều điệp vụ bị thất bại do KGB (Cục Tình báo An ninh Liên Xô) nắm được mật mã liên lạc của điệp viên Mỹ, từ đó nhiều điệp viên CIA (Cục Tình báo Trung ương Mỹ) chủ chốt bị lật tẩy, khiến CIA điên đầu không hiểu vì sao.

Tai hại hơn, Pollard đã lấy cắp những trang tài liệu chứa đựng nội dung về những bí mật quốc phòng liên quan chương trình răn đe hạt nhân của Chính phủ Mỹ đối với Liên Xô rồi chuyển chúng cho Israel[11]. Khi Pollard bị bắt giam, Chính phủ Israel không hề thừa nhận việc mình thông qua Pollard để thu thập các thông tin bí mật liên quan đến quốc phòng của nước Mỹ. Sau hơn 10 năm Pollard bị tuyên án và giam giữ, Chính phủ Israel lại chính thức công khai thừa nhận rằng Pollard đã làm gián điệp cho mình. Cũng chính từ hành động thừa nhận này, Chính phủ Israel còn công bố rằng, sẽ ghi công Pollard bằng cách trao cho anh ta quốc tịch Israel, công nhận anh ta là dân Do Thái. Chính phủ Israel còn vận động Chính phủ Mỹ trả tự do cho Pollard nhưng ý định này đã không được Chính phủ Mỹ chấp thuận[12]. Tờ New York Times dẫn lời một quan chức FBI cho rằng, ít nhất hơn 10 vụ các quan chức chính quyền Mỹ bán thông tin mật cho Israel nhưng Bộ Tư pháp không xử lý. Như vậy, vấn đề minh bạch thông tin dường như chưa được đảm bảo ở Mỹ.

Dù là vụ án liên châu lục, liên quốc gia hay trong nước, nước Mỹ đang tự đưa mình vào một “mớ bòng bong” của những vấn đề về minh bạch thông tin. Chính phủ Mỹ có quá nhiều những thông tin giấu kín dư luận, vì vậy mà có những cá nhân như Pollard hay Hammond muốn phá vỡ bức tường rào cản, che chở cho những bí mật quốc gia của Mỹ. Chính phủ luôn cho rằng, những thông tin họ giữ bí mật là hoàn toàn hợp lý, nhưng người dân lại mong muốn Chính phủ Mỹ công khai những thông tin cần thiết, đảm bảo quyền tiếp cận thông tin nói chung và minh bạch thông tin nói riêng.

Minh bạch thông tin trong quản lý hành chính nhà nước là một vấn đề quan trọng và đang được dư luận quan tâm. Hiện nay, Việt Nam chưa có luật quy định về tiếp cận thông tin cũng như minh bạch thông tin; nhưng không phải vậy mà người dân Việt Nam chưa từng được tiếp cận với thông tin trong quản lý hành chính nhà nước. Vấn đề công khai thông tin của các cơ quan nhà nước được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành khác nhau. Tuy nhiên, phần lớn các văn bản pháp luật đó mới chỉ dừng ở việc quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm công khai một số loại thông tin; còn thiếu quy trình, thủ tục, cách thức cho tổ chức, cá nhân yêu cầu cung cấp thông tin. Pháp luật hiện hành cũng chưa xác định và phân loại các thông tin mà Nhà nước cần chủ động công khai hoặc thông tin mà người dân có thể tiếp cận theo yêu cầu. Hoạt động minh bạch thông tin của Việt Nam còn rất nhiều thiếu sót, những bài học mà châu Mỹ đã trải qua là kinh nghiệm quý giá cho Việt Nam trong tiến trình xây dựng Luật về quyền tiếp cận thông tin.

ThS. Bùi Thị Hải

Học viện Hành chính


[1] Giới thiệu hệ thống pháp luật Hoa kỳ - Ấn phẩm của chương trình thông tin quốc tế, Bộ ngoại giao Hoa Kỳ năm 2004, đăng tải trên trang web của đại sứ quán hợp chủng quốc Hoa Kỳ - Hà Nội – Việt Nam

[2] Giới thiệu hệ thống pháp luật Hoa kỳ - Ấn phẩm của chương trình thông tin quốc tế, Bộ ngoại giao Hoa Kỳ năm 2004, đăng tải trên trang web của đại sứ quán hợp chủng quốc Hoa Kỳ - Hà Nội – Việt Nam

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: