Thứ tư 21/01/2026 12:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đào tạo kỹ năng tư vấn pháp luật tại trường Cao đẳng Luật miền Trung

Đào tạo kỹ năng tư vấn pháp luật tại Trường Cao đẳng Luật miền Trung được thực hiện qua môn học “Kỹ năng tư vấn pháp luật”. Trên cơ sở phân tích, đánh giá về thực trạng đào tạo kỹ năng tư vấn pháp luật tại Trường, bài viết đề xuất những giải pháp cần thực hiện nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo kỹ năng tư vấn pháp luật cho học sinh, sinh viên và học viên, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của xã hội.

Đào tạo kỹ năng tư vấn pháp luật tại Trường Cao đẳng Luật miền Trung được thực hiện qua môn học “Kỹ năng tư vấn pháp luật”. Trên cơ sở phân tích, đánh giá về thực trạng đào tạo kỹ năng tư vấn pháp luật tại Trường, bài viết đề xuất những giải pháp cần thực hiện nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo kỹ năng tư vấn pháp luật cho học sinh, sinh viên và học viên, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của xã hội.

1. Tầm quan trọng của đào tạo kỹ năng tư vấn pháp luật đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo luật

Trong những năm gần đây, vấn đề đào tạo kỹ năng đã được nhiều cơ sở đào tạo luật trên cả nước quan tâm, vì mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu xã hội. Nhằm thực hiện mục tiêu này, Trường Cao đẳng Luật miền Trung xác định chuẩn đầu ra cho học sinh, sinh viên và học viên tốt nghiệp chương trình đào tạo là phải có kiến thức về kỹ năng, có khả năng vận dụng một cách thuần thục, hiệu quả những kiến thức chuyên môn để giải quyết vụ việc, tình huống trong thực tiễn.

Các môn học về kỹ năng nói chung hay kỹ năng về tư vấn pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề luật. Bởi vì, các môn học này góp phần quan trọng tạo ra nguồn nhân lực có khả năng thích ứng nhanh hơn với yêu cầu của người sử dụng lao động sau khi ra trường. Thực tế, cùng với kiến thức pháp luật, kiến thức xã hội được trang bị, khi được đào tạo thêm kỹ năng, thì nguồn nhân lực đó sẽ có khả năng tốt hơn trong các vị trí việc làm về thực hiện pháp luật, tư vấn pháp luật hoặc giảng dạy, tuyên truyền, phổ biến pháp luật... Mục đích và nội dung đào tạo kỹ năng tư vấn pháp luật hướng đến là: Tăng cường và phát triển hiệu quả khả năng vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề của thực tiễn; tạo nhiều cơ hội “thực hành pháp luật” trong khuôn khổ giờ học cho người học; trang bị và nâng cao các kỹ năng, như: tìm kiếm, phân tích và đánh giá các văn bản pháp luật có liên quan đến công việc của mình; phân tích các tình huống thực tiễn trong lĩnh vực pháp luật và đưa ra giải pháp chuyên môn để giải quyết các tình huống đó; kỹ năng phát hiện và giải quyết các vấn đề tương đối phức tạp thuộc lĩnh vực khoa học pháp lý; kỹ năng tư vấn thực hiện pháp luật; kỹ năng đàm phán và soạn thảo các văn bản có tính pháp lý phục vụ cho các công việc thuộc lĩnh vực pháp luật liên quan đến công việc được giao; kỹ năng liên tục tự cập nhật kiến thức để nâng cao trình độ; kỹ năng lập kế hoạch công việc; kỹ năng giao tiếp, thuyết trình và bảo vệ quan điểm của mình; kỹ năng phối hợp với các đồng nghiệp[1]...

Ở Việt Nam, các cơ sở đào tạo luật hiện nay cũng rất quan tâm và đưa vào rất nhiều môn kỹ năng để giảng dạy. Đại học Luật Hà Nội có các môn: Kỹ năng chung về tư vấn pháp luật; kỹ năng đàm phán soạn thảo hợp đồng; kỹ năng tham gia giải quyết các vụ án dân sự; kỹ năng tư vấn pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình; kỹ năng tư vấn pháp luật trong một số lĩnh vực pháp luật, như: Thương mại, Lao động, Đất đai, Tài chính[2]… Đại học Lao động Xã hội có các môn: Kỹ năng đàm phán, soạn thảo hợp đồng; kỹ năng nghề luật; kỹ năng giải quyết tranh chấp lao động và đình công; kỹ năng tư vấn hợp đồng lao động; kỹ năng giải quyết tranh chấp thương mại. Khoa Luật Đại học Vinh cũng đưa vào một số môn: Kỹ năng thực hành chuyên ngành luật và kỹ năng tư vấn pháp luật về kinh tế; kỹ năng tư vấn về hợp đồng; kỹ năng giải quyết tranh chấp về thương mại; kỹ năng giải quyết tranh chấp về lao động… Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh cũng đã triển khai giảng dạy môn Kỹ năng tư vấn và thực hành luật. Đại học Mở Hà Nội cũng đào tạo môn học Kỹ năng hành nghề luật[3]… Có thể nói, ở Việt Nam, các cơ sở đào tạo luật đều rất quan tâm đào tạo kỹ năng cho học sinh, sinh viên và học viên nhằm tăng cường tính ứng dụng và khả năng tiếp cận thực tiễn nhanh hơn sau khi ra trường, phù hợp với xu thế đào tạo pháp luật giai đoạn hiện nay, đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực pháp luật chất lượng cho xã hội.

2. Thực trạng đào tạo kỹ năng tư vấn pháp luật tại Trường Cao đẳng Luật miền Trung và vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện

Trong những năm qua, Trường Cao đẳng Luật miền Trung đã quan tâm về kỹ năng, nghiệp vụ và nhất là kỹ năng tư vấn pháp luật cho học sinh, sinh viên và học viên luôn được chú trọng. Do đó, cần có những đánh giá nghiêm túc, khách quan về thực trạng, chỉ rõ những bất cập, tồn tại và nguyên nhân trong quá trình thực hiện làm tiền đề đưa ra các giải pháp đổi mới để phát triển, nâng cao chất lượng và hiệu quả.

Về nội dung, môn học Kỹ năng tư vấn pháp luật là môn học chuyên ngành bắt buộc trong chương trình đào tạo hệ trung cấp của Trường. Môn học này được thiết kế gồm 02 tín chỉ, chia thành 05 vấn đề. Cung cấp những kiến thức lý thuyết và thực hành về tư vấn pháp luật, trong đó có vấn đề chung (khái quát về tư vấn pháp luật và kỹ năng tư vấn pháp luật) và các vấn đề cụ thể (kỹ năng tiếp xúc khách hàng và nhận yêu cầu tư vấn; kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, phân tích vụ việc, xác định vấn đề pháp lý; kỹ năng tư vấn pháp luật bằng lời nói và bằng văn bản; kỹ năng đại diện ngoài tố tụng)[4]. Thực tiễn giảng dạy cho thấy, môn học Kỹ năng tư vấn pháp luật rất được các học sinh, sinh viên và học viên quan tâm và ý thức học tập. Để đảm bảo kiến thức cơ bản, trong thiết kế nội dung môn học, Khoa Đào tạo nghiệp vụ phụ trách đã xây dựng một chương riêng để giới thiệu tổng quan kiến thức chung về kỹ năng tư vấn pháp luật như khái niệm, đặc trưng cơ bản, vai trò của hoạt động tư vấn pháp luật; những nguyên tắc, yêu cầu cơ bản và điều kiện để thực hiện của hoạt động tư vấn…

Hình thức truyền thụ kiến thức cơ bản vẫn là giảng viên lên lớp để thuyết giảng; học sinh, sinh viên và học viên ngồi chăm chú nghe, ghi chép và về nhà hoặc lên Thư viện đọc tài liệu. Trong quá trình giảng, một số tiết thực hành, giảng viên có những bài tập tình huống cho học sinh, sinh viên và học viên đóng vai thực hiện và giảng viên nhận xét, góp ý hoàn thiện. Theo khảo sát của Phòng Đào tạo và Công tác học sinh, sinh viên, Bộ phận Đảm bảo chất lượng và Đoàn Thanh niên, thì các học sinh, sinh viên và học viên khóa 6, khóa 7 và khóa 8 đều rất quan tâm, hứng thú đối với môn học này. Tuy nhiên, Trường Cao đẳng Luật miền Trung chưa có giáo trình riêng cho môn học Kỹ năng tư vấn pháp luật. Giáo trình được Trường lựa chọn sử dụng là giáo trình “Kỹ năng tư vấn pháp luật” của Học viện Tư pháp và giáo án, bài soạn giảng do giảng viên đảm nhận môn học soạn giảng[5]. Nhìn chung, các tài liệu của Trường chủ yếu nghiên cứu chuyên sâu về nội dung pháp luật, rất ít nguồn tài liệu phân tích về kỹ năng, kỹ năng tư vấn và kỹ năng giải quyết tình huống, kỹ năng giải quyết vấn đề. Ngoài ra, trình độ tin học, kỹ năng ứng dụng công nghệ, khả năng có được các thiết bị công nghệ kết nối internet (laptop, máy tính bảng, điện thoại thông minh…), ngoại ngữ của học sinh, sinh viên và học viên cũng không đồng đều. Vì thế, rất khó có thể ứng dụng công nghệ trong quá trình học tập, nghiên cứu. Năng lực ngoại ngữ nhất là tiếng Anh của học sinh, sinh viên và học viên cũng rất hạn chế khó ứng dụng, sử dụng công nghệ, tìm kiếm tài liệu trực tuyến, tài liệu mở, các bài viết, các bài nghiên cứu chuyên sâu.

Trường Cao đẳng Luật miền Trung cũng xem việc đi thực tế là yêu cầu bắt buộc đối với giảng viên. Mục đích của việc đi thực tế là để củng cố kiến thức, tăng cường hiểu biết kiến thức thực tế và tăng tính thuyết phục khi giảng dạy cho học sinh, sinh viên và học viên, nhưng hiện nay, đây vẫn là một hạn chế. Các giảng viên vì các lý do khác nhau (về thời gian, công việc, sức khỏe…) đều rất ngại đi thực tế ở cơ sở và viết bài thu hoạch, báo cáo. Vì thế, nhiều tiết học còn hàn lâm, lý thuyết và nhiều hướng dẫn cho học viên về những tình huống không sát với thực tế. Việc thực tập của học viên được thực hiện ngay tại Trung tâm Tư vấn pháp luật của Trường. Mặc dù, chương trình đào tạo có thiết kế các khóa thực tập, thực tế tại các Công ty luật, Văn phòng luật, Văn phòng công chứng, Thừa phát lại..., nhưng việc thực hiện lại rất khiêm tốn. Chính vì thế, tính hiệu quả là không cao, ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, kiến thức, kỹ năng thực tế của học viên.

Có thể nói, việc đào tạo kỹ năng tư vấn pháp luật trong quá trình thực hiện còn có nhiều vướng mắc, bất cập cần được sớm tháo gỡ, cụ thể:

Thứ nhất, về phạm vi và đối tượng được đào tạo kỹ năng tư vấn pháp luật còn bị giới hạn. Môn học này chỉ áp dụng đối với đối tượng trung cấp và cao đẳng chuyên ngành dịch vụ pháp lý; còn đối tượng là cán bộ tư pháp cơ sở và cán bộ pháp luật chưa được áp dụng. Đây là một bất cập cần thiết phải có sửa đổi, bổ sung.

Thứ hai, đội ngũ giảng viên giảng dạy môn Kỹ năng tư vấn pháp luật chưa đồng đều, chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế trong tư vấn pháp luật và xử lí tình huống nên còn thiên về lí thuyết. Nội dung bài giảng chủ yếu phụ thuộc vào nghiên cứu và tích lũy kinh nghiệm và mang nặng dấu ấn chủ quan của giảng viên dẫn đến chất lượng tiếp thu của học sinh, sinh viên và học viên không đồng đều, không toàn diện. Việc ứng dụng ngoại ngữ, công nghệ vào giảng dạy của giảng viên còn khiêm tốn, những tri thức, phương pháp tiếp cận, sử dụng dữ liệu, khai thác dữ liệu trên mạng còn hạn chế.

Thứ ba, Trường vẫn chưa có giáo trình giảng dạy môn học Kỹ năng tư vấn pháp luật, nguồn tài liệu khác cũng chưa phong phú, đa dạng dẫn tới hiệu quả chưa cao, ảnh hưởng rất nhiều đến việc phát huy khả năng của học viên, hạn chế trong việc giúp người học vận dụng kiến thức và tiếp cận tốt hơn với thực tiễn tư vấn trong từng lĩnh vực cụ thể. Tại thư viện của Trường, tài liệu chủ yếu là các sách, giáo trình, tạp chí, văn bản luật… chủ yếu tồn tại dưới dạng bản cứng, nên rất nhanh lạc hậu, trong khi các bài viết, bài nghiên cứu tài liệu luật nước ngoài còn ít; các tài liệu được số hóa “tài liệu số”, “tài nguyên số”, “thư viện số” chưa được thiết lập.

Thứ tư, vấn đề đi thực tế của giảng viên vẫn còn nhiều bất cập. Không nhiều giảng viên chịu khó rèn luyện, chắt lọc để có được kiến thức thực tiễn bằng hoạt động thực nghiệm, thực tế của chính mình để có thể truyền đạt tốt nhất cho học sinh, sinh viên và học viên. Việc đi thực tập, thực tế của học sinh, sinh viên và học viên chưa hiệu quả. Việc xây dựng khung, chương trình đào tạo, chương trình môn học chưa có sự linh hoạt, nên chưa tạo điều kiện tối đa cho sự thay đổi.

3. Một số giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo kỹ năng tư vấn pháp luật tại Trường Cao đẳng Luật miền Trung

Một là, cần chuẩn hóa chương trình đào tạo, nội dung giảng dạy môn Kỹ năng tư vấn pháp luật. Theo đó, trên cơ sở môn Kỹ năng tư vấn pháp luật, cần bổ sung thêm các môn kỹ năng khác theo từng lĩnh vực, như: Kỹ năng tư vấn về hợp đồng, kỹ năng giải quyết tranh chấp về thương mại, kỹ năng giải quyết tranh chấp về lao động, kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai… và các môn bổ trợ kiến thức khác nhằm tiến tới cải thiện chất lượng môn học và phát huy hết khả năng của học viên, đồng thời, đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động, hoạt động thực tiễn và nhu cầu xã hội.

Hai là, cần đổi mới nguồn nhân lực và phương pháp giảng dạy kỹ năng tư vấn pháp luật, tạo điều kiện cho giảng viên đi thực tế ở cơ sở nhiều hơn, đồng thời có thể mời những giảng viên thỉnh giảng, tư vấn viên ở các cơ sở đào tạo hoặc các tổ chức hành nghề khác, như: Công ty luật, Văn phòng luật; Văn phòng công chứng… Ngoài ra, Trường có thể liên kết với các đơn vị, doanh nghiệp, các cơ sở thông qua các hình thức liên kết, kết nghĩa… để quá trình giảng dạy, thực tế, thực tập của học sinh, sinh viên và học viên có thể kết hợp giảng dạy, thực hành và mời những cán bộ, chuyên viên hành nghề luật (luật sư, tư vấn viên…) tham gia giảng dạy, hướng dẫn, góp ý, đánh giá, nhận xét… nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả kỹ năng tư vấn pháp luật.

Ba là, nâng cao năng lực ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh, tiếng Anh pháp lý cho giảng viên và học sinh, sinh viên để đáp ứng yêu cầu tìm kiếm tài liệu giảng dạy và học tập. Chuyển dịch sang “thư viện số”, “tài liệu số”, đa dạng hóa nguồn tài liệu. Tài liệu không chỉ tập trung vào giáo trình, luật, bài viết, bài nghiên cứu, luận văn, luận án… mà cần cả các tình huống, các loại hợp đồng, các quyết định, các bản án, phán quyết, các cuốn “casebooks”… cần phải được liên tục cập nhật, bổ sung đầy đủ, toàn diện. Muốn vậy, chỉ có các “tài liệu số” dễ sử dụng, đáp ứng được yêu cầu và cần được tạo điều kiện vừa giảm tải mang vác nặng cho học sinh, sinh viên và học viên trong bối cảnh càng ngày càng cần nhiều tài liệu cho học tập, nghiên cứu; đồng thời, giảm chi phí tài chính mua tài liệu và các sách, giáo trình kiểu cũ đã trở nên lỗi thời[6].

Bốn là, cần hoàn thiện, cập nhật và bổ sung bài soạn giảng, giáo án tiến tới xây dựng giáo trình môn Kỹ năng tư vấn pháp luật của Trường. Đồng thời, xây dựng hồ sơ vụ việc thực tiễn, tình huống giả định kết hợp với việc tăng cường sử dụng phương pháp tình huống, phương pháp đóng vai… tạo cơ hội cho học sinh, sinh viên và học viên rèn luyện kỹ năng, nghiệp vụ tư vấn. Bên cạnh bài soạn giảng và giáo trình Kỹ năng tư vấn pháp luật, Kỹ năng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp… những tài liệu khác, như Kỹ năng hành nghề luật sư tư vấn, kỹ năng chuyên sâu của luật sư trong việc giải quyết các vụ án dân sự, Sổ tay Thẩm phán[7]... Đây đều là những tài liệu tham khảo quan trọng cần giới thiệu trong quá trình giảng dạy, bổ sung về Thư viện của trường để học sinh, sinh viên và học viên nghiên cứu. Ngoài ra, giảng viên cần hỗ trợ, giới thiệu cho học sinh, sinh viên và học viên có thể tiếp cận những tình huống cụ thể trên thực tế trong thời gian làm việc ở Trung tâm tư vấn pháp luật Nhà trường, thời gian đi thực tập, thực tế… Điều này không chỉ giúp các học sinh, sinh viên và học viên vận dụng kiến thức đã tiếp thu từ môn học mà còn nâng cao kỹ năng tư vấn thực tế cần thiết.

TS. Lê Văn Đức
ThS. Lê Thị Hiền
Trường Cao đẳng Luật miền Trung



[1]. Đào tạo kĩ năng tư vấn pháp luật trong lĩnh vực thương mại tại Trường Đại học Luật Hà Nội, Tạp chí Luật học số 09/2018.

[2]. Đề cương môn học kĩ năng chung về tư vấn pháp luật trong lĩnh vực thương mại, đất đai, tài chính, pháp luật thuế, hợp đồng lao động của Trường Đại học Luật Hà Nội.

[3]. Đào tạo kĩ năng tư vấn pháp luật trong lĩnh vực thương mại tại Trường Đại học Luật Hà Nội, Tạp chí Luật học số 09/2018.

[4]. Giáo án môn học Kỹ năng tư vấn pháp luật Trường Cao đẳng Luật miền Trung.

[5]. Bài soạn giảng môn Kỹ năng tư vấn pháp luật Trường Cao đẳng luật miền Trung.

[6]. Legal Education in the Digital age (2012). Edited by Edward Rubin. Cambridge University Press. P.13, p. 200.

[7]. Giáo trình Kỹ năng tư vấn pháp luật và tham gia giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án của Luật sư Nguyễn Thị Vân Anh, Học viện Tư pháp, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2018.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: