Thứ tư 04/03/2026 06:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Để Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thể hiện được giá trị và ý nghĩa thiết thực đối với các doanh nghiệp

Với mong muốn Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ra đời góp phần thực hiện mục tiêu hỗ trợ hệ thống các nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa trong từng lĩnh vực cụ thể của ngành kinh tế Việt Nam. Bài vết tập trung phân tích thực trạng vấn đề hỗ trợ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam thời gian qua để từ đó thấy được nhu cầu bức thiết của việc phải xây dựng một đạo luật điều chỉnh riêng nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa; đồng thời trong bài viết, tác giả cũng đưa ra một số đề xuất, kiến nghị trong việc xây dựng Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa với nhiều đề xuất thiết thực và cụ thể, thậm chí đi vào từng chương của Dự thảo luật.

Cùng với các tổ chức kinh tế lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam đóng góp một phần không nhỏ trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Thực tế đã chứng minh, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa đã thúc đẩy động lực tăng trưởng của nền kinh tế và trở thành một trong những trụ cột quan trọng của nền kinh tế quốc dân1. Tuy nhiên, Nhà nước ta vẫn chưa có những chính sách cụ thể và khung khổ pháp lý để điều chỉnh, hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam. Điều này dẫn đến một thực trạng là nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa dù hoạt động kinh doanh rất tốt, nhưng khi cần hỗ trợ bởi các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân trong, ngoài nước lại không được hỗ trợ hoặc nếu có thì các chủ thể hỗ trợ cũng không biết hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa như nào cho hợp lý và phù hợp với quy định pháp luật. Tình trạng kể trên là nguyên nhân chính, cốt lõi để Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ra đời và thực hiện mục tiêu hỗ trợ hệ thống các nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa trong từng lĩnh vực cụ thể của ngành kinh tế Việt Nam.

1. Thực trạng vấn đề hỗ trợ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam thời gian qua

Thời gian qua, ở Việt Nam, việc thành lập các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam khá đơn giản, các doanh nghiệp này không cần vốn đầu tư quá nhiều, bộ máy tổ chức, sản xuất thường gọn nhẹ, đơn giản và chỉ tập trung hướng tới những lĩnh vực sản xuất, kinh doanh có lợi nhuận không quá cao… Do vậy, ra đời sau khi không được chuẩn bị kỹ lưỡng, nên nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ tồn tại được một thời gian không quá dài và trở thành gánh nặng cho sự phát triển của nền kinh tế. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa khi gặp khó khăn về nguồn vốn, về thị trường, về nhân sự trong quá trình sản xuất, kinh doanh lại không hề nhận được sự giúp đỡ đắc lực từ các cá nhân, tổ chức và Nhà nước do những doanh nghiệp này phát triển, tồn tại manh mún, nhỏ lẻ, tự phát, thiếu sự liên kết, thiếu tài chính, thiếu thị trường để kinh doanh. Đặc biệt, ở góc độ cạnh tranh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay đang gặp phải sự yếu kém nhất định về khả năng cạnh tranh so với các doanh nghiệp khác cũng như các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế lớn. Nhận định khách quan cho thấy có quá nhiều cánh cửa, nhiều cơ hội hiện tại đang gần như “khép lại” đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa do nhóm doanh nghiệp này yếu thế trong việc tiếp cận các lợi ích, các tiềm lực cũng như sự hỗ trợ từ cơ quan nhà nước.

Dù ra sức đóng góp cho sự phát triển kinh tế đất nước bởi những hoạt động kinh doanh của mình, nhưng các doanh nghiệp nhỏ và vừa luôn đối mặt với nhiều khó khăn từ kinh tế, nhân sự đến trình độ quản lý của các chủ doanh nghiệp. Nhiều chủ doanh nghiệp khá yếu về trình độ quản lý, điều hành nên khi đứng trước những cơ hội, vận mệnh cho sự phát triển của doanh nghiệp của mình họ lại để “tuột khỏi tầm tay”. Hiện nay, vấn đề còn tồn đọng ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam không chỉ ở trình độ quản lý, điều hành của các chủ doanh nghiệp mà còn xuất phát từ việc thiếu hụt nghiêm trọng nguồn vốn để phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp. Song song với khó khăn về nguồn vốn, thì khó khăn về nhân lực cũng là điều đáng quan tâm đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Vì thực chất, để phát triển được, để hoạt động kinh doanh đi vào quỹ đạo thì yếu tố nhân lực là điều vô cùng cấp thiết, quan trọng. Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay đang đối mặt với sự thiếu hụt cả về số lượng nhân sự và chất lượng của đội ngũ nhân sự này. Những điều này là nguyên nhân chính dẫn đến việc hạn chế khả năng phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Ở Việt Nam hiện nay, đã có khung pháp lý điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp nói chung và cũng có tác động trực tiếp, gián tiếp trong việc hỗ trợ sự phát triển của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế. Tuy nhiên, việc điều tiết, hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay chưa được quan tâm sâu sắc bởi các chính sách, chiến lược mang tính quốc gia nhằm có những trợ giúp nhất định đối với sự phát triển của hệ thống doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam. Nói cách khác, khung pháp lý chuẩn mực để hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam là điều kiện cần và đủ thúc đẩy sự phát triển của các loại hình doanh nghiệp này và nhằm “tạo đà bật” cạnh tranh trong hoạt động sản xuất, kinh doanh đối với các loại hình doanh nghiệp khác. Có lẽ, trong giai đoạn hiện nay và trong thời gian sắp tới, cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam cần có sự trợ giúp đắc lực của các cơ quan quản lý, cơ quan chức năng trong việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm, cung cấp nguồn vốn, hỗ trợ tài chính, hỗ trợ nhân sự, cung cấp thông tin liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, định hướng, dự báo cho các doanh nghiệp những chính sách quan trọng trong đường lối phát triển của doanh nghiệp một cách thường xuyên, liên tục.

Ở Việt Nam, thực trạng vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đang ở mức báo động, trong khi trên thế giới vấn đề này đã được đề cập cách đây 50 - 60 năm. Do ảnh hưởng của cơ chế, chính sách nên nhiều nội dung tác động nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa của Nhà nước ta không được thực hiện và quán triệt đầy đủ. Trách nhiệm của Nhà nước, Chính phủ và sự giúp đỡ của các cơ quan chức năng là điều kiện sống còn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thời gian vừa qua, Chính phủ đã cố gắng, nỗ lực để tạo lập và gây dựng môi trường kinh doanh thông thoáng, bình đẳng cho các doanh nghiệp nói chung và cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng. Có nhiều văn bản luật và dưới luật ra đời2 nhằm quản lý, điều tiết các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời, nhằm tạo dựng khung pháp lý chuẩn mực, minh bạch, hiệu quả để tăng cường khả năng tiếp nhận nguồn lực, nhận sự trợ giúp về kinh tế và tiếp cận thị trường của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tuy nhiên, khoảng cách từ quy định đến thực tiễn là khá xa, do đó nhiều doanh nghiệp vẫn chưa được đáp ứng kịp thời khi họ cần hỗ trợ, có nhiều doanh nghiệp buộc phải dẫn đến tình trạng phá sản hoặc giải thể do không được giúp đỡ về các tiềm lực phát triển kịp thời. Thực chất, cơ quan chức năng và các cơ quan nhà nước đã “chung tay, đấu cật” trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng việc hỗ trợ này trong thời gian vừa qua chỉ hướng tới một số đối tượng, mang tính dàn trải và tập trung hướng vào hoạt động đào tạo, hướng dẫn đổi mới công nghệ, hướng dẫn phát triển hoạt động kinh doanh sản xuất và đề xuất những chiến lược phát triển thị trường chứ chưa đi sâu sát vào việc trợ giúp tổng thể, toàn diện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa để những doanh nghiệp này có thể “dư sức” cạnh tranh với các “ông lớn” khác.

Đánh giá khách quan cho thấy, mặc dù Luật Doanh nghiệp năm 2014 ra đời kéo theo hàng loạt các văn bản hướng dẫn kèm theo đã phần nào giải quyết được tình trạng nói trên đối với các doanh nghiệp của Việt Nam, nhưng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, thì họ cần có một luật riêng để giải quyết các vấn đề còn tồn đọng trong doanh nghiệp của họ và kích thích họ, thúc đẩy họ phát triển bắt kịp với các tổ chức kinh tế lớn khác. Đó là lý do cấp thiết cần xây dựng và ban hành Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thời gian tới.

2. Một số đề xuất trong việc xây dựng Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được Cục Phát triển doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trực tiếp nghiên cứu, soạn thảo và sẽ sớm trình Quốc hội cho ý kiến vào cuối năm 2016. Ở góc độ nghiên cứu tính khả thi của Dự thảo này, tác giả xin kiến nghị một số nội dung cơ bản sau đây cho Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, cụ thể:

Thứ nhất, là một luật với tư cách và mục đích ban hành nhằm tạo hành lang pháp lý, tập trung nguồn lực của kinh tế quốc dân hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nên Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa phải thể hiện được rõ tính chất “hỗ trợ” và đối tượng nhận hỗ trợ. Nói cách khác, trong Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cần thiết phải liệt kê được các khía cạnh mà cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân buộc phải hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong hoạt động của các doanh nghiệp này. Bên cạnh đó, Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng nên đưa ra những điều kiện, tiêu chí để các doanh nghiệp nhỏ và vừa có quyền nhận hỗ trợ. Hơn nữa, Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nên xây dựng đầy đủ hệ thống pháp lý bao gồm các quy phạm cụ thể với những giải pháp toàn diện nhằm thiết lập các nguyên tắc, đường lối, mục tiêu, chính sách, chương trình để có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đối với hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Mặt khác, việc xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương trong hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng là yếu tố tiên quyết, căn bản để Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thể hiện được giá trị và ý nghĩa thiết thực đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam. Ngoài ra, Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được xây dựng trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa của quốc tế, trong đó đặc biệt lưu ý đến kinh nghiệm từ Nhật Bản, Hàn Quốc, nhưng không nên áp dụng hoàn toàn, khuôn mẫu mà cần phải căn cứ vào tình hình và nhu cầu hỗ trợ hiện tại của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam do hệ thống ngành kinh tế cũng như cơ chế hoạt động thị trường và hoạt động trực tiếp của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam là hoàn toàn khác với các doanh nghiệp ở quốc gia đó. Tránh tình trạng áp dụng “y nguyên” mô hình lập pháp của nước ngoài vào mô hình lập pháp ở Việt Nam.

Thứ hai, Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nên đưa ra bố cục rõ ràng để người đọc cũng như các doanh nghiệp nhỏ và vừa dễ dàng tiếp cận các thông tin cần thiết, có lợi cho doanh nghiệp của họ. Theo đó, tác giả đề xuất Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nên chia thành các chương sau đây:

Chương 1. Những quy định chung (Chương này cần quy định về ý nghĩa, mục đích ra đời Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, quy định đối tượng chịu sự áp dụng của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, quy định đối tượng có vai trò trong công tác hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, quy định các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và quy định nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cơ quan quản lý ở trung ương, địa phương trong hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa).

Chương 2. Các giải pháp, biện pháp cơ bản áp dụng nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (Chương này cần đưa ra, liệt kê và giải thích đầy đủ các biện pháp, giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa như: Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới, sáng tạo trong kinh doanh; hỗ trợ tài chính và thuế; hỗ trợ pháp lý; hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa do doanh nghiệp nhỏ và vừa sản xuất; hỗ trợ phát triển thị trường, cung cấp thông tin và tư vấn kinh doanh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; hỗ trợ về lao động và nguồn nhân lực; hỗ trợ liên kết giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa và giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa với doanh nghiệp lớn; hỗ trợ khởi nghiệp; hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa có định hướng phát triển thành doanh nghiệp xã hội…).

Chương 3. Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong một số ngành, lĩnh vực trọng điểm (Chương này đưa ra tiêu chí ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và ưu tiên hỗ trợ trong các ngành, lĩnh vực trọng điểm để bảo đảm phát triển và tăng cường tiềm lực của nền kinh tế quốc dân).

Chương 4. Hệ thống cơ quan, tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (Chương này cần quy định chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan nhà nước ở trung ương, địa phương có liên quan đến hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và liệt kê cụ thể các tổ chức có quyền hạn, nghĩa vụ trong hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp).

Chương 5. Ngân sách, cơ chế phối hợp, hoạt động đánh giá, giám sát việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (Chương này cần quy định ngân sách cung cấp, vấn đề thu chi, dự toán ngân sách cho hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, cơ chế phối hợp ngành, liên ngành, phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong hoạt động hỗ trợ và việc kiểm tra, đánh giá, giám sát thường xuyên cũng như định kỳ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa).

Chương 6. Khen thưởng, kỷ luật, xử lý vi phạm trong hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (Chương này cần liệt kê các trường hợp biểu dương, khen thưởng đối các tổ chức, cá nhân có vai trò trong hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời cũng đề ra các quy tắc kỷ luật và chế tài áp dụng đối những cá nhân, tổ chức vi phạm trong việc hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa).

Chương 7. Tổ chức thực hiện, thi hành (Chương này quy định các điều khoản thi hành, các vấn đề xoay quanh việc rà soát các văn bản pháp luật, phối kết hợp các cơ quan, ban, ngành liên quan để Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đi vào thực tế).

Thứ ba, để tránh tình trạng ban hành luật và văn bản hướng dẫn thiếu khoa học, các cơ quan chủ trì soạn thảo Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng cần lưu ý đến vấn đề có hay không nên cần thiết ban hành văn bản hướng dẫn, nghị định kèm theo. Vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa là một vấn đề khá phức tạp cần có sự tham gia điều tiết, hỗ trợ từ nhiều phía, nhiều cơ quan, ban, ngành liên quan nên việc có văn bản hướng dẫn, văn bản dưới luật kèm sau quá trình Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ra đời là điều tất yếu. Tuy nhiên, để tránh tình trạng luật ra đời “đợi” văn bản hướng dẫn thì cơ quan chủ trì soạn thảo Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cần liên kết, phối hợp với các ban, ngành có liên quan để chuẩn bị các hướng dẫn chi tiết trước khi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ra đời. Điều này sẽ góp phần thuận lợi cho nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa chịu sự tác động của luật và phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan liên quan đến hoạt động này.

Thứ tư, Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ra đời với mục tiêu giải quyết các tồn đọng mà doanh nghiệp nhỏ và vừa đang cần trợ giúp chủ yếu từ phía cơ quan nhà nước. Vì vậy, để Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa có đầy đủ nội dung, bám sát tình hình, thực trạng thực tế và nhu cầu của doanh nghiệp, cơ quan chủ trì soạn thảo cần thiết tổ chức các cuộc điều tra, lấy số liệu và thống kê thực trạng hiện tại của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam và các nguyên nhân chính dẫn đến việc doanh nghiệp nhỏ và vừa cần hỗ trợ phát triển doanh nghiệp để xác định rõ ràng những quy định, quy phạm pháp luật trong Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, là phù hợp với thực tiễn và thỏa mãn được nhu cầu của đa số các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam. Có như vậy, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ra đời mới trở thành một công cụ pháp lý quan trọng, thiết thực, tác động tích cực vào sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam.


Nguyễn Sỹ Anh
Công ty TNHH E-WISDOM Tư vấn và Đào tạo Toàn Cầu


Tài liệu tham khảo:

[1]. Theo số liệu báo cáo thống kê mới nhất của cơ quan chức năng, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam. Nhóm doanh nghiệp này đang tích cực đóng góp thường xuyên và liên tục khoảng hơn 40% GDP, thu hút hơn 50% tổng số nhân công lao động và hàng năm đóng góp xấp xỉ 17,26% nguồn thu ngân sách nhà nước.

[2]. Như: Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; Kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2006-2010 và giai đoạn 2011-2015; Chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; Quỹ bảo lãnh doanh nghiệp nhỏ và vừa; Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa...

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: