Thứ hai 21/09/2026 08:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Điều chỉnh pháp lý trách nhiệm đảm bảo an toàn hạt nhân của quốc gia - Một số đề xuất cho Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Theo các tài liệu hướng dẫn của IAEA: An toàn hạt nhân là việc bảo vệ con người và môi trường đối với các rủi ro bức xạ và an toàn của các thiết bị và hoạt động làm tăng các nguy cơ bức xạ .

Theo Luật Năng lượng nguyên tử Việt Nam 2008, an toàn hạt nhân là việc thực hiện các biện pháp nhằm ngăn ngừa sự cố, rủi ro hoặc giảm thiểu hậu quả sự cố, rủi ro do thiết bị hạt nhân, vật liệu hạt nhân gây ra cho con người, môi trường . Theo quy định tại các điều ước quốc tế và tập quán quốc tế về hạt nhân hiện nay, trách nhiệm quốc gia đảm bảo an toàn hạt nhân phải được thực hiện song hành cả hai nhóm trách nhiệm là trách nhiệm áp dụng tất cả các biện pháp nhằm ngăn ngừa sự cố hoặc giảm thiểu hậu quả sự cố do thiết bị hạt nhân, vật liệu hạt nhân gây ra cho môi trường, dân cư trên lãnh thổ quốc gia mình và trách nhiệm đối với cộng đồng quốc tế.

1. Đặc điểm điều chỉnh pháp lý trách nhiệm quốc gia đảm bảo an toàn hạt nhân

1.1. Về chủ thể

Quốc gia là chủ thể phải thực hiện trách nhiệm quốc gia trong đảm bảo an toàn hạt nhân. Trong hoạt động hạt nhân, ngoài quốc gia, một số chủ thể khác của Luật Quốc tế như các tổ chức quốc tế, các vùng lãnh thổ... cũng tiến hành tham gia vào các hoạt động khai thác và đều có khả năng phải thực hiện trách nhiệm đảm bảo an toàn hạt nhân. Tuy nhiên, năng lượng hạt nhân là một lĩnh vực đặc thù với công nghệ kỹ thuật rất hiện đại, có nguy cơ cao để tiến hành hoạt động này, các chủ thể sẽ phải trải qua các quy trình cấp phép, kiểm tra, giám sát rất gắt gao và chặt chẽ. Chính vì thế, có thể khẳng định, quốc gia là chủ thể cơ bản và chủ yếu của trách nhiệm pháp lý quốc tế trong lĩnh vực này.

Trong quy định hiện hành của Luật quốc tế về trách nhiệm quốc gia nói chung, quốc gia không phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi của pháp nhân không đại diện cho quốc gia hoặc không có sự ủy quyền của nhà nước. Tuy nhiên, đối với pháp luật về năng lượng hạt nhân, quốc gia sẽ là chủ thể gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế đối với các hành vi gây thiệt hại không chỉ của chính cơ quan nhà nước đại diện cho quốc gia mà còn đối với cả các hành vi của các pháp nhân, các thực thể phi nhà nước. Trên thực tế, hoạt động hạt nhân được tiến hành bởi các pháp nhân, có thể là các pháp nhân đại diện hoặc không đại diện cho quốc gia; nhưng pháp nhân sẽ không phải chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế theo Luật Vũ trụ quốc tế, có chăng, pháp nhân sẽ chỉ phải gánh chịu những hậu quả nhất định được quy định trong pháp luật quốc gia. Nếu các hoạt động của pháp nhân gây thiệt hại cho chủ thể khác của Luật Quốc tế, trách nhiệm pháp lý quốc tế sẽ được đặt ra đối với quốc gia nơi có cơ sở hạt nhân.

1.2. Về nguồn luật điều chỉnh

Trách nhiệm quốc gia đảm bảo an toàn hạt nhân được điều chỉnh bởi cả hệ thống pháp luật quốc tế và hệ thống pháp luật quốc gia. Cụ thể:

(i) Các quy định pháp luật quốc tế:

Nguồn luật xác định trách nhiệm quốc gia trong việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa trước khi xảy ra sự cố hạt nhân: Cơ sở pháp lý xác định trách nhiệm quốc gia trong việc áp dụng tất cả biện pháp nhằm ngăn ngừa sự cố hoặc giảm thiểu hậu quả sự cố do thiết bị hạt nhân, vật liệu hạt nhân gây ra cho con người, môi trường bao gồm các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế xác định trách nhiệm quốc gia lắp đặt trước khi tiến hành hoạt động lắp đặt hạt nhân, trách nhiệm của nó trong quá trình hoạt động của cơ sở hạt nhân, và các trách nhiệm của nó trong trường hợp xảy ra tai nạn hạt nhân. Bao gồm:

+ Các điều ước quốc tế về an toàn hạt nhân và điều ước quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: Công ước về an toàn hạt nhân được thông qua năm 1994 và bắt đầu có hiệu lực năm 1996; Công ước chung về an toàn trong quản lý nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng và an toàn trong quản lý chất thải hạt nhân được thông qua năm 1997 và bắt đầu có hiệu lực năm 2011;Công ước ngăn chặn ô nhiễm biển do đổ chất thải và các chất khác năm 1972 và Bản Phụ lục năm 1978;Tuyên bố Stockhom năm 1972 của Liên Hợp quốc về môi trường và phát triển...

+ Các tập quán quốc tế trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân: Đó là những quy tắc xử sự hình thành trong thực tiễn quan hệ quốc tế, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần và được hầu hết các quốc gia thừa nhận là luật. Theo đó, trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân có hai tập quán quốc tế được thừa nhận rộng rãi đó là nguyên tắc an toàn hạt nhân và nguyên tắc chỉ sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình. Hai tập quán này được hầu hết các quốc gia trên thế giới thừa nhận và áp dụng rộng rãi cho dù các quốc gia đó có là thành viên của các điều ước quốc tế về hạt nhân hay không.

+ Các điều ước xác định trách nhiệm quốc gia áp dụng tất cả các biện pháp nhằm giảm thiểu tới mức tối đa thiệt hại do các sự cố hạt nhân, như: Công ước về thông báo sớm tai nạn hạt nhân được thông qua và có hiệu lực năm 1986; Công ước về trợ giúp lẫn nhau trong trường hợp có tai nạn hạt nhân hoặc sự cố phóng xạ được thông qua năm 1986 và bắt đầu có hiệu lực năm 1987; Công ước luật Biển năm 1982...

+ Các điều ước quốc tế xác định trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia do vi phạm các quy định về an toàn hạt nhân như: Công ước Viên năm 1963, Công ước Paris năm 1960 Công ước Bồi thường bổ sung đối với thiệt hại hạt nhân (CSC)....

(ii) Các quy định pháp luật quốc gia xác định trách nhiệm quốc gia đảm bảo an toàn hạt nhân

Cơ sở pháp lý quốc gia xác định trách nhiệm quốc gia đảm bảo an toàn hạt nhân là hệ thống văn bản pháp lý quốc gia về năng lượng hạt nhân và các văn bản pháp lý khác có liên quan[1]. Các văn bản này xác định rõ chủ sở hữu các vật liệu hạt nhân, cơ quan điều hành cấp nhà nước, xác định các tiêu chuẩn an toàn hạt nhân, quy trình, điều kiện cấp phép, thanh tra, xử lý vi phạm…

Luật quốc tế và luật quốc gia là hai hệ thống pháp luật độc lập có mối quan hệ biện chứng với nhau. Trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân, các quy phạm pháp luật quốc gia về hạt nhân góp phần phản ánh, thực hiện nội dung các quy phạm pháp luật quốc tế. Mỗi quốc gia thành viên, trong khuôn khổ luật pháp quốc gia của mình, phải áp dụng các biện pháp pháp lý, pháp quy, hành chính và các bước cần thiết khác để thực hiện các nghĩa vụ trong các điều ước quốc tế về hạt nhân của mình[2]. Mỗi quốc gia phải thiết lập và duy trì khung pháp lý và pháp quy để quản lý việc đảm bảo an toàn của các công trình hạt nhân[3].

Để thực hiện trách nhiệm quốc gia đảm bảo an toàn hạt nhân, ngoài việc tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn trong các điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên và các tiêu chuẩn do chính quốc gia ban hành các quốc gia còn phải nghiên cứu áp dụng các tiêu chuẩn theo các tài liệu hướng dẫn quốc tế của IAEA, pháp luật của các quốc gia để hoàn thiện pháp luật về năng lượng hạt nhân đưa các tiêu chuẩn an toàn hạt nhân của quốc gia tiến tới gần các tiêu chuẩn an toàn quốc tế, đảm bảo an toàn hạt nhân. Bằng cách này, các quốc gia sẽ tận dụng được các kinh nghiệm về đảm bảo an toàn hạt nhân của các quốc gia đi trước. Chỉ khi áp dụng các tiêu chuẩn của IAEA các quốc gia mới có cơ hội nhận được sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật của IAEA

1.3. Nội dung điều chỉnh pháp lý trách nhiệm quốc gia đảm bảo an toàn hạt nhân

Trên cơ sở nghiên cứu nội dung nguồn luật điều chỉnh trách nhiệm quốc gia đảm bảo an toàn hạt nhân, có thể thấy, trách nhiệm quốc gia đảm bảo an toàn hạt nhân bao trách nhiệm quốc gia theo luật quốc tế để xây dựng một cơ sở hạt nhân và hoạt động của nó để ngăn ngừa và giảm thiểu thiệt hại về môi trường. Nếu những trách nhiệm này bị vi phạm, quốc gia chịu trách nhiệm về các hành vi vi phạm. Như vậy, trách nhiệm quốc gia bao gồm hai khía cạnh, trách nhiệm của quốc gia trước khi xảy ra tai nạn hạt nhân và trách nhiệm của quốc gia sau khi xảy ra tai nạn hạt nhân.

Thứ nhất, trách nhiệm áp dụng các biện pháp phòng ngừa trước khi xảy ra tai nạn hạt nhân

Phòng ngừa là một trong những nguyên tắc chung trong luật quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường[4]. Nguyên tắc phòng ngừa là một nguyên tắc tập quán và là cơ sở cho trách nhiệm quốc gia về các thiệt hại môi trường do hoạt động hạt nhân của quốc gia gây ra. Do nhu cầu cấp bách phải giải quyết các vấn đề môi trường đã xuất hiện cùng với việc sử dụng các hoạt động nguy hiểm ngày càng tăng, các quy tắc này đã được thông qua trong một số văn kiện quốc tế và đã được một số các học thuyết về luật pháp quốc tế và các cơ quan tài phán như là một nguyên tắc chung của luật quốc tế. Nguyên tắc này được hỗ trợ bởi Tuyên bố Stockholm và Rio và đã được đưa vào một số hướng dẫn quốc tế. Nguyên tắc 15 của Tuyên bố Rio năm 1992 quy định: "Để bảo vệ môi trường, cách tiếp cận phòng ngừa sẽ được các quốc gia áp dụng rộng rãi theo khả năng của họ. Trường hợp có nguy cơ thiệt hại nghiêm trọng hoặc không thể đảo ngược được thì không được coi là chắc chắn về mặt khoa học vì lý do trì hoãn các biện pháp tiết kiệm chi phí để ngăn ngừa sự xuống cấp môi trường".

Cho tới nay, chưa có định nghĩa chính xác về khái niệm các biện pháp phòng ngừa trong các quy tắc chung của luật pháp quốc tế và liệu khái niệm đó chỉ áp dụng cho các biện pháp phòng ngừa được thực hiện sau khi xảy ra tai nạn hay liệu nó có bao gồm các biện pháp được thực hiện trước tai nạn? Theo tác giả, khái niệm về các biện pháp phòng ngừa bao gồm các biện pháp được thực hiện trước và sau khi xảy ra tai nạn hạt nhân. Vì quốc gia có hoạt động hạt nhân thuộc lãnh thổ của mình có trụ sở hoặc thuộc thẩm quyền của mình hoặc kiểm soát hoạt động đó, nên cấp phép cho hoạt động và phải ban hành Pháp luật trước khi bắt đầu hoạt động, đây được xem là các hình thức của các biện pháp phòng ngừa. Mở rộng khái niệm về các biện pháp phòng ngừa để bao gồm các biện pháp ngăn ngừa và giảm thiểu thiệt hại được phản ánh trong phạm vi trách nhiệm quốc gia tăng lên. Nếu các biện pháp phòng ngừa bao gồm các biện pháp giảm thiệt hại thì Nhà nước không phải chịu trách nhiệm về chi phí của các biện pháp phòng ngừa khác.

Biện pháp phòng ngừa được thực hiện trước khi tai nạn hạt nhân xảy ra đòi hỏi quốc gia không gây thiệt hại cho các quốc gia khác khi tiến hành các hoạt động hạt nhân và phải thực hiện tất cả các biện pháp phòng ngừa và kiểm tra cẩn thận để đảm bảo rằng hoạt động không gây tổn hại cho các quốc gia khác. Điều này bao gồm tất cả các biện pháp dự phòng và cần thiết phù hợp với luật pháp quốc tế cần thiết để ngăn ngừa, giảm thiểu và kiểm soát thiệt hại có thể xảy ra do tai nạn hạt nhân. Những nguyên tắc này tạo thành cơ sở pháp lý của nhiệm vụ ngăn ngừa thiệt hại về môi trường do tai nạn hạt nhân gây ra.

Trách nhiệm phòng ngừa cũng bao gồm việc cung cấp thông tin và sự hợp tác giữa các quốc gia, bởi vì không thể ngăn ngừa thiệt hại về môi trường trừ khi cung cấp thông tin liên quan. Điều tương tự cũng được áp dụng đối với hợp tác giữa các quốc gia, bởi vì rất khó để ngăn ngừa thiệt hại nếu không có sự hợp tác. Điều này cho thấy nguyên tắc cung cấp thông tin và nguyên tắc hợp tác có mối liên hệ với nhau. Hai nguyên tắc này nhằm mục đích kiểm soát các hoạt động nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu thiệt hại.

- Trách nhiệm quốc gia tự kiểm soát các hoạt động hạt nhân trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Trách nhiệm này bao gồm: Thiết lập một cơ chế lập pháp và điều lệ để tổ chức hoạt động của một cơ sở hạt nhân; tiến hành đánh giá tác động môi trường để đảm bảo hoạt động không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường; chỉ định cơ quan vận hành có trách nhiệm hoạt động lắp đặt; Kiểm tra đảm bảo an toàn lắp đặt lò phản ứng hạt nhân; kiểm tra việc áp dụng các quy tắc này; trách nhiệm cung cấp cho các quốc gia và tổ chức quốc tế có khả năng bị ảnh hưởng có liên quan đến thông tin liên quan cần thiết để tránh các hậu quả có hại cho môi trường có thể gây ra.

Quốc gia tiến hành các hoạt động hạt nhân trên lãnh thổ của mình hoặc thuộc thẩm quyền hoặc kiểm soát của mình có nghĩa vụ không gây thiệt hại về môi trường cho các quốc gia khác. Quốc gia phải có các biện pháp phòng ngừa và thực hiện công việc cần thiết để ngăn ngừa thiệt hại do các hoạt động đó gây ra và giảm bất kỳ hậu quả có hại nào nếu tai nạn hạt nhân xảy ra. Các biện pháp này chủ yếu là thủ tục và nhằm mục đích kiểm soát các hoạt động. Nó đòi hỏi sự hợp tác giữa các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có thể bị ảnh hưởng, trong việc cung cấp các thông tin cần thiết liên quan đến hoạt động. Điều này giúp ngăn ngừa và giảm thiểu thiệt hại về môi trường do các hoạt động gây ra.

- Trách nhiệm hợp tác quốc tế nhằm kiểm soát các hoạt động hạt nhân. Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác là một nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế. Nguyên tắc này đặc biệt quan trọng đối với việc sử dụng năng lượng hạt nhân như một hoạt động nguy hiểm với những thiệt hại xuyên biên giới. Theo nguyên tắc này, quốc gia khai thác ứng dụng hạt nhân phải hợp tác với các quốc gia khác và phải cung cấp thông tin liên quan trước và trong suốt hoạt động để ngăn ngừa thiệt hại có thể xảy ra do tai nạn hạt nhân. Các quốc gia cũng có nghĩa vụ hợp tác trong trường hợp xảy ra tai nạn hạt nhân, khắc phục hậu quả tai hại của tai nạn và để hạn chế tác động của nó đến mức có thể. Do đó, nhiệm vụ hợp tác có mục đích ngăn chặn một tai nạn hạt nhân, có thể gây ra thiệt hại và để giảm thiểu những ảnh hưởng có hại của tai nạn.

Quốc gia khai thác ứng dụng hạt nhân phải hợp tác với các quốc gia khác có khả năng bị ảnh hưởng bởi hoạt động hạt nhân, đặc biệt là với các quốc gia láng giềng và các tổ chức có thẩm quyền để ngăn ngừa thiệt hại gây ra bởi các công trình này và cung cấp trợ giúp trong trường hợp xảy ra tai nạn. Sự hợp tác này phải được áp dụng trong các giai đoạn khác nhau của hoạt động hạt nhân trước và trong quá trình hoạt động, và trong trường hợp xảy ra tai nạn hạt nhân. Hợp tác có thể có các hình thức khác nhau, bao gồm cung cấp thông tin liên quan về hoạt động đề xuất, đánh giá tác động môi trường, trao đổi thông tin, cung cấp thông tin cho công chúng, tư vấn, thông báo cho các quốc gia khác trong trường hợp xảy ra tai nạn hạt nhân và cung cấp hỗ trợ trong trường hợp xảy ra tai nạn hạt nhân. Hợp tác về các vấn đề này nhằm mục đích kiểm soát hoạt động, và ngăn ngừa thiệt hại về môi trường cho các quốc gia khác. Điều này đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa nước nguồn, các quốc gia có thể bị ảnh hưởng bởi hoạt động và các tổ chức quốc tế có liên quan.

Thứ hai, trách nhiệm của quốc gia ứng phó tai nạn hạt nhân khi đã xảy ra tai nạn hạt nhân

- Trách nhiệm thông báo sớm và trách nhiệm trợ giúp. Chỉ 06 tháng sau vụ tai nạn Chernobyl năm 1986, Công ước Thông báo sớm về tai nạn hạt nhân (Công ước Thông báo sớm) và Công ước về Trợ giúp trong trường hợp Tai nạn hạt nhân hoặc tình trạng khẩn cấp về phóng xạ (Công ước Hỗ trợ) đã thông qua và có hiệu lực từ rất sớm vào cuối năm 1986. Công ước Thông báo sớm sự cố hạt nhân yêu cầu các quốc gia thành viên có trách nhiệm thông báo ngay cho các quốc gia bị ảnh hưởng có thể bị ảnh hưởng và IAEA về tai nạn hạt nhân. Điều 5 Công ước quy định chi tiết các thông tin cần được cung cấp trong đó bao gồm chính xác thời gian, địa điểm và nguyên nhân của vụ tai nạn, việc cài đặt hoặc hoạt động có liên quan, sự phát triển có khả năng xảy ra tai nạn, và những đặc điểm chung của việc xả phóng xạ. Ngoài ra, quốc gia cung cấp thông tin còn phải cung cấp thông tin về điều kiện khí tượng hiện tại và các biện pháp thực hiện hoặc dự kiến. Các quốc gia bị ảnh hưởng có thể yêu cầu thêm thông tin hoặc tham khảo ý kiến để hạn chế hậu quả phóng xạ trong khu vực pháp lý của họ.

Đối với trách nhiệm trợ giúp trong Công ước trợ giúp, Công ước yêu cầu các quốc gia thông báo cho IAEA sự sẵn sàng trợ giúp của họ về chuyên gia, thiết bị và vật tư. Trong trường hợp có yêu cầu trợ giúp, mỗi quốc gia quyết định xem họ có thể đáp ứng sự trợ giúp đó không, cũng như quy mô và các điều kiện của sự trợ giúp đó. IAEA là đầu mối liên hệ cho sự hợp tác đó thông qua việc chuyển thông tin, hỗ trợ các nỗ lực, và cung cấp các dịch vụ sẵn có.

- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do không đảm bảo an toàn. Quốc gia có trách nhiệm bồi thường tất cả thiệt hại phát sinh do hành vi vi phạm các quy định của luật quốc tế. Vấn đề này đã được thống nhất tại Hội nghị Hague năm 1930 về trách nhiệm của quốc gia.

Thiệt hại là một trong những yếu tố cần thiết, bắt buộc để xác định trách nhiệm pháp lý của quốc gia. Không có trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia nếu không có thiệt hại. Thiệt hại do các hoạt động hạt nhân gây ra được xác định bởi các công ước trách nhiệm hạt nhân và trong Dự thảo của ILC về các nguyên tắc phân bổ tổn thất. Điều này có nghĩa là quốc gia chịu trách nhiệm về những hành động vi phạm của mình, nhưng phải xác định được yếu tố thiệt hại. Tuy nhiên, việc xác định mức độ thiệt hại hạt vật chất của các tai nạn hạt nhân là rất khó khăn. Vấn đề đặt ra đó là quốc gia có phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế khi khi không có thiệt hại vật chất, mặc dù các quy tắc và tiêu chuẩn quốc tế đã bị vi phạm. Câu hỏi đặt ra đó là “ thiệt hại vật chất” liệu nó có phải là một yếu tố cần thiết trong xác định trách nhiệm pháp lý hay không?

Theo tác giả, “thiệt hại” là một yếu tố thiết yếu trong xác định trách nhiệm pháp lý cho các thiệt hại môi trường do các hoạt động hạt nhân gây ra. Đây là điều kiện cơ bản để xác định trách nhiệm đối với những thiệt hại do các hành vi phạm các quy định của luật quốc tế. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh, “thiệt hại” không chỉ là thiệt hại vật chất thuần túy mà "thiệt hại" phải được hiểu bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về pháp lý mà quốc gia phải chịu. Thiệt hại vật chất được thể hiện bằng tiền hoặc bồi thường thiệt hại và cũng bao gồm cả thiệt hại về đạo đức đòi hỏi phải bồi thường về tài chính. Loại thứ hai là “thiệt hại pháp lý”, cho tới nay được đánh giá là nội dung vẫn còn mơ hồ và chưa có sự nhất quán giữa các quốc gia thừa nhận nó như là yếu tố thành phần trong trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia đối với những những hành vi vi phạm.

Thiệt hại là một trong những yếu tố cấu thành trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia[5], khái niệm thiệt hại phải được hiểu bao gồm vả thiệt hại về vật chất và thiệt hại về pháp lý. Việc quốc gia vi phạm trách nhiệm quốc tế sẽ làm ảnh hưởng tới quyền của các quốc gia khác và đó chính là thiệt hại về mặt pháp lý. Vì vậy, nếu một quốc gia có hành vi vi phạm quốc tế đối với quốc gia khác, thì không cần phải chứng minh thiệt hại thực tế. Bảo đảm lợi ích hợp pháp này trong lĩnh vực quan hệ quốc tế quan trọng hơn lợi ích kinh tế hoặc thiệt hại vật chất. Luật quốc tế thừa nhận thiệt hại về đạo đức có thể được bồi thường. Vì lẽ đó, một quốc gia khi có hành vi phạm pháp luật quốc tế, để xác định trách nhiệm pháp lý không cần phải xác định thiệt hại vật chất thực tế nảy sinh.

Như vậy, sau khi đã xác định được trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia do có hành vi phạm về trách nhiệm quốc gia đảm bảo an toàn hạt nhân thì vấn đề đặt ra ở đây đó chính là việc thực hiện trách nhiệm này sẽ được tiến hành bằng những hình thức nào. Liệu rằng, việc thực hiện trách nhiệm bồi thường trong trường hợp này có điểm gì khác, so với trách nhiệm pháp lý quốc tế trong các lĩnh vực khác?

Xuất phát từ đặc thù của vai trò của trách nhiệm quốc gia trong lĩnh vực hạt nhân liên quan đến việc bảo vệ con người và môi trường không chỉ giới hạn trong vai trò cổ điển của trách nhiệm pháp lý nhằm khôi phục thiệt hại mà còn nhằm ngăn ngừa tai nạn hạt nhân và những hậu quả có hại của nó. Nên tùy trường hợp cụ thể, trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia có thể áp dụng các hình thức: (i) Quốc gia có trách nhiệm chấm dứt hành vi vi phạm nếu nó vi phạm các quy tắc của luật quốc tế về trách nhiệm quốc gia đảm bảo an toàn hạt nhân và đảm bảo rằng nó sẽ không được lặp lại. Việc chấm dứt hành động bất hợp pháp chấm dứt việc vi phạm hành động pháp lý của quốc gia và đảm bảo giá trị pháp lý bắt buộc của các quy phạm pháp luật quốc tế bảo đảm an toàn hạt nhân. Theo đó, quốc gia có nguồn phải có trách nhiệm ngừng hoạt động của cơ sở hạt nhân nếu vi phạm các trách nhiệm của mình, hoặc sửa đổi nó; (ii) Khôi phục nguyên trạng. Đây được xem là hình thức khắc phục hoàn hảo nhất nhưng cũng là hình thức khó thực hiện nhất và không phải là trong trường hợp nào cũng có thể khôi phục lại được nên nó chỉ có thể áp dụng trong một số trường hợp nhất định; (iii) Quốc gia có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đầy đủ cho các quốc gia bị thiệt hại. Bồi thường là hình được áp dụng phổ biến trong đền bù thiệt hại do tai nạn hạt nhân và phục hồi môi trường.

3. Một số đề xuất đối với Việt Nam

Trách nhiệm đảm bảo an toàn hạt nhân là trách nhiệm chung của tất cả các quốc gia trên thế giới. Thiệt hại mà tai nạn hạt nhân gây ra không chỉ nằm trong lãnh thổ quốc gia mà là thiệt hại xuyên biên giới. Việt Nam là một trong những quốc gia áp dụng các ứng dụng hạt nhân từ rất sớm. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, số lượng các lò phản ứng trên thế giới ngày càng tăng. Đứng trước nhu cầu tự kiểm soát, bảo đảm an toàn hạt nhân trong phạm vi lãnh thổ quốc gia và nhu cầu hợp tác với các quốc gia khác nhằm đảm bảo an toàn hạt nhân trên toàn cầu. Việt Nam cần có các hoạt động sau:

Thứ nhất, cần tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hạt nhân góp phần bảo đảm an toàn, an ninh hạt nhân trong khu vực và trên thế giới; tăng cường sự hợp tác tin cậy lẫn nhau trong các quan hệ hợp tác đa phương, song phương trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế.

Thứ hai, cần rà soát, hoàn thiện các quy định pháp luật trong nước phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế về đảm bảo an toàn hạt nhân.

Thứ ba, cần thiết lập cơ chế thường xuyên trao đổi với các quốc gia láng giềng về an toàn hạt nhân. Đồng thời, Việt Nam cần tích tăng cường phổ biến các kiến thức cần thiết về sự cố hạt nhân cho người dân; khi phát hiện sự cố, cơ quan chức năng cần thông báo kịp thời tới cộng đồng.

Thứ tư, Việt Nam cần sớm triển khai mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường. Mạng lưới sẽ giúp phát hiện sớm sự cố và kịp thời có phương án ứng phó, bởi phóng xạ di chuyển không biên giới và không thể nhận biết bằng mắt thường.

NCS.ThS. Mạc Thị Hoài Thương

Đại học Luật Hà Nội


[1]Có thể kế tới các văn bản pháp lý trong lĩnh vực môi trường, đất đai, xuất nhập khẩu, điện lực…

[2] Xem thêm Điều 4 Công ước an toàn hạt nhân.

[3] Xem thêm Điều 4 Công ước an toàn hạt nhân.

[4] Nguyên tắc phòng ngừa trong luật pháp quốc tế xem, Arie Trouwborst, "Nguyên tắc thận trọng trong Luật quốc tế chung: Chống lại sự liên kết Babylon", trong: RECIEL, Vol. 16, Số 2, 2007, tr. 185-195.

[5] Clyde Eagleton, "Trách nhiệm của Nhà nước trong Luật quốc tế", Nxb. Đại học New York, Washington Square, New York, 1928, tr. 22.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: