Thứ tư 04/03/2026 12:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Điều chỉnh tuổi nghỉ hưu - Dưới góc nhìn lợi ích

Tóm tắt: Tăng tuổi nghỉ hưu là một nội dung trong Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động năm 2012. Tuy nhiên, đây là vấn đề còn có nhiều ý kiến trao đổi, tranh luận khác nhau. Bài viết này nghiên cứu, bình luận việc điều chỉnh tuổi nghỉ hưu dưới các góc nhìn khác nhau về lợi ích như là một gợi ý để đánh giá tác động chính sách của việc điều chỉnh tuổi nghỉ hưu trong Bộ luật Lao động nước ta hiện nay.

Abstract: Increasing the retirement age is a part of the draft amendment on Labour Code of 2012. However, there are many different debatable opinions on this issue. This article studies and discusses the adjustment of retirement age policy under distinctive beneficial aspects and provides a suggestion on the impact of such policy in our current Labour Code.

Vấn đề tuổi nghỉ hưu luôn là sự quan tâm của nhiều đối tượng khác nhau trong xã hội. Khi mà tuổi thọ của con người ngày càng có xu hướng tăng lên, số trẻ sinh ra ngày càng giảm đi thì việc điều chỉnh tuổi nghỉ hưu là một xu hướng tất yếu để đảm bảo an toàn cho an sinh xã hội với người nghỉ hưu. Do vậy, xu thế chung của thế giới là dần tăng tuổi nghỉ hưu của người lao động. Tuy nhiên, kinh nghiệm nhiều nước cho thấy, việc điều chỉnh tuổi nghỉ hưu là vấn đề hết sức nhạy cảm và tác động sâu rộng tới tất cả các mặt của đời sống xã hội, do vậy để tạo sự đồng thuận cao, cần phải tính toán hết sức khoa học và chặt chẽ ngay từ quá trình xây dựng, ban hành luật và sau đó là tổ chức thực hiện. Hiện nay ở nước ta, vấn đề tăng tuổi nghỉ hưu đã được đưa vào Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động năm 2012 và cũng có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau về vấn đề này. Bài viết này tiếp cận việc điều chỉnh tuổi nghỉ hưu dưới góc độ lợi ích nhằm cung cấp thêm các luận cứ khi nghiên cứu tăng tuổi nghỉ hưu của người lao động.

1. Mối quan hệ giữa tuổi đời, tuổi nghỉ hưu và tuổi lao động

Khi Otto Von Bismarck[1] lần đầu tiên trả lương hưu cho người trên 70 tuổi vào năm 1889, tuổi thọ trung bình của người Phổ là 45 tuổi. Năm 1908, khi Lloyd George[2] trả 05 si-ling/một tuần cho những người nghèo từ 70 tuổi trở lên, người Anh có tuổi thọ trung bình trên 50 tuổi. Đến năm 1935, khi Mỹ thiết lập hệ thống an sinh xã hội, tuổi nghỉ hưu chính thức ở quốc gia này là 65 tuổi, cao hơn 03 năm so với tuổi thọ trung bình của người dân. Vì vậy, chỉ một số ít người được hưởng lương hưu do Nhà nước hỗ trợ. Ngày nay, tất cả mọi người ở các nước trên đều được nghỉ hưu[3]. Ở Việt Nam, chính sách hưu trí được bắt đầu từ năm 1961, khi đó tuổi nghỉ hưu được quy định là 60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ, lúc đó tuổi thọ trung bình là 59 tuổi; đến năm 2014, tuổi thọ trung bình là 73 tuổi (nam 70,6 tuổi, nữ 76 tuổi), thì tuổi nghỉ hưu vẫn giữ nguyên như cách đây hơn 50 năm. Như vậy, trong khi mức đóng và tuổi nghỉ hưu không thay đổi thì khi tuổi thọ tăng lên sẽ đồng nghĩa với việc thời gian hưởng lương hưu cũng tăng lên, theo đó sẽ tác động tiêu cực đến yếu tố tài chính của quỹ hưu trí. Về tuổi lao động, quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và hệ thống pháp luật lao động các nước nói chung cũng như ở Việt Nam nói riêng đều chỉ ghi nhận và quy định độ tuổi tối thiểu tham gia quan hệ lao động mà không quy định độ tuổi tối đa, điều này gắn liền với nhân quyền về lao động của công dân[4]. Ngoài ra, một nghiên cứu đã được công bố tại Việt Nam của Viện Y học lao động Phần Lan (FIOSH) về chỉ số khả năng làm việc (WAI) với điều kiện Việt Nam nhằm đánh giá khả năng lao động của người Việt Nam ở một số ngành nghề và ở các nhóm tuổi khác nhau, thì nhóm tuổi 21 - 30 có điểm WAI cao nhất. Tuy nhiên, nhóm tuổi 51 - 60 vẫn còn 53,3% đối tượng có chỉ số WAI loại rất tốt và tốt. Điều này khẳng định khả năng làm việc của nhóm người lao động trong độ tuổi này có thể kéo dài thêm, tức là việc tăng tuổi nghỉ hưu với nhóm này là hoàn toàn có thể[5]. Như vậy, việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu của người lao động trên bình diện chung là phù hợp trong mối quan hệ với độ tuổi lao động và tuổi thọ, nhưng xét ở bình diện cá biệt (ví dụ những người làm công việc nặng nhọc, bấp bênh, thu nhập thấp) thì cần phải cân nhắc thận trọng.

2. Chế độ hưu trí là quyền hay nghĩa vụ?

Chế độ hưu trí là một chế độ của bảo hiểm xã hội. Đây là chế độ bảo đảm dài hạn cho người lao động khi già yếu, hết tuổi lao động, nhằm cung cấp một khoản tiền thay thế cho phần thu nhập không được nhận từ nghề nghiệp do phải nghỉ hưu. Có thể nói, đây là chế độ bảo đảm quan trọng nhất trong các chế độ bảo hiểm xã hội. Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966 của Liên Hợp Quốc đã ghi nhận tại Điều 9 rằng: “Các quốc gia thành viên Công ước này thừa nhận quyền của mọi người được hưởng an sinh xã hội, kể cả bảo hiểm xã hội”. Điều 25 Phần IV Công ước số 102 năm 1952 của ILO quy định những quy phạm tối thiểu về an sinh xã hội cũng nhấn mạnh: “Mọi nước thành viên chịu hiệu lực của Phần này trong Công ước phải đảm bảo cho những người được bảo vệ được nhận trợ cấp tuổi già theo những điều của Công ước”.

Như vậy, xét ở khía cạnh nhân quyền thì được hưởng an sinh xã hội, bảo hiểm xã hội nói chung và quyền hưởng hưu trí nói riêng là quyền của công dân, của người lao động. Tuy nhiên, xét ở khía cạnh kinh tế của quan hệ bảo hiểm xã hội thì để được hưởng bảo hiểm xã hội, người lao động phải tham gia (đóng) bảo hiểm xã hội theo một mức nhất định (thường là theo mức tiền lương, tiền công, thu nhập) do Nhà nước quy định. Do đó, để được hưởng chế độ hưu trí, người lao động phải có trách nhiệm tham gia (đóng phí) bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật trong một khoảng thời gian nào đó và đạt đến một độ tuổi nhất định. Theo quy định tại Công ước số 128 về trợ cấp tàn tật, tuổi già và tiền tuất năm 1967 của ILO thì độ tuổi nghỉ hưu là không quá 65 tuổi. Tuy nhiên, các cơ quan có thẩm quyền có thể quy định một độ tuổi cao hơn, theo các chỉ tiêu về nhân khẩu, kinh tế và xã hội thích hợp, được số liệu thống kê chứng minh; nếu độ tuổi quy định bằng hoặc cao hơn 65 tuổi, độ tuổi đó phải được hạ thấp trong những điều kiện quy định nhằm mục đích trợ cấp tuổi già, đối với những người đã làm những công việc được pháp luật quốc gia coi là nặng nhọc hoặc độc hại[6].

Để được hưởng chế độ hưu trí (tuổi già) thì người lao động có nghĩa vụ tham gia đóng bảo hiểm trong một thời gian và phải đạt đến một độ tuổi nhất định do pháp luật quốc gia quy định. Tuy nhiên, khi có đủ các điều kiện nói trên thì: Đủ điều kiện nghỉ hưu có phải là cơ sở để chấm dứt quan hệ lao động? Nghỉ hưu là quyền hay nghĩa vụ của người lao động?

Thứ nhất, quan hệ bảo hiểm xã hội là quan hệ giữa người lao động, người sử dụng lao động với cơ quan bảo hiểm xã hội. Do đó, xét về bản chất quan hệ lao động và quan hệ bảo hiểm xã hội là hai quan hệ khác nhau (mặc dù có mối liên hệ mật thiết với nhau) nên không thể coi đủ điều kiện hưởng bảo hiểm hưu trí thì quan hệ lao động đương nhiên chấm dứt. Điều này cũng cắt nghĩa cho việc người lao động vẫn có thể tiếp tục làm việc cho người sử dụng lao động ngay sau khi nghỉ hưu. Như vậy, sự kiện chấm dứt quan hệ lao động chỉ đặt ra khi người lao động không có nhu cầu tiếp tục làm việc hoặc làm việc ở nơi khác chứ không thể và không nên tiếp cận khi người lao động đủ điều kiện nghỉ hưu thì người sử dụng lao động có quyền chấm dứt quan hệ lao động (trừ khu vực hành chính công).

Thứ hai, các quy định của pháp luật quốc tế và quốc gia đều coi nghỉ hưu (với tư cách là một nội dung của an sinh xã hội) là quyền của người lao động. Như vậy, về hình thức, có thể hiểu khi đủ các điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội thì việc nghỉ hưu do người lao động có quyền quyết định có nghỉ hưu hay không. Tuy nhiên, nghỉ hưu không chỉ đơn thuần là quyền mà nó còn là vấn đề an sinh, lao động, việc làm và vấn đề pháp lý. Thêm nữa, tùy tính chất, vị trí và khả năng hưởng lợi của quan hệ lao động tham gia mà người lao động sử dụng quyền nghỉ hưu với những dụng ý khác nhau. Những người làm công việc nặng nhọc, cường độ lao động cao thường muốn sử dụng quyền nghỉ hưu sớm nhưng những người làm công việc nhẹ nhàng, thu nhập ổn định, nhiều lợi ích thường muốn nghỉ hưu muộn. Chính vì vậy, với pháp luật nhiều nước, nghỉ hưu vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của người lao động. Nói cách khác, khi đủ điều kiện nghỉ hưu theo quy định, người lao động có quyền được nghỉ hưu và người sử dụng lao động cũng có quyền yêu cầu người lao động chấm dứt quan hệ lao động để nghỉ hưu. Ngoài ra, xuất phát từ bản chất của chế độ hưu trí thì quyền nghỉ hưu không đồng nghĩa với việc thực thi quyền này bất cứ lúc nào mà cần phải hướng sự đảm bảo an sinh cho người lao động khi hết tuổi lao động, không còn nguồn thu nhập nào khác. Vì vậy, pháp luật rất hạn chế việc chi trả hưu trí một lần và đặc biệt là chi trả trước tuổi nghỉ hưu. Pháp luật bảo hiểm xã hội Việt Nam đã có những trải nghiệm rất đáng suy ngẫm về vấn đề này trong thực tiễn[7].

3. Chế độ hưu trí - khế ước giữa các thế hệ

Nhu cầu phát triển của mọi mô hình kinh tế trong lịch sử loài người đều có một điểm chung là cần một chu kỳ ổn định lâu dài và một cái gọi là “khế ước giữa các thế hệ”. Vương quốc Anh là quê hương của tư tưởng này, giá trị truyền thống mà triết gia Edmund Burke (1729 - 1797) của Kỷ khai sáng đề cao nhất là khế ước giữa các thế hệ. Đó là thỏa thuận không chỉ giữa những người đang sống, mà còn cả giữa những người đã chết và những người chưa ra đời. Khế ước giữa các thế hệ hôm nay là nền tảng của các Nhà nước mang tính xã hội như Anh, Đức hay các nước Bắc Âu, được xây nên bởi lời hứa từ đứa bé trong bụng mẹ[8]. Với cơ sở triết lý như vậy, thì về bản chất, chế độ hưu trí là một nội dung quan trọng của “khế ước giữa các thế hệ” của các chủ thể tham gia quan hệ lao động, không chỉ giữa người lao động với nhau mà còn với người sử dụng lao động. Theo đó, tham gia bảo hiểm hưu trí sẽ không thấy lợi ích ngay trước mắt mà sự đóng góp phí bảo hiểm xã hội của người lao động đang làm việc ngoài ý nghĩa là điều kiện để hưởng chế độ hưu trí còn là sự tạo lập nguồn tài chính để chi trả cho người đã nghỉ hưu. Và những thế hệ tiếp theo sẽ đóng bảo hiểm xã hội để chi trả tiền lương hưu cho những người lao động hiện nay khi đủ điều kiện nghỉ hưu. Như vậy, việc tham gia bảo hiểm xã hội là trách nhiệm, là sự kết nối giữa các thế hệ với nhau để đảm bảo rằng tất cả mọi người lao động khi hết tuổi lao động đều được đảm bảo an sinh tuổi già. Dưới góc độ này, hành vi trốn tránh nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội của các chủ thể trong quan hệ bảo hiểm xã hội không chỉ là vấn đề pháp lý mà còn là vấn đề đạo đức.

PGS.TS. Nguyễn Hữu Chí

Tài liệu tham khảo:

[1]. Thủ tướng Phổ từ năm 1862 tới năm 1890; Thủ tướng đầu tiên của nước Đức thống nhất sau Hiệp ước Versailles năm 1871.
[2]. Bộ trưởng Ngân khố Anh từ năm 1908 đến năm 1915; Thủ tướng Anh từ năm 1916 đến năm 1922.
[3]. Http://www.baomoi.com/cac-nuoc-giau-co-nen-tang-tuoi-nghi-huu, cập nhật ngày 08/01/2017.
[4]. Bộ luật Lao động năm 1994 (sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006 và 2012) đều quy định độ tuổi tham gia quan hệ lao động của người lao động Việt Nam là 15 tuổi.
[5]. Báo cáo đánh giá tác động của dự án Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động, Dự thảo lần 1, tháng 12/2016.
[6]. Điều 15 Công ước số 128 về trợ cấp tàn tật, tuổi già và tiền tuất năm 1967 của ILO.
[7]. PGS.TS. Nguyễn Hữu Chí, “Sửa đổi, bổ sung Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 dưới góc nhìn quan hệ lao động tập thể”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số tháng 9/2015.
[8]. Http://tuoitre.vn/tin/tuoi-tre-cuoi-tuan/brexit-day-ta-dieu-gi/Lê Quang, ngày 03/7/2016.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: