Chủ nhật 11/10/2026 06:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Điều kiện chuyển giới về mặt pháp lý bắc buộc hoặc không bắt buộc phẫu thuật chuyển giới và kiến nghị cho pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam chính thức công nhận chuyển đổi giới tính tại Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015, tuy nhiên, đây mới được xem là những quy định mang tính nguyên tắc chung nhất, để thực hiện được nội dung này, cần phải chờ Quốc hội thông qua một đạo luật riêng, quy định về trình tự, thủ tục, điều kiện chuyển đổi giới tính. Theo lộ trình, Dự án Luật Chuyển đổi giới tính sẽ xây dựng và trình Chính phủ vào năm 2018. Dưới góc độ nhân quyền, bài viết này đưa ra cơ sở ủng hộ việc công nhận chuyển đổi giới tính không bắt buộc phẫu thuật và kiến nghị cho Luật Chuyển đổi giới tính của Việt Nam.


Abstract: Vietnam has officially acknowledged transgender by Article 37 of the Civil Code of 2015. This, however, can be seen as a most general regulation of principle. The implementation of this regulation shall wait until the National Assembly will pass a particular law on sequence, procedures, terms for gender change. The Draft Law on Transgender is proposed to submit to the Government in 2018. This paper raises background from the human right aspect to support the acknowledgement of transsexuality by non-compulsory surgery and recommendations for the Law on Transgender of Vietnam.

1. Cơ sở lý luận của việc cho phép chuyển giới tính

Những người chuyển giới (transgender) đã tồn tại từ lâu trong xã hội và đã không nhận được sự quan tâm xứng đáng của xã hội. Khác với những nhóm còn lại trong cộng đồng LGBT (lesbian - đồng tính nữ; gay - đồng tính nam; bisexual - song tính luyến ái), người chuyển giới là từ dùng để chỉ khái niệm về nhận định giới tính chứ không phải xu hướng tình dục. Quá trình xác định giới liên quan điều trị xác nhận giới tính được gọi là phẫu thuật chuyển đổi giới tính.

Những người bị rối loạn định dạng giới tính cảm thấy mình rõ ràng không phải thuộc giới tính hiển thị trên cơ thể. Chẳng hạn như một người có dương vật và các đặc điểm khác của một người nam, nhưng thật sự lại cảm giác mình đúng ra phải là phụ nữ. Người này có mong muốn mãnh liệt trở thành phụ nữ và cũng muốn được người xung quanh công nhận mình là một phụ nữ. Bởi vì cơ hình dạng cơ thể không thể hiện đúng giới tính của mình, nên họ luôn lo lắng và muộn phiền. Ngày nay, người ta dùng thuật ngữ người chuyển giới để nói về những người cảm thấy giới tính không phù hợp với cơ thể mình[1]. Chính vì luôn lo lắng và muộn phiền, chuyển đổi giới tính được định danh một dạng bệnh tâm thần. Theo Hệ thống phân loại các bệnh tật (International Classification of Disease - ICD) của Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Orgianization - WHO) xác định chuyển đổi giới tính thuộc bệnh rối loạn tâm thần và cũng đưa ra hướng dẫn chẩn đoán những rối loạn này.

Về những cân nhắc khi cho phép chuyển giới, ngoài những xung đột về mặt tôn giáo, văn hóa, việc cho phép chuyển đổi giới tính có thể gây ra những quan ngại về việc lạm dụng, như chuyển giới để trốn tránh nghĩa vụ quân sự, gian lận trong thể thao hay lừa đảo tài sản, trốn việc bị Tòa án truy nã, để hoạt động mại dâm. Với những người đã kết hôn thì việc chuyển giới gây ra hệ lụy cho người vợ hay chồng vì hôn nhân trở nên vô hiệu và nếu có con thì con cái bị mất ba mẹ trên giấy tờ. Bản thân người chuyển giới, phải sử dụng nội tiết tố trong thời gian dài và phải trải qua rất nhiều phẫu thuật, khiến tâm sinh lý thay đổi, có thể suy yếu dễ bị nhiễm bệnh. Họ không thể có con, phải sử dụng nội tiết tố suốt đời[2]. Nghiên cứu ở Mỹ cho thấy, người chuyển giới có tỷ lệ mắt trầm cảm và tự sát cao do những thất vọng về cuộc sống sau khi chuyển giới[3,4].

Những hệ lụy và những tranh chấp pháp sinh sau việc chuyển giới sẽ tạo ra gánh nặng cho gia đình và xã hội. Sau khi trải qua hoàn loạt ca phẫu thuật và thời gian sử dụng nội tiết tố, cơ thể người chuyển giới trở nên suy yếu chưa kể nếu có tai biến xảy ra do dùng thuốc hoặc do các ca phẫu phẫu thuật, những tranh chấp có thể xảy ra giữa người chuyển giới và bác sĩ phẫu thuật, tranh chấp người chuyển giới và vợ/chồng của họ. Hệ thống an sinh xã hội chi trả cho những điều trị và tai biến sau chuyển giới… Vì vậy, khi xây dựng Luật Chuyển đổi giới tính cần phải xem xét điều kiện áp dụng phẫu thuật chuyển đổi giới (độ tuổi, tình trạng hôn nhân), điều kiện áp dụng chuyển đổi giới về mặt pháp lý (phẫu thuật hay không bắt buộc phẫu thuật), chính sách bảo hiểm y tế cho việc chuyển phẫu thuật và điều trị chuyển giới (bảo hiểm chi trả hay tự chi trả), tư vấn tâm lý và điều kiện xã hội (sự kỳ thị của xã hội, chế độ nhà vệ sinh công cộng, nhà tù… dành cho người chuyển giới) và khía cạnh tư vấn tâm lý (phòng khám tâm lý đặc biệt hỗ trợ cho người chuyển giới).

2. Điều kiện công nhận chuyển giới về mặt pháp lý

2.1. Bắt buộc hay không bắt buộc phẫu thuật chuyển đổi giới tính

Trong số các nước hiện cho phép chuyển đổi giới tính, có hai nhóm: (i) Nhóm cho phép chuyển đổi giới tính mà không cần qua phẫu thuật, như Anh, Đức, Hà Lan, Đan Mạch, Nga, Bồ Đào Nha, Canada, Israel, Hàn Quốc; (ii) Nhóm các nước bắt buộc phải qua phẫu thuật mới cho chuyển đổi giới tính, như Pháp, Úc, Cu ba, Iran…, các chi phí phẫu thuật sẽ do Nhà nước chi trả[5] Nhưng như trên đã đề cập, phẫu thuật chuyển đổi giới tính rất phức tạp và tiềm ẩn nhiều nguy cơ sức khỏe. Vì vậy, nhiều nước áp dụng Bộ Tiêu chuẩn chăm sóc dành cho người chuyển giới, xuyên giới và người chưa xác định giới tính của Hiệp hội chuyên gia quốc tế về sức khỏe người chuyển giới[6] với những quy định khắc khe về chăm sóc y tế và tâm lý cho người chuyển giới. Việc bắt buộc phẫu thuật chuyển đổi giới để được công nhận về mặt pháp lý bị vấp phải những tranh cãi gay gắt về nhân quyền.

2.2. Định dạng giới tính và vấn đề nhân quyền

Báo cáo về tra tấn và điều trị tàn ác, vô nhân đạo hay làm mất phẩm giá hay sự trừng phạt của Juan E.Méndez, Ủy ban Nhân quyền, Đại Hội đồng Liên Hiệp quốc, ngày 01/02/2013[7] đã dẫn chiếu kết luận của Tổ chức sức khỏe Mỹ PAN (The Pan American Health Organization - PAHO) rằng, điều trị đồng tính luyến ái bằng liệu pháp nội tiết tố là việc không thể chấp nhận và nên bị lên án. Báo cáo cũng phản ánh việc điều trị bằng nội tiết tố, các phẫu thuật chuẩn hóa bộ phận sinh dục dưới là ít khi cần thiết về mặt y khoa, nhưng lại gây sẹo, mất cảm giác tình dục, đau đớn và trầm cảm suốt cuộc đời chỉ trích việc này không mang tính khoa học, có khả năng gây hại và góp phần tạo ra sự kỳ thị.

Ở nhiều quốc gia, người chuyển giới bị buộc phải trải qua nhiều cuộc phẫu thuật triệt sản không cần thiết như một điều kiện tiên quyết để được thừa nhận pháp lý cho giới tính mà họ ưa thích. Những phẫu thuật cưỡng bức này không chỉ dẫn đến việc vô sinh vĩnh viễn và không thể thay đổi được đối với cơ thể, ảnh hưởng đến đời sống gia đình và sinh sản, mà còn xâm nhập nghiêm trọng và không thể đảo ngược được sự toàn vẹn về thể chất của một người. Dưới góc độ này, Tòa án các quốc gia như Thụy Điển, Đức cho rằng, bắt buộc phẫu thuật chuyển đổi giới tính như một điều kiện công nhận giới tính về mặt pháp lý là xâm phạm tính toàn vẹn cơ thể của một người[8].

Trong nỗ lực thúc đẩy các tiêu chuẩn quốc tế về khuynh hướng tình dục và nhận dạng giới tính trên phạm vi toàn thế giới[9], một nhóm chuyên gia về Luật Nhân quyền quốc tế đã công bố Nguyên tắc Yogyakarta (2007) về áp dụng Luật Nhân quyền liên quan đến định hướng tình dục và xác định giới tính. Mặc dù chưa được thừa nhận là một tiêu chuẩn quốc tế, nhưng các nguyên tắc này đã được trích dẫn bởi Liên Hiệp quốc, Tòa án quốc gia và nhiều Chính phủ đã dùng như một công cụ hướng dẫn để xây dựng chính sách trong vấn đề này. Ủy viên vấn đề nhân quyền cũng đã thừa nhận Nguyên tắc Yogykarta và xem xét chúng như một công cụ quan trọng trong việc xác định trách nhiệm quốc gia cần tôn trọng, bảo vệ và thực thi nhân quyền cho mọi người bất kể việc nhận dạng giới tính của họ.

Có liên quan đặc biệt về vấn đề đang thảo luận là nguyên tắc số 3: “Mọi người đều có quyền công nhận ở mọi nơi như là một người trước pháp luật. Những người có xu hướng tình dục và nhận dạng giới tính đa dạng sẽ có năng lực pháp lý trong mọi khía cạnh cuộc sống. Tự định xu hướng tình dục và xác nhận giới tính hướng của mỗi người là yếu tố không thể tách rời trong tính cách của họ và là một trong những khía cạnh cơ bản của tự quyết, phẩm giá và sự tự do. Không ai bị bắt buộc phải trải qua các thủ thuật y khoa, kể cả giải phẫu thuật chuyển giới tính, triệt sản hay liệu pháp nội tiết tố, như một đòi hỏi để được công nhận pháp lý về xác định giới tính của họ. Không có tình trạng nào, chẳng hạn như kết hôn hoặc làm cha mẹ, có thể viện dẫn để ngăn chặn việc công nhận pháp lý xác định giới tính của một người. Không ai phải chịu áp lực che dấu, đàn áp hay chối bỏ xu hướng tình dục và định giới tính của mình”[10,11].

3. Một vài kiến nghị cho Luật Chuyển đổi giới tính của Việt Nam

Mặc dù chưa có Luật Chuyển đổi giới tính, nhưng theo tinh thần của Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015, một số người cho rằng, Việt Nam nằm trong nhóm nước bắt buộc phải qua phẫu thuật mới cho chuyển đổi giới tính[12]. Nhận định này xuất phát từ quy định về xác định lại giới tính (Nghị định số 88/2008/NĐ-CP ngày 05/8/2008 của Chính phủ về xác định lại giới tính cho những người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác và những người này cần phẫu thuật và điều trị can thiệp). Việt Nam chưa hề có quy định về chuyển đổi giới tính ngoài Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015, nên theo nhóm tác giả, không thể nói Việt Nam thuộc nhóm nước yêu cầu giải phẫu chuyển đổi giới hay không. Bởi vì những trường hợp bị khuyết tật bẩm sinh về cơ quan sinh dục khiến việc xác định giới tính không rõ ràng, cần phải phẫu thuật để chỉnh sửa khiếm khuyết thì gọi là “xác định lại giới tính”. Việc phẫu thuật của họ không được coi là chuyển đổi giới mà chỉ là sự chỉnh hình lại để giới tính trở nên rõ ràng. Trong khi đó, người chuyển đổi giới có cơ thể hoàn toàn bình thường về giải phẫu và sinh học, nhưng họ cho bản thân thuộc giới tính khác[13,14]. Vì vậy, xác định lại giới tính và chuyển đổi giới tính là hai vấn đề khác nhau.

Ở các nước cho phép chuyển đổi giới tính nhưng bắt buộc phẫu thuật quy trình xác định giới tính hầu như rất rườm rà với các thủ tục nhận dạng giới tính phức tạp gồm xét nghiệm tâm lý, tâm thần và thể chất kéo dài. Vì vậy, một số người chuyển giới có thể quyết định không tham gia vào các quy trình y khoa phân biệt giới và điều trị chuyển giới không phù hợp với họ. Một số người chuyển giới khác sau khi chấp nhận kiểm tra và điều trị, họ lại bỏ cuộc để được thừa nhận pháp lý về giới tính với tên họ ưa thích của mình hoặc điều trị chuyển giới tính phù hợp với mong muốn của mình vì nhu cầu sức khỏe và lý do kinh tế.

Vấn đề cho phép chuyển giới là một vấn đề mới mẻ và rất nhạy cảm bởi những xáo trộn có thể xảy ra cho chính bản thân người chuyển giới, gia đình và xã hội. Dưới góc độ bảo vệ những người chuyển giới, thiểu số trong xã hội, họ có những quyền được toàn vẹn thân thể và được sống với nguyện vọng định giới của mình. Việc công nhận giới tính về mặt pháp lý làm một phần để đảm bảo quyền lợi của người chuyển giới trong đời sống xã hội. Chúng tôi cho rằng, việc công nhận chuyển giới không bắt buộc phẫu thuật là một lựa chọn rất cần được xem xét và áp dụng cho Việt Nam.

Với những nước cho phép chuyển giới mà không bắt buộc phải trải qua điều trị nội tiết tố hay phẫu thuật để được công nhận giới tính về mặt pháp lý. Để được công nhận giới tính về mặt pháp lý chỉ có các bằng chứng về chứng rối loạn định dạng giới tính trước khi cơ quan có thẩm quyền (chẳng hạn Bộ Y tế, Ban Xác định lại giới tính ở Anh hay một bác sĩ hay một nhà tâm lý học lâm sàng)[15]. Phân tích quy định về chuyển giới tại Anh, một trong những nước công nhận chuyển đổi giới tính không bắt buộc phẫu thuật như phân tích bên trên. Những người đang sống theo một giới tính khác, theo Đạo luật công nhận chuyển giới năm 2004 sẽ có quyền nộp đơn yêu cầu chuyển đổi giới tính[16]. Ban xác định lại giới tính tùy theo từng trường hợp của người nộp đơn gồm thành viên của Ban bắt buộc phải có ít nhất chuyên gia pháp lý và một bác sĩ[17]. Việc xác định giới tính dựa trên việc người nộp đơn bị chứng rối loạn định dạng giới tính, đang sống trong giới mà họ mong muốn trong it nhất hai năm và có dự định tiếp tục sống với giới tính mong muốn của mình cho đến lúc chết[18]. Cần phải nộp chứng cứ y khoa rằng người này đang sống trong giới tính khác bởi cáo cáo của bác sĩ hay một chuyên gia tâm lý đang làm trong lĩnh vực rối loạn định dạng giới tính. Báo cáo này phải nêu chi tiết chẩn đoán. Báo cáo thứ hai không cần phải do bác sĩ trong lĩnh vực rối loạn định dạng giới tính, mà có thể do một bác sĩ hay chuyên gia tâm lý bất kỳ. Ít nhất một trong hai báo cáo này phải có thông tin chi tiết về các điều trị mà người nộp đơn đã trải qua, đang trải qua (đã kê đơn hay kế hoạch điều trị) nhằm điều chỉnh đặc tính giới tính[19].

Chúng tôi cho rằng, những quy định chuyển giới này có thể giúp giảm nhẹ gánh nặng mà người chuyển giới phải trải qua để được pháp luật công nhận giới và có thể tham khảo trong quá trình xây dựng Luật Chuyển đổi giới tính ở Việt Nam.

TS. Nguyễn Xuân Quang

ThS. Nguyễn Xuân Lý

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo:

[1].WebMD, When you don’t feel at home with your gender, reviewed by Soseph Goldberg, MD on Sep 09, 2016 tại http://www.webmd.com/mental-health/gender-dysphoria#1.

[2]. Đời sống pháp luật, Những tiết lộ “sốc” của bác sĩ phẫu thuật chuyển đổi giới tính, đăng ngày 28/03/2014 tại http://www.doisongphapluat.com/xa-hoi/nhung-tiet-lo-soc-cua-bac-si-phau-thuat-chuyen-doi-gioi-tinh-a27183.html.

[3]. Ann P.Haas và Philip L Rodgers, American Foundation for Suicide Prevention, Suicide Attempts among Transgender and Gender Non-Confirming Adults – Findings of the national transgender discrimination survey, 01-2014, p. 2.

[4]. WPATH-World professional Association for Transgender Health, Standards of Care for the Health of Transsexual, Transgender, and Gender Nonconforming People, p. 20-54.

[5]. Vietnamnet.vn, Nguyễn Văn Đức, Chuyển đổi giới tính: Vì sao chưa thể thực thi ngay, đăng ngày 08/11/2016 tại http://vietnamnet.vn/vn/phap-luat/tu-van-phap-luat/chuyen-doi-gioi-tinh-vi-sao-chua-the-thuc-thi-ngay-337860.html.

[6]. WPATH-World professional Association for Transgender Health, Standards of Care for the Health of Transsexual, Transgender, and Gender Nonconforming People, p. 20-54.

[7]. United Nations, General Assembly (2013), Report of Special Rapporteur on torture and other cruel, inhuman or degrading treatment or punishment, Juan E.Mesndez, trang 8-18-19 tại http://www.ohchr.org/ Documents/HRBodies/HRCouncil/RegularSession/Session22/A.HRC.22.53_English.pdf.

[8]. United Nations, General Assembly (2013), Report of Special Rapporteur on torture and other cruel, inhuman or degrading treatment or punishment, Juan E.Mesndez, p.8-18-19 tại http://www.ohchr.org/Documents/ HRBodies/HRCouncil/RegularSession/Session22/A.HRC.22.53_English.pdf.

[9]. Commissioner for human rights, Council of , Human rights and gender identity, CommDH/IssuePaper (2009)2 Original version, p.6 tại https://rm.coe.int/CoERMPublicCommonSearchServices/DisplayDCTMContent? documentId=09000016806da753.

[10]. Nguyên bản tiếng Anh: “Everyone has the right to recognition everywhere as a person before the law. Persons of perse sexual orientations and gender identities shall enjoy legal capacity in all aspects of life. Each person’s selfdefined sexual orientation and gender identity is integral to their personality and is one of the most basic aspects of self-determination, dignity and freedom. No one shall be forced to undergo medical procedures, including sex reassignment surgery, sterilisation or hormonal therapy, as a requirement for legal recognition of their gender identity. No status, such as marriage or parenthood, may be invoked as such to prevent the legal recognition of a person’s gender identity. No one shall be subjected to pressure to conceal, suppress or deny their sexual orientation or gender identity”.

[11]. The Yogyakarta principles, Principles on the application of international human rights law in relation to sexual orientation and gender identity, 03/2017, p.6-7, tại http://www.ishr.ch/sites/default/files/article/files/2007_ yogjakarta_principles_sexual_orientation_human_rights_law_en.pdf.

[12]. Nguyễn Văn Đức, Chuyển đổi giới tính: Vì sao chưa thể thực thi ngay, đăng ngày 08/11/2016 tại http://vietnamnet.vn/vn/phap-luat/tu-van-phap-luat/chuyen-doi-gioi-tinh-vi-sao-chua-the-thuc-thi-ngay-337860.html.

[13]. Intersex Society of North America, What’s the difference between being transgender or transsexual and having an intersex condition?, tại http://www.isna.org/faq/transgender.

[14]. Tunghai University, Transgender Experiences in Taiwan and in the United States.

[15]. Commissioner for Human rights-Council of Europe, Human rights and gender identity, 29 Jul 2009, CommDH/IssuePaper(2009)2 Original version, p. 7-8.

[16]. Gender Recognition Act 2004, Section 1-Applications truy cập tại http://www.legislation.gov.uk/ukpga/ 2004/7/section/1.

[17]. Gender Recognition Act 2004, Explanatory Notes, Section 1-Applicants truy cập tại http://www.legislation.gov. uk/ukpga/2004/7/notes/pision/4/1.

[18]. Gender Recognition Act 2004, Section 2-Determination of applications truy cập tại http://www.legislation.gov. uk/ukpga/2004/7/section/2.

[19]. Gender Recognition Act 2004, Explanatory Notes of Section 3-Evidence truy cập tại http://www.legislation.gov. uk/ukpga/2004/7/notes/pision/4/3.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.

Theo dõi chúng tôi trên: