Thứ bảy 27/06/2026 19:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Điều kiện chuyển giới về mặt pháp lý bắc buộc hoặc không bắt buộc phẫu thuật chuyển giới và kiến nghị cho pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam chính thức công nhận chuyển đổi giới tính tại Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015, tuy nhiên, đây mới được xem là những quy định mang tính nguyên tắc chung nhất, để thực hiện được nội dung này, cần phải chờ Quốc hội thông qua một đạo luật riêng, quy định về trình tự, thủ tục, điều kiện chuyển đổi giới tính. Theo lộ trình, Dự án Luật Chuyển đổi giới tính sẽ xây dựng và trình Chính phủ vào năm 2018. Dưới góc độ nhân quyền, bài viết này đưa ra cơ sở ủng hộ việc công nhận chuyển đổi giới tính không bắt buộc phẫu thuật và kiến nghị cho Luật Chuyển đổi giới tính của Việt Nam.


Abstract: Vietnam has officially acknowledged transgender by Article 37 of the Civil Code of 2015. This, however, can be seen as a most general regulation of principle. The implementation of this regulation shall wait until the National Assembly will pass a particular law on sequence, procedures, terms for gender change. The Draft Law on Transgender is proposed to submit to the Government in 2018. This paper raises background from the human right aspect to support the acknowledgement of transsexuality by non-compulsory surgery and recommendations for the Law on Transgender of Vietnam.

1. Cơ sở lý luận của việc cho phép chuyển giới tính

Những người chuyển giới (transgender) đã tồn tại từ lâu trong xã hội và đã không nhận được sự quan tâm xứng đáng của xã hội. Khác với những nhóm còn lại trong cộng đồng LGBT (lesbian - đồng tính nữ; gay - đồng tính nam; bisexual - song tính luyến ái), người chuyển giới là từ dùng để chỉ khái niệm về nhận định giới tính chứ không phải xu hướng tình dục. Quá trình xác định giới liên quan điều trị xác nhận giới tính được gọi là phẫu thuật chuyển đổi giới tính.

Những người bị rối loạn định dạng giới tính cảm thấy mình rõ ràng không phải thuộc giới tính hiển thị trên cơ thể. Chẳng hạn như một người có dương vật và các đặc điểm khác của một người nam, nhưng thật sự lại cảm giác mình đúng ra phải là phụ nữ. Người này có mong muốn mãnh liệt trở thành phụ nữ và cũng muốn được người xung quanh công nhận mình là một phụ nữ. Bởi vì cơ hình dạng cơ thể không thể hiện đúng giới tính của mình, nên họ luôn lo lắng và muộn phiền. Ngày nay, người ta dùng thuật ngữ người chuyển giới để nói về những người cảm thấy giới tính không phù hợp với cơ thể mình[1]. Chính vì luôn lo lắng và muộn phiền, chuyển đổi giới tính được định danh một dạng bệnh tâm thần. Theo Hệ thống phân loại các bệnh tật (International Classification of Disease - ICD) của Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Orgianization - WHO) xác định chuyển đổi giới tính thuộc bệnh rối loạn tâm thần và cũng đưa ra hướng dẫn chẩn đoán những rối loạn này.

Về những cân nhắc khi cho phép chuyển giới, ngoài những xung đột về mặt tôn giáo, văn hóa, việc cho phép chuyển đổi giới tính có thể gây ra những quan ngại về việc lạm dụng, như chuyển giới để trốn tránh nghĩa vụ quân sự, gian lận trong thể thao hay lừa đảo tài sản, trốn việc bị Tòa án truy nã, để hoạt động mại dâm. Với những người đã kết hôn thì việc chuyển giới gây ra hệ lụy cho người vợ hay chồng vì hôn nhân trở nên vô hiệu và nếu có con thì con cái bị mất ba mẹ trên giấy tờ. Bản thân người chuyển giới, phải sử dụng nội tiết tố trong thời gian dài và phải trải qua rất nhiều phẫu thuật, khiến tâm sinh lý thay đổi, có thể suy yếu dễ bị nhiễm bệnh. Họ không thể có con, phải sử dụng nội tiết tố suốt đời[2]. Nghiên cứu ở Mỹ cho thấy, người chuyển giới có tỷ lệ mắt trầm cảm và tự sát cao do những thất vọng về cuộc sống sau khi chuyển giới[3,4].

Những hệ lụy và những tranh chấp pháp sinh sau việc chuyển giới sẽ tạo ra gánh nặng cho gia đình và xã hội. Sau khi trải qua hoàn loạt ca phẫu thuật và thời gian sử dụng nội tiết tố, cơ thể người chuyển giới trở nên suy yếu chưa kể nếu có tai biến xảy ra do dùng thuốc hoặc do các ca phẫu phẫu thuật, những tranh chấp có thể xảy ra giữa người chuyển giới và bác sĩ phẫu thuật, tranh chấp người chuyển giới và vợ/chồng của họ. Hệ thống an sinh xã hội chi trả cho những điều trị và tai biến sau chuyển giới… Vì vậy, khi xây dựng Luật Chuyển đổi giới tính cần phải xem xét điều kiện áp dụng phẫu thuật chuyển đổi giới (độ tuổi, tình trạng hôn nhân), điều kiện áp dụng chuyển đổi giới về mặt pháp lý (phẫu thuật hay không bắt buộc phẫu thuật), chính sách bảo hiểm y tế cho việc chuyển phẫu thuật và điều trị chuyển giới (bảo hiểm chi trả hay tự chi trả), tư vấn tâm lý và điều kiện xã hội (sự kỳ thị của xã hội, chế độ nhà vệ sinh công cộng, nhà tù… dành cho người chuyển giới) và khía cạnh tư vấn tâm lý (phòng khám tâm lý đặc biệt hỗ trợ cho người chuyển giới).

2. Điều kiện công nhận chuyển giới về mặt pháp lý

2.1. Bắt buộc hay không bắt buộc phẫu thuật chuyển đổi giới tính

Trong số các nước hiện cho phép chuyển đổi giới tính, có hai nhóm: (i) Nhóm cho phép chuyển đổi giới tính mà không cần qua phẫu thuật, như Anh, Đức, Hà Lan, Đan Mạch, Nga, Bồ Đào Nha, Canada, Israel, Hàn Quốc; (ii) Nhóm các nước bắt buộc phải qua phẫu thuật mới cho chuyển đổi giới tính, như Pháp, Úc, Cu ba, Iran…, các chi phí phẫu thuật sẽ do Nhà nước chi trả[5] Nhưng như trên đã đề cập, phẫu thuật chuyển đổi giới tính rất phức tạp và tiềm ẩn nhiều nguy cơ sức khỏe. Vì vậy, nhiều nước áp dụng Bộ Tiêu chuẩn chăm sóc dành cho người chuyển giới, xuyên giới và người chưa xác định giới tính của Hiệp hội chuyên gia quốc tế về sức khỏe người chuyển giới[6] với những quy định khắc khe về chăm sóc y tế và tâm lý cho người chuyển giới. Việc bắt buộc phẫu thuật chuyển đổi giới để được công nhận về mặt pháp lý bị vấp phải những tranh cãi gay gắt về nhân quyền.

2.2. Định dạng giới tính và vấn đề nhân quyền

Báo cáo về tra tấn và điều trị tàn ác, vô nhân đạo hay làm mất phẩm giá hay sự trừng phạt của Juan E.Méndez, Ủy ban Nhân quyền, Đại Hội đồng Liên Hiệp quốc, ngày 01/02/2013[7] đã dẫn chiếu kết luận của Tổ chức sức khỏe Mỹ PAN (The Pan American Health Organization - PAHO) rằng, điều trị đồng tính luyến ái bằng liệu pháp nội tiết tố là việc không thể chấp nhận và nên bị lên án. Báo cáo cũng phản ánh việc điều trị bằng nội tiết tố, các phẫu thuật chuẩn hóa bộ phận sinh dục dưới là ít khi cần thiết về mặt y khoa, nhưng lại gây sẹo, mất cảm giác tình dục, đau đớn và trầm cảm suốt cuộc đời chỉ trích việc này không mang tính khoa học, có khả năng gây hại và góp phần tạo ra sự kỳ thị.

Ở nhiều quốc gia, người chuyển giới bị buộc phải trải qua nhiều cuộc phẫu thuật triệt sản không cần thiết như một điều kiện tiên quyết để được thừa nhận pháp lý cho giới tính mà họ ưa thích. Những phẫu thuật cưỡng bức này không chỉ dẫn đến việc vô sinh vĩnh viễn và không thể thay đổi được đối với cơ thể, ảnh hưởng đến đời sống gia đình và sinh sản, mà còn xâm nhập nghiêm trọng và không thể đảo ngược được sự toàn vẹn về thể chất của một người. Dưới góc độ này, Tòa án các quốc gia như Thụy Điển, Đức cho rằng, bắt buộc phẫu thuật chuyển đổi giới tính như một điều kiện công nhận giới tính về mặt pháp lý là xâm phạm tính toàn vẹn cơ thể của một người[8].

Trong nỗ lực thúc đẩy các tiêu chuẩn quốc tế về khuynh hướng tình dục và nhận dạng giới tính trên phạm vi toàn thế giới[9], một nhóm chuyên gia về Luật Nhân quyền quốc tế đã công bố Nguyên tắc Yogyakarta (2007) về áp dụng Luật Nhân quyền liên quan đến định hướng tình dục và xác định giới tính. Mặc dù chưa được thừa nhận là một tiêu chuẩn quốc tế, nhưng các nguyên tắc này đã được trích dẫn bởi Liên Hiệp quốc, Tòa án quốc gia và nhiều Chính phủ đã dùng như một công cụ hướng dẫn để xây dựng chính sách trong vấn đề này. Ủy viên vấn đề nhân quyền cũng đã thừa nhận Nguyên tắc Yogykarta và xem xét chúng như một công cụ quan trọng trong việc xác định trách nhiệm quốc gia cần tôn trọng, bảo vệ và thực thi nhân quyền cho mọi người bất kể việc nhận dạng giới tính của họ.

Có liên quan đặc biệt về vấn đề đang thảo luận là nguyên tắc số 3: “Mọi người đều có quyền công nhận ở mọi nơi như là một người trước pháp luật. Những người có xu hướng tình dục và nhận dạng giới tính đa dạng sẽ có năng lực pháp lý trong mọi khía cạnh cuộc sống. Tự định xu hướng tình dục và xác nhận giới tính hướng của mỗi người là yếu tố không thể tách rời trong tính cách của họ và là một trong những khía cạnh cơ bản của tự quyết, phẩm giá và sự tự do. Không ai bị bắt buộc phải trải qua các thủ thuật y khoa, kể cả giải phẫu thuật chuyển giới tính, triệt sản hay liệu pháp nội tiết tố, như một đòi hỏi để được công nhận pháp lý về xác định giới tính của họ. Không có tình trạng nào, chẳng hạn như kết hôn hoặc làm cha mẹ, có thể viện dẫn để ngăn chặn việc công nhận pháp lý xác định giới tính của một người. Không ai phải chịu áp lực che dấu, đàn áp hay chối bỏ xu hướng tình dục và định giới tính của mình”[10,11].

3. Một vài kiến nghị cho Luật Chuyển đổi giới tính của Việt Nam

Mặc dù chưa có Luật Chuyển đổi giới tính, nhưng theo tinh thần của Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015, một số người cho rằng, Việt Nam nằm trong nhóm nước bắt buộc phải qua phẫu thuật mới cho chuyển đổi giới tính[12]. Nhận định này xuất phát từ quy định về xác định lại giới tính (Nghị định số 88/2008/NĐ-CP ngày 05/8/2008 của Chính phủ về xác định lại giới tính cho những người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác và những người này cần phẫu thuật và điều trị can thiệp). Việt Nam chưa hề có quy định về chuyển đổi giới tính ngoài Điều 37 Bộ luật Dân sự năm 2015, nên theo nhóm tác giả, không thể nói Việt Nam thuộc nhóm nước yêu cầu giải phẫu chuyển đổi giới hay không. Bởi vì những trường hợp bị khuyết tật bẩm sinh về cơ quan sinh dục khiến việc xác định giới tính không rõ ràng, cần phải phẫu thuật để chỉnh sửa khiếm khuyết thì gọi là “xác định lại giới tính”. Việc phẫu thuật của họ không được coi là chuyển đổi giới mà chỉ là sự chỉnh hình lại để giới tính trở nên rõ ràng. Trong khi đó, người chuyển đổi giới có cơ thể hoàn toàn bình thường về giải phẫu và sinh học, nhưng họ cho bản thân thuộc giới tính khác[13,14]. Vì vậy, xác định lại giới tính và chuyển đổi giới tính là hai vấn đề khác nhau.

Ở các nước cho phép chuyển đổi giới tính nhưng bắt buộc phẫu thuật quy trình xác định giới tính hầu như rất rườm rà với các thủ tục nhận dạng giới tính phức tạp gồm xét nghiệm tâm lý, tâm thần và thể chất kéo dài. Vì vậy, một số người chuyển giới có thể quyết định không tham gia vào các quy trình y khoa phân biệt giới và điều trị chuyển giới không phù hợp với họ. Một số người chuyển giới khác sau khi chấp nhận kiểm tra và điều trị, họ lại bỏ cuộc để được thừa nhận pháp lý về giới tính với tên họ ưa thích của mình hoặc điều trị chuyển giới tính phù hợp với mong muốn của mình vì nhu cầu sức khỏe và lý do kinh tế.

Vấn đề cho phép chuyển giới là một vấn đề mới mẻ và rất nhạy cảm bởi những xáo trộn có thể xảy ra cho chính bản thân người chuyển giới, gia đình và xã hội. Dưới góc độ bảo vệ những người chuyển giới, thiểu số trong xã hội, họ có những quyền được toàn vẹn thân thể và được sống với nguyện vọng định giới của mình. Việc công nhận giới tính về mặt pháp lý làm một phần để đảm bảo quyền lợi của người chuyển giới trong đời sống xã hội. Chúng tôi cho rằng, việc công nhận chuyển giới không bắt buộc phẫu thuật là một lựa chọn rất cần được xem xét và áp dụng cho Việt Nam.

Với những nước cho phép chuyển giới mà không bắt buộc phải trải qua điều trị nội tiết tố hay phẫu thuật để được công nhận giới tính về mặt pháp lý. Để được công nhận giới tính về mặt pháp lý chỉ có các bằng chứng về chứng rối loạn định dạng giới tính trước khi cơ quan có thẩm quyền (chẳng hạn Bộ Y tế, Ban Xác định lại giới tính ở Anh hay một bác sĩ hay một nhà tâm lý học lâm sàng)[15]. Phân tích quy định về chuyển giới tại Anh, một trong những nước công nhận chuyển đổi giới tính không bắt buộc phẫu thuật như phân tích bên trên. Những người đang sống theo một giới tính khác, theo Đạo luật công nhận chuyển giới năm 2004 sẽ có quyền nộp đơn yêu cầu chuyển đổi giới tính[16]. Ban xác định lại giới tính tùy theo từng trường hợp của người nộp đơn gồm thành viên của Ban bắt buộc phải có ít nhất chuyên gia pháp lý và một bác sĩ[17]. Việc xác định giới tính dựa trên việc người nộp đơn bị chứng rối loạn định dạng giới tính, đang sống trong giới mà họ mong muốn trong it nhất hai năm và có dự định tiếp tục sống với giới tính mong muốn của mình cho đến lúc chết[18]. Cần phải nộp chứng cứ y khoa rằng người này đang sống trong giới tính khác bởi cáo cáo của bác sĩ hay một chuyên gia tâm lý đang làm trong lĩnh vực rối loạn định dạng giới tính. Báo cáo này phải nêu chi tiết chẩn đoán. Báo cáo thứ hai không cần phải do bác sĩ trong lĩnh vực rối loạn định dạng giới tính, mà có thể do một bác sĩ hay chuyên gia tâm lý bất kỳ. Ít nhất một trong hai báo cáo này phải có thông tin chi tiết về các điều trị mà người nộp đơn đã trải qua, đang trải qua (đã kê đơn hay kế hoạch điều trị) nhằm điều chỉnh đặc tính giới tính[19].

Chúng tôi cho rằng, những quy định chuyển giới này có thể giúp giảm nhẹ gánh nặng mà người chuyển giới phải trải qua để được pháp luật công nhận giới và có thể tham khảo trong quá trình xây dựng Luật Chuyển đổi giới tính ở Việt Nam.

TS. Nguyễn Xuân Quang

ThS. Nguyễn Xuân Lý

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo:

[1].WebMD, When you don’t feel at home with your gender, reviewed by Soseph Goldberg, MD on Sep 09, 2016 tại http://www.webmd.com/mental-health/gender-dysphoria#1.

[2]. Đời sống pháp luật, Những tiết lộ “sốc” của bác sĩ phẫu thuật chuyển đổi giới tính, đăng ngày 28/03/2014 tại http://www.doisongphapluat.com/xa-hoi/nhung-tiet-lo-soc-cua-bac-si-phau-thuat-chuyen-doi-gioi-tinh-a27183.html.

[3]. Ann P.Haas và Philip L Rodgers, American Foundation for Suicide Prevention, Suicide Attempts among Transgender and Gender Non-Confirming Adults – Findings of the national transgender discrimination survey, 01-2014, p. 2.

[4]. WPATH-World professional Association for Transgender Health, Standards of Care for the Health of Transsexual, Transgender, and Gender Nonconforming People, p. 20-54.

[5]. Vietnamnet.vn, Nguyễn Văn Đức, Chuyển đổi giới tính: Vì sao chưa thể thực thi ngay, đăng ngày 08/11/2016 tại http://vietnamnet.vn/vn/phap-luat/tu-van-phap-luat/chuyen-doi-gioi-tinh-vi-sao-chua-the-thuc-thi-ngay-337860.html.

[6]. WPATH-World professional Association for Transgender Health, Standards of Care for the Health of Transsexual, Transgender, and Gender Nonconforming People, p. 20-54.

[7]. United Nations, General Assembly (2013), Report of Special Rapporteur on torture and other cruel, inhuman or degrading treatment or punishment, Juan E.Mesndez, trang 8-18-19 tại http://www.ohchr.org/ Documents/HRBodies/HRCouncil/RegularSession/Session22/A.HRC.22.53_English.pdf.

[8]. United Nations, General Assembly (2013), Report of Special Rapporteur on torture and other cruel, inhuman or degrading treatment or punishment, Juan E.Mesndez, p.8-18-19 tại http://www.ohchr.org/Documents/ HRBodies/HRCouncil/RegularSession/Session22/A.HRC.22.53_English.pdf.

[9]. Commissioner for human rights, Council of , Human rights and gender identity, CommDH/IssuePaper (2009)2 Original version, p.6 tại https://rm.coe.int/CoERMPublicCommonSearchServices/DisplayDCTMContent? documentId=09000016806da753.

[10]. Nguyên bản tiếng Anh: “Everyone has the right to recognition everywhere as a person before the law. Persons of perse sexual orientations and gender identities shall enjoy legal capacity in all aspects of life. Each person’s selfdefined sexual orientation and gender identity is integral to their personality and is one of the most basic aspects of self-determination, dignity and freedom. No one shall be forced to undergo medical procedures, including sex reassignment surgery, sterilisation or hormonal therapy, as a requirement for legal recognition of their gender identity. No status, such as marriage or parenthood, may be invoked as such to prevent the legal recognition of a person’s gender identity. No one shall be subjected to pressure to conceal, suppress or deny their sexual orientation or gender identity”.

[11]. The Yogyakarta principles, Principles on the application of international human rights law in relation to sexual orientation and gender identity, 03/2017, p.6-7, tại http://www.ishr.ch/sites/default/files/article/files/2007_ yogjakarta_principles_sexual_orientation_human_rights_law_en.pdf.

[12]. Nguyễn Văn Đức, Chuyển đổi giới tính: Vì sao chưa thể thực thi ngay, đăng ngày 08/11/2016 tại http://vietnamnet.vn/vn/phap-luat/tu-van-phap-luat/chuyen-doi-gioi-tinh-vi-sao-chua-the-thuc-thi-ngay-337860.html.

[13]. Intersex Society of North America, What’s the difference between being transgender or transsexual and having an intersex condition?, tại http://www.isna.org/faq/transgender.

[14]. Tunghai University, Transgender Experiences in Taiwan and in the United States.

[15]. Commissioner for Human rights-Council of Europe, Human rights and gender identity, 29 Jul 2009, CommDH/IssuePaper(2009)2 Original version, p. 7-8.

[16]. Gender Recognition Act 2004, Section 1-Applications truy cập tại http://www.legislation.gov.uk/ukpga/ 2004/7/section/1.

[17]. Gender Recognition Act 2004, Explanatory Notes, Section 1-Applicants truy cập tại http://www.legislation.gov. uk/ukpga/2004/7/notes/pision/4/1.

[18]. Gender Recognition Act 2004, Section 2-Determination of applications truy cập tại http://www.legislation.gov. uk/ukpga/2004/7/section/2.

[19]. Gender Recognition Act 2004, Explanatory Notes of Section 3-Evidence truy cập tại http://www.legislation.gov. uk/ukpga/2004/7/notes/pision/4/3.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: