Thứ sáu 22/05/2026 03:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Từ khóa: định giá tài sản; tổ chức thẩm định giá; thi hành án dân sự.

Abstract: Valuation of seized assets plays an important role, affecting the quality and effectiveness of civil judgment enforcement. Therefore, in order to contribute to improving transparency, efficiency and fairness in civil judgment enforcement activities, this article analyzes the current provisions of the Law on Civil Judgment enforcement on valuation of seized assets, points out the limitations and shortcomings that still exist in practical application, and then proposes a number of solutions to improve the law in this field.

Keywords: Asset valuation; valuation organization; civil judgment enforcement.

Đặt vấn đề

Thi hành án dân sự (THADS) là công đoạn cuối cùng trong quá trình bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định được thi hành, đồng thời, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự. Trong đó, định giá tài sản kê biên giữ vai trò then chốt khi xác định giá khởi điểm để bán đấu giá, từ đó, quyết định hiệu quả của hoạt động thi hành án.

Mặc dù, pháp luật về định giá tài sản kê biên đã nhiều lần được sửa đổi, bổ sung theo hướng đa dạng hóa chủ thể tham gia và quy định quy trình thực hiện, song thực tiễn áp dụng còn tồn tại những bất cập như: chưa quy định rõ về quyền lựa chọn tổ chức thẩm định giá của người phải thi hành án; thiếu hướng dẫn về quy trình lựa chọn tổ chức thẩm định giá; chưa thiết lập cơ chế giám sát, kiểm tra hoạt động thẩm định giá. Những hạn chế này làm phát sinh tình trạng khiếu nại, tranh chấp kéo dài, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đồng thời, cản trở tiến độ tổ chức thi hành án. Trước thực tiễn đó, việc nghiên cứu, đánh giá toàn diện các quy định hiện hành về định giá tài sản kê biên là cần thiết để đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, nhằm tăng cường tính minh bạch, công bằng và hiệu quả của hoạt động THADS, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng phát triển vững mạnh.

1. Khái quát quy định pháp luật Việt Nam về định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự

Định giá tài sản kê biên là cơ sở để tính toán giá trị tài sản của người phải thi hành án hoặc của người thứ ba, từ đó, xác định mức giá khởi điểm của tài sản đã kê biên để đưa ra bán đấu giá theo trình tự, thủ tục về bán đấu giá tài sản[1]. Quá trình định giá bắt đầu từ thời điểm kê biên và kết thúc khi có kết quả định giá. Trong một số trường hợp do pháp luật quy định, có thể tiến hành định giá lại tài sản[2]. Đây là thủ tục quan trọng trong quá trình xử lý tài sản thi hành án.

Định giá tài sản kê biên là một trong những nội dung được điều chỉnh trực tiếp bởi Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung các năm 2014, 2018, 2020, 2022, 2024 (Luật Thi hành án dân sự năm 2008). Quy định về định giá tài sản kê biên trong THADS có thể khái quát qua ba nội dung sau:

Thứ nhất, về chủ thể xác định giá tài sản kê biên: được thực hiện theo yêu cầu của đương sự và đặt nguyên tắc thỏa thuận làm ưu tiên. Vì vậy, trong trường hợp các bên đạt được sự thống nhất về giá tài sản kê biên, kết quả định giá được xác định theo thỏa thuận hợp pháp đó[3]. Ngược lại, nếu không thỏa thuận được, việc xác định giá có thể do tổ chức thẩm định giá hoặc chấp hành viên thực hiện, tùy từng trường hợp[4].

Thứ hai, về chủ thể tham gia vào quá trình xác định giá tài sản kê biên: tùy từng trường hợp, pháp luật quy định chủ thể tham gia vào quá trình xác định giá tài sản kê biên có sự khác nhau. Cụ thể:

- Khi đương sự thỏa thuận được về giá: chủ thể tham gia chỉ gồm các đương sự và chấp hành viên. Việc định giá do các bên thống nhất, còn chấp hành viên có trách nhiệm chứng kiến và lập biên bản[5].

- Khi đương sự thỏa thuận về tổ chức thẩm định giá: chủ thể tham gia gồm chấp hành viên và tổ chức thẩm định giá do các bên lựa chọn. Tổ chức thẩm định giá tiến hành định giá, chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức này[6].

- Khi các bên đương sự không đạt được thỏa thuận: chủ thể tham gia là chấp hành viên và tổ chức thẩm định giá do chấp hành viên lựa chọn. Tổ chức thẩm định giá tiến hành định giá, chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức này.

- Trường hợp đặc biệt (tài sản kê biên thuộc loại tươi sống, mau hỏng, có giá trị nhỏ mà các bên đương sự không thỏa thuận được giá): chủ thể tham gia chỉ gồm chấp hành viên, với sự tham khảo ý kiến cơ quan tài chính hoặc cơ quan chuyên môn có liên quan[7].

Có thể thấy, phạm vi và vai trò của các chủ thể tham gia vào quá trình xác định giá trị tài sản kê biên được xác định dựa trên mức độ thỏa thuận của đương sự và điều kiện thực tế của tài sản kê biên.

Thứ ba, về hình thức và giá trị của kết quả định giá tài sản kê biên: kết quả định giá tài sản kê biên được thể hiện dưới nhiều hình thức: biên bản thỏa thuận (nếu các bên thống nhất về giá), biên bản xác minh (nếu chấp hành viên trực tiếp định giá) hoặc chứng thư thẩm định giá (nếu do tổ chức thẩm định giá thực hiện). Dù dưới hình thức nào, kết quả này đều được sử dụng làm giá khởi điểm để bán đấu giá tài sản thi hành án[8]. Đối với trường hợp tổ chức thẩm định giá thực hiện, chứng thư thẩm định giá chỉ có hiệu lực trong thời hạn không quá 06 tháng kể từ ngày ban hành[9].

2. Một số hạn chế, bất cập

Thứ nhất, bất cập trong quy định về quyền lựa chọn tổ chức thẩm định giá của người phải thi hành án.

Thẩm định giá là hoạt động tư vấn xác định giá trị của tài sản thẩm định giá tại một địa điểm, thời điểm cụ thể, phục vụ cho mục đích nhất định do doanh nghiệp thẩm định giá, hội đồng thẩm định giá thực hiện theo Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam[10]. Trong THADS, thẩm định giá tài sản kê biên là việc xác định giá trị tài sản để làm cơ sở định giá khởi điểm bán đấu giá. So với các pháp lệnh trước đây, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã có bước tiến quan trọng khi ghi nhận sự tham gia của tổ chức thẩm định giá, tạo điều kiện khách quan hơn cho hoạt động này. Pháp luật cũng quy định cụ thể điều kiện để tổ chức thẩm định giá tham gia quá trình thi hành án.

Nguyên tắc thỏa thuận giữa các đương sự được ưu tiên áp dụng, kể cả trong việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá. Tuy nhiên, quy định này chỉ áp dụng đối với trường hợp THADS theo yêu cầu. Trong các trường hợp THADS chủ động, người phải thi hành án không được pháp luật ghi nhận quyền lựa chọn tổ chức thẩm định giá, dù về mặt lý luận, họ vẫn là một bên đương sự trong quá trình thi hành án.

Trên thực tế, nhu cầu được lựa chọn tổ chức thẩm định giá của người phải thi hành án là hợp lý. Họ thường ưu tiên lựa chọn những tổ chức đủ điều kiện hành nghề, có uy tín và mức phí phù hợp. Đây là biểu hiện của quyền công dân cần được Nhà nước tôn trọng và bảo vệ[11]. Tuy nhiên, việc pháp luật chưa ghi nhận quyền này làm cho người phải thi hành án có thể nghi ngờ về sự trung thực và kết quả hoạt động thẩm định giá, thậm chí phát sinh khiếu nại, tố cáo và tranh chấp.

Thứ hai, bất cập trong quy định về trình tự, thủ tục lựa chọn tổ chức thẩm định giá.

Quá trình xử lý tài sản kê biên để thi hành án gắn liền với hoạt động thẩm định giá và bán đấu giá tài sản kê biên. Đối với đấu giá, pháp luật quy định rõ trình tự, thủ tục lựa chọn tổ chức đấu giá[12]. Ngược lại, đối với thẩm định giá, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 chưa quy định cụ thể về quy trình để chấp hành viên lựa chọn tổ chức thẩm định giá.

Trước đây, để tạo sự thống nhất trong việc thực hiện trình tự, thủ tục lựa chọn tổ chức thẩm định giá và bán đấu giá, Tổng cục Thi hành án dân sự (nay là Cục Quản lý thi hành án dân sự) đã ban hành Quyết định số 1079/QĐ-TCTHADS ngày 25/12/2020 về quy trình lựa chọn tổ chức thẩm định giá, đấu giá tài sản để thi hành án (Quyết định số 1079/QĐ-TCTHADS). Quy trình này được áp dụng trong nội bộ hệ thống cơ quan THADS với nguyên tắc, trình tự, thủ tục cụ thể[13]. Việc áp dụng góp phần bảo đảm tính công khai, minh bạch, đúng thẩm quyền, công tác thẩm định giá, bán đấu giá đi vào nền nếp, hạn chế những sai sót vi phạm của chấp hành viên cũng như tổ chức thẩm định giá, bán đấu giá[14]. Tuy nhiên, Quyết định số 1079/QĐ-TCTHADS chỉ là văn bản chuyên ngành, không phải văn bản quy phạm pháp luật, thậm chí có một số quy định khác với Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và Luật Giá năm 2023. Do đó, Tổng cục Thi hành án dân sự đã tạm dừng thực hiện Quy trình này[15].

Hiện, chưa có quy định cụ thể về quy trình lựa chọn tổ chức thẩm định giá để tổ chức thực hiện, từ đó, dẫn đến sự thiếu thống nhất và trình tự, thủ tục thực hiện trên thực tế còn mang tính chủ quan của chấp hành viên, tổ chức thi hành án. Thực tiễn cho thấy, có trường hợp chấp hành viên vẫn tiếp tục vận dụng nội dung của Quyết định số 1079/QĐ-TCTHADS để thực hiện trình tự, thủ tục lựa chọn tổ chức thẩm định giá. Điển hình[16]: “Ngày 26/4/2025, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Thông báo số 1512/TB-THADS về việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản để thi hành án. Đến ngày 29/4/2025, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Thông báo số 1540/TB-THADS về kết quả lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản thi hành án dân sự”. Việc chấp hành viên tiếp tục thực hiện phương thức thông báo lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản THADS nhằm bảo đảm tính minh bạch, công khai trong hoạt động thẩm định giá, xử lý tài sản. Tuy nhiên, phương thức trên không bảo đảm căn cứ để thực hiện vì Luật Thi hành án dân sự năm 2008 không quy định nội dung này.

Thứ ba, bất cập trong quy định về hoạt động kiểm tra, giám sát đối với thẩm định giá tài sản kê biên.

Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, chấp hành viên có quyền lựa chọn tổ chức thẩm định giá, còn quá trình thẩm định giá từ khi ký hợp đồng đến khi ban hành chứng thư do tổ chức thẩm định giá thực hiện độc lập, không có sự tham gia giám sát trực tiếp của chấp hành viên. Quy định này thể hiện nguyên tắc độc lập nghề nghiệp của hoạt động thẩm định giá[17], nhưng chưa phù hợp với đặc thù của THADS.

Trong THADS, tài sản kê biên không thuộc quyền sở hữu của chấp hành viên mà là của người phải thi hành án hoặc bên thứ ba. Việc giao toàn bộ hoạt động thẩm định giá cho tổ chức thẩm định giá nhưng thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát, dẫn đến nhiều bất cập. Thực tiễn THADS tại một số địa phương cho thấy, kết quả thẩm định giá nhiều khi cao hoặc thấp hơn nhiều so với giá trị thực tế trên thị trường; thậm chí, có trường hợp chưa khảo sát tài sản trực tiếp nhưng vẫn ban hành chứng thư thẩm định giá. Điều này làm chậm quá trình bán đấu giá, phát sinh chi phí và kéo dài việc THADS[18].

Bên cạnh đó, hiện tượng thông đồng, dìm giá, thao túng nhằm trục lợi trong thẩm định giá, đấu giá tài sản thi hành án vẫn là nguy cơ tiềm ẩn lớn[19]. Nguyên nhân xảy ra tình trạng trên xuất phát từ quy định pháp luật về thi hành án còn hạn chế, có lỗ hổng như “trao quyền” cho tổ chức thẩm định giá và chấp hành viên quá lớn nhưng thiếu cơ chế hậu kiểm, giám sát cụ thể đối với quá trình thực hiện của thẩm định viên[20].

3. Đề xuất, kiến nghị

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác THADS, cần hoàn thiện quy định pháp luật về định giá tài sản kê biên như sau:

Thứ nhất, cần quy định rõ, cụ thể quyền lựa chọn tổ chức thẩm định giá của người phải thi hành án.

Hiện, việc định giá tài sản kê biên đối với THADS chủ động sẽ do chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá[21]. Trường hợp chấp hành viên không ký được hợp đồng hoặc tài sản kê biên thuộc loại tươi sống, mau hỏng hoặc có giá trị nhỏ thì chấp hành viên thực hiện xác định giá tài sản[22]. Quy định này loại trừ hoàn toàn ý chí của người phải thi hành án trong việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá.

Thực tiễn cho thấy, trong nhiều vụ việc có giá trị thi hành án lớn (đặc biệt là án tham nhũng, kinh tế), việc thiếu cơ chế này dẫn đến những bất cập. Điển hình như Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội (nay là Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội) phải kê biên 02 căn hộ để bảo đảm nghĩa vụ nộp án phí gần 01 tỷ đồng[23] trong vụ án của ông Đ.L.T, nhưng quyền lựa chọn tổ chức thẩm định giá của người phải thi hành án chưa được pháp luật thừa nhận. Nghiên cứu cho thấy, nếu pháp luật quy định quyền cho người phải thi hành án được lựa chọn tổ chức thẩm định giá trong các trường hợp thi hành án chủ động, sẽ tạo sự chủ động và có nhiều lợi ích như: (i) rút ngắn thời gian tổ chức thi hành án do chấp hành viên không cần thực hiện thủ tục lựa chọn tổ chức thẩm định giá; (ii) bảo đảm ý chí hợp pháp của người phải thi hành án, hạn chế tình trạng khiếu nại, định giá lại và các tranh chấp phát sinh từ việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá.

Tuy nhiên, việc trao quyền cho người phải thi hành án lựa chọn tổ chức thẩm định giá cần kèm theo cơ chế kiểm soát để tránh nguy cơ thông đồng, làm sai lệch kết quả thẩm định giá. Theo đó, pháp luật cần: (i) quy định rõ điều kiện pháp lý đối với tổ chức thẩm định giá được người phải thi hành án lựa chọn; (ii) tăng cường vai trò giám sát của chấp hành viên đối với quá trình thẩm định giá; (iii) bảo đảm sự minh bạch, tránh lợi dụng để trục lợi hoặc gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về quyền lựa chọn tổ chức thẩm định giá của người phải thi hành án như sau: “Trong trường hợp thi hành án dân sự chủ động, nếu ngay sau khi kê biên người phải thi hành án có lựa chọn về tổ chức thẩm định giá thì chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức đó. Trường hợp tổ chức thẩm định giá không đủ điều kiện hành nghề hoặc từ chối ký hợp đồng, chấp hành viên thực hiện định giá theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự hiện hành”.

Thứ hai, cần quy định rõ, cụ thể về trình tự, thủ tục lựa chọn tổ chức thẩm định giá.

Hiện, pháp luật giao toàn quyền cho chấp hành viên trong việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá. Quy định này tạo sự linh hoạt, nhưng có thể là “khoảng trống” pháp lý, khiến việc lựa chọn phụ thuộc vào ý chí cá nhân của chấp hành viên, thiếu cơ chế kiểm soát thực hiện. Thực tế, đã xuất hiện những vi phạm trong hoạt động thẩm định giá[24], vì thế, cần thiết lập quy trình chặt chẽ ngay từ khâu lựa chọn tổ chức thẩm định giá.

Để bảo đảm việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá được công khai, minh bạch, hiệu quả, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và pháp luật, cần quy định cụ thể về trình tự, thủ tục lựa chọn tổ chức thẩm định giá, trên cơ sở kế thừa những nội dung hợp lý của Quyết định số 1079/QĐ-TCTHADS. Các nội dung này cần được “quy phạm hóa” thông qua luật hoặc văn bản dưới luật có giá trị bắt buộc thi hành, thay vì văn bản hướng dẫn nội bộ và cần bảo đảm các tiêu chí: (i) xác định rõ trách nhiệm của chấp hành viên khi lựa chọn tổ chức thẩm định giá; (ii) đặt ra tiêu chí minh bạch để đánh giá năng lực tổ chức thẩm định giá, như: danh sách thẩm định viên, giấy phép hành nghề, số lượng chứng thư thẩm định giá đã phát hành, bảng giá dịch vụ công khai hằng năm; (ii) thiết lập cơ chế công khai, cạnh tranh để hạn chế tình trạng lựa chọn chủ quan hoặc thiên vị, thiếu khách quan.

Việc ban hành quy trình lựa chọn tổ chức thẩm định giá thống nhất sẽ góp phần nâng cao hiệu quả, tính công khai và khách quan của hoạt động thẩm định giá, đồng thời, giảm thiểu nguy cơ tiêu cực, khiếu nại và tranh chấp phát sinh trong THADS.

Thứ ba, cần quy định về hoạt động kiểm tra, giám sát trong thẩm định giá tài sản kê biên.

Công tác kiểm tra, tự kiểm tra trong hoạt động THADS không chỉ góp phần bảo đảm kỷ luật, kỷ cương trong thi hành công vụ mà còn giúp các cơ quan THADS kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, xử lý những vi phạm, thiếu sót, từ đó, nâng cao hiệu quả công tác[25]. Trong quá trình xử lý tài sản kê biên, hoạt động thẩm định giá đóng vai trò quan trọng, vì việc thẩm định giá tài sản quá cao so với giá trị thật của tài sản sẽ dẫn đến việc bán đấu giá tài sản nhiều lần nhưng không có người mua, gây lãng phí; ngược lại, nếu quá thấp sẽ dẫn đến yêu cầu định giá lại, làm kéo dài thời gian hoặc dẫn đến khiếu nại, tố cáo, vì ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

Vì vậy, cần nghiên cứu, bổ sung quy định về cơ chế kiểm tra, giám sát trong hoạt động thẩm định giá tài sản kê biên như sau:

- Bổ sung quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của chấp hành viên: “Chấp hành viên có trách nhiệm kiểm tra, giám sát hoạt động của tổ chức thẩm định giá trong quá trình thi hành án dân sự”.

- Bổ sung quy định về kiểm tra, giám sát hoạt động của tổ chức thẩm định giá trong THADS với định hướng:

“Cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên có quyền kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật về thẩm định giá của tổ chức thẩm định giá ký kết hợp đồng dịch vụ trong thi hành án dân sự. Tổ chức thẩm định giá có trách nhiệm báo cáo, chuẩn bị các tài liệu liên quan gửi về cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên khi có yêu cầu.

Trường hợp phát hiện hành vi trái pháp luật của tổ chức thẩm định giá, thẩm định viên về giá thì cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên giải quyết hành vi vi phạm trong thẩm quyền được giao hoặc kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với hành vi trái pháp luật”.

Việc bổ sung cơ chế kiểm tra, giám sát như trên sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch, độ tin cậy của kết quả thẩm định giá tài sản kê biên, hạn chế vi phạm và tạo sự đồng thuận của các bên liên quan trong THADS.

Kết luận

Định giá tài sản kê biên là khâu then chốt trong THADS, quyết định đến giá khởi điểm khi bán đấu giá và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bên. Mặc dù, pháp luật hiện hành đã có quy định, nhưng còn tồn tại một số hạn chế như: quyền lựa chọn tổ chức thẩm định giá của người phải thi hành án chưa được bảo đảm; thiếu quy trình thống nhất trong việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá; chưa có cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ đối với hoạt động này. Những bất cập này làm phát sinh khiếu nại, tố cáo, kéo dài thời gian tổ chức thi hành án và làm giảm hiệu quả công tác THADS. Trên cơ sở đó, nghiên cứu kiến nghị mở rộng quyền cho người phải thi hành án trong lựa chọn tổ chức thẩm định, quy định cụ thể về trình tự lựa chọn và bổ sung cơ chế kiểm tra, giám sát quá trình thẩm định giá. Các giải pháp này góp phần hoàn thiện pháp luật về THADS và có giá trị thực tiễn trong việc nâng cao tính minh bạch, công bằng, hiệu quả của hoạt động thi hành án, phù hợp với yêu cầu đổi mới quản lý nhà nước và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Trần Văn Toán

Thư ký Thi hành án, Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9, tỉnh Cà Mau

Ảnh: Internet

[1]. Hoàng Thị Thanh Hoa, Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Góc nhìn từ thực tiễn, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật điện tử, https://danchuphapluat.vn/dinh-gia-tai-san-ke-bien-trong-thi-hanh-an-dan-su-goc-nhin-tu-thuc-tien, truy cập ngày 19/8/2025.

[2]. Điều 99 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung các năm 2014, 2018, 2020, 2022, 2024 (Luật Thi hành án dân sự năm 2008).

[3]. Khoản 1 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

[4]. Khoản 2, khoản 3 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

[5]. Khoản 1 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

[6]. Khoản 1 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

[7]. Khoản 1 Điều 26 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 của Chính phủ, Nghị định số 152/2024/NĐ-CP ngày 15/11/2024 của Chính phủ.

[8]. Khoản 1 Điều 6 và khoản 1 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

[9]. Tiểu mục 7 Mục 2 Hệ thống tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam số 05 ban hành kèm theo Thông tư 28/2015/TT-BTC ngày 06/3/2015 của Bộ Tài chính ban hành Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam số 05, 06 và 07.

[10]. Khoản 16 Điều 4 Luật Giá năm 2023.

[11]. Điều 3 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

[12]. Điều 1 Thông tư số 19/2024/TT-BTP ngày 31/12/2024 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đấu giá tài sản số 01/2016/QH14 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 37/2024/QH15.

[13]. Điều 1 Quyết định số 1079/QĐ-TCTHADS ngày 25/12/2020 của Tổng cục Thi hành án dân sự về việc ban hành quy trình lựa chọn tổ chức thẩm định giá, đấu giá tài sản để thi hành án.

[14]. Cẩm Tú, Nâng cao công tác thẩm định giá, đấu giá tài sản thi hành án, Trang thông tin điện tử Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, https://thads.moj.gov.vn/tphochiminh/noidung/tintuc/Lists/NghienCuuTraoDoi/View_Detail.aspx?ItemID=22&utm_source=chatgpt.com, truy cập ngày 19/8/2025.

[15]. Công văn số 5101/TCTHADS-NV1 ngày 18/12/2024 của Tổng cục Thi hành án dân sự về việc thực hiện Quy trình lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản để thi hành án.

[16]. Thông báo lựa chọn tổ chức thẩm định giá, Trang thông tin điện tử Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, https://thads.moj.gov.vn/tphochiminh/noidung/thongbao/Lists/ThamDinhGia/View_detail.aspx, truy cập ngày 19/8/2025.

[17]. Khoản 2 Điều 41 Luật Giá năm 2023.

[18]. Hoàng Thị Thanh Hoa, Hành vi vi phạm pháp luật của những chủ thể có mối quan hệ phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật điện tử, https://danchuphapluat.vn/hanh-vi-vi-pham-phap-luat-cua-nhung-chu-the-co-moi-quan-he-phoi-hop-voi-co-quan-thi-hanh-an-dan-su-chap-hanh-vien, truy cập ngày 19/8/2025.

[19]. Đỗ Mến, Giải pháp đồng bộ để chống thao túng trong thẩm định giá tài sản thi hành án, Tạp chí điện tử Kinh tế Việt Nam, https://vneconomy.vn/giai-phap-dong-bo-de-chong-thao-tung-trong-tham-dinh-gia-tai-san-thi-hanh-an.htm, truy cập ngày 19/8/2025.

[20]. Thanh Hồng, Nhiều bất cập trong kê biên, định giá, đấu giá tài sản thi hành án dân sự, Báo Nhân dân điện tử, https://nhandan.vn/nhieu-bat-cap-trong-ke-bien-dinh-gia-dau-gia-tai-san-thi-hanh-an-dan-su-post775808.html, truy cập ngày 19/8/2025.

[21]. Nguyễn Công Bình và Bùi Thị Huyền (chủ biên) (2018), Giáo trình Luật Thi hành án dân sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 269.

[22]. Khoản 3 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

[23]. T. Nhung, Xác minh 2 căn hộ của ông Đinh La Thăng ở Mỹ Đình, Báo VietNamNet, https://vietnamnet.vn/xac-minh-2-can-ho-cua-ong-dinh-la-thang-o-my-dinh-471629.html?utm_ source=chatgpt.com, truy cập ngày 19/8/2025.

[24]. Bách Thuận, Tổng cục Thi hành án dân sự lo ngại có chấp hành viên cố tình vi phạm như nhận tiền hối lộ, Báo điện tử Dân Việt, https://danviet.vn/tong-cuc-thi-hanh-an-dan-su-lo-ngai-co-chap-hanh-vien-co-tinh-vi-pham-nhu-nhan-tien-hoi-lo-20241101084334966-d1192679.html, truy cập ngày 19/8/2025.

[25]. Lê Hồng, Tăng cường công tác kiểm tra, tự kiểm tra trong thi hành án dân sự, Báo điện tử Pháp luật Việt Nam, https://baophapluat.vn/tang-cuong-cong-tac-kiem-tra-tu-kiem-tra-trong-thi-hanh-an-dan-su-post454228.html, truy cập ngày 19/8/2025.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bách Thuận, Tổng cục Thi hành án dân sự lo ngại có chấp hành viên cố tình vi phạm như nhận tiền hối lộ, Báo điện tử Dân Việt, https://danviet.vn/tong-cuc-thi-hanh-an-dan-su-lo-ngai-co-chap-hanh-vien-co-tinh-vi-pham-nhu-nhan-tien-hoi-lo-20241101084334966-d1192679. html, truy cập ngày 19/8/2025.

2. Cẩm Tú, Nâng cao công tác thẩm định giá, đấu giá tài sản thi hành án, Trang thông tin Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, https://thads. moj.gov.vn/tphochiminh/noidung/tintuc/Lists/NghienCuuTraoDoi/ViewDetail.aspx?ItemID=22&utmsource=chatgpt. com, truy cập ngày 19/8/2025.

3. Đỗ Mến, Giải pháp đồng bộ để chống thao túng trong thẩm định giá tài sản thi hành án, Tạp chí điện tử Kinh tế Việt Nam, https://vneconomy.vn/giai-phap-dong-bo-de-chong-thao-tung-trong-tham-dinh-gia-tai-san-thi-hanh-an.htm, truy cập ngày 19/8/2025.

4. Hoàng Thị Thanh Hoa, Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Góc nhìn từ thực tiễn, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật điện tử, https://danchuphapluat.vn/dinh-gia-tai-san-ke-bien-trong-thi-hanh-an-dan-su-goc-nhin-tu-thuc-tien, truy cập ngày 19/8/2025.

5. Lê Hồng, Tăng cường công tác kiểm tra, tự kiểm tra trong thi hành án dân sự, Báo điện tử Pháp luật Việt Nam, https://baophapluat.vn/tang-cuong-cong-tac-kiem-tra-tu-kiem-tra-trong-thi-hanh-an-dan-su-post454228.html, truy cập ngày 19/8/2025.

6. Nguyễn Công Bình và Bùi Thị Huyền (chủ biên) (2018), Giáo trình Luật THADS Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.

7. T. Nhung, Xác minh 2 căn hộ của ông Đinh La Thăng ở Mỹ Đình, Báo VietNamNet, https://vietnamnet.vn/xac-minh-2-can-ho-cua-ong-dinh-la-thang-o-my-dinh-471629. html?utmsource=chatgpt.com, truy cập ngày 19/8/2025.

8. Thanh Hồng, Nhiều bất cập trong kê biên, định giá, đấu giá tài sản thi hành án dân sự, Báo Nhân dân điện tử, https://nhandan.vn/nhieu-bat-cap-trong-ke-bien-dinh-gia-dau-gia-tai-san-thi-hanh-an-dan-su-post775808.html, truy cập ngày 19/8/2025.

9. Thông báo lựa chọn tổ chức thẩm định giá, Trang thông tin điện tử Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, https://thads. moj.gov.vn/tphochiminh/noidung/thongbao/Lists/ThamDinhGia/View_detail.aspx, truy cập ngày 19/8/2025.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (438) tháng 10/2025)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: