Thứ ba 27/10/2026 16:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Từ khóa: định giá tài sản; tổ chức thẩm định giá; thi hành án dân sự.

Abstract: Valuation of seized assets plays an important role, affecting the quality and effectiveness of civil judgment enforcement. Therefore, in order to contribute to improving transparency, efficiency and fairness in civil judgment enforcement activities, this article analyzes the current provisions of the Law on Civil Judgment enforcement on valuation of seized assets, points out the limitations and shortcomings that still exist in practical application, and then proposes a number of solutions to improve the law in this field.

Keywords: Asset valuation; valuation organization; civil judgment enforcement.

Đặt vấn đề

Thi hành án dân sự (THADS) là công đoạn cuối cùng trong quá trình bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định được thi hành, đồng thời, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự. Trong đó, định giá tài sản kê biên giữ vai trò then chốt khi xác định giá khởi điểm để bán đấu giá, từ đó, quyết định hiệu quả của hoạt động thi hành án.

Mặc dù, pháp luật về định giá tài sản kê biên đã nhiều lần được sửa đổi, bổ sung theo hướng đa dạng hóa chủ thể tham gia và quy định quy trình thực hiện, song thực tiễn áp dụng còn tồn tại những bất cập như: chưa quy định rõ về quyền lựa chọn tổ chức thẩm định giá của người phải thi hành án; thiếu hướng dẫn về quy trình lựa chọn tổ chức thẩm định giá; chưa thiết lập cơ chế giám sát, kiểm tra hoạt động thẩm định giá. Những hạn chế này làm phát sinh tình trạng khiếu nại, tranh chấp kéo dài, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đồng thời, cản trở tiến độ tổ chức thi hành án. Trước thực tiễn đó, việc nghiên cứu, đánh giá toàn diện các quy định hiện hành về định giá tài sản kê biên là cần thiết để đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, nhằm tăng cường tính minh bạch, công bằng và hiệu quả của hoạt động THADS, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng phát triển vững mạnh.

1. Khái quát quy định pháp luật Việt Nam về định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự

Định giá tài sản kê biên là cơ sở để tính toán giá trị tài sản của người phải thi hành án hoặc của người thứ ba, từ đó, xác định mức giá khởi điểm của tài sản đã kê biên để đưa ra bán đấu giá theo trình tự, thủ tục về bán đấu giá tài sản[1]. Quá trình định giá bắt đầu từ thời điểm kê biên và kết thúc khi có kết quả định giá. Trong một số trường hợp do pháp luật quy định, có thể tiến hành định giá lại tài sản[2]. Đây là thủ tục quan trọng trong quá trình xử lý tài sản thi hành án.

Định giá tài sản kê biên là một trong những nội dung được điều chỉnh trực tiếp bởi Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung các năm 2014, 2018, 2020, 2022, 2024 (Luật Thi hành án dân sự năm 2008). Quy định về định giá tài sản kê biên trong THADS có thể khái quát qua ba nội dung sau:

Thứ nhất, về chủ thể xác định giá tài sản kê biên: được thực hiện theo yêu cầu của đương sự và đặt nguyên tắc thỏa thuận làm ưu tiên. Vì vậy, trong trường hợp các bên đạt được sự thống nhất về giá tài sản kê biên, kết quả định giá được xác định theo thỏa thuận hợp pháp đó[3]. Ngược lại, nếu không thỏa thuận được, việc xác định giá có thể do tổ chức thẩm định giá hoặc chấp hành viên thực hiện, tùy từng trường hợp[4].

Thứ hai, về chủ thể tham gia vào quá trình xác định giá tài sản kê biên: tùy từng trường hợp, pháp luật quy định chủ thể tham gia vào quá trình xác định giá tài sản kê biên có sự khác nhau. Cụ thể:

- Khi đương sự thỏa thuận được về giá: chủ thể tham gia chỉ gồm các đương sự và chấp hành viên. Việc định giá do các bên thống nhất, còn chấp hành viên có trách nhiệm chứng kiến và lập biên bản[5].

- Khi đương sự thỏa thuận về tổ chức thẩm định giá: chủ thể tham gia gồm chấp hành viên và tổ chức thẩm định giá do các bên lựa chọn. Tổ chức thẩm định giá tiến hành định giá, chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức này[6].

- Khi các bên đương sự không đạt được thỏa thuận: chủ thể tham gia là chấp hành viên và tổ chức thẩm định giá do chấp hành viên lựa chọn. Tổ chức thẩm định giá tiến hành định giá, chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức này.

- Trường hợp đặc biệt (tài sản kê biên thuộc loại tươi sống, mau hỏng, có giá trị nhỏ mà các bên đương sự không thỏa thuận được giá): chủ thể tham gia chỉ gồm chấp hành viên, với sự tham khảo ý kiến cơ quan tài chính hoặc cơ quan chuyên môn có liên quan[7].

Có thể thấy, phạm vi và vai trò của các chủ thể tham gia vào quá trình xác định giá trị tài sản kê biên được xác định dựa trên mức độ thỏa thuận của đương sự và điều kiện thực tế của tài sản kê biên.

Thứ ba, về hình thức và giá trị của kết quả định giá tài sản kê biên: kết quả định giá tài sản kê biên được thể hiện dưới nhiều hình thức: biên bản thỏa thuận (nếu các bên thống nhất về giá), biên bản xác minh (nếu chấp hành viên trực tiếp định giá) hoặc chứng thư thẩm định giá (nếu do tổ chức thẩm định giá thực hiện). Dù dưới hình thức nào, kết quả này đều được sử dụng làm giá khởi điểm để bán đấu giá tài sản thi hành án[8]. Đối với trường hợp tổ chức thẩm định giá thực hiện, chứng thư thẩm định giá chỉ có hiệu lực trong thời hạn không quá 06 tháng kể từ ngày ban hành[9].

2. Một số hạn chế, bất cập

Thứ nhất, bất cập trong quy định về quyền lựa chọn tổ chức thẩm định giá của người phải thi hành án.

Thẩm định giá là hoạt động tư vấn xác định giá trị của tài sản thẩm định giá tại một địa điểm, thời điểm cụ thể, phục vụ cho mục đích nhất định do doanh nghiệp thẩm định giá, hội đồng thẩm định giá thực hiện theo Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam[10]. Trong THADS, thẩm định giá tài sản kê biên là việc xác định giá trị tài sản để làm cơ sở định giá khởi điểm bán đấu giá. So với các pháp lệnh trước đây, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã có bước tiến quan trọng khi ghi nhận sự tham gia của tổ chức thẩm định giá, tạo điều kiện khách quan hơn cho hoạt động này. Pháp luật cũng quy định cụ thể điều kiện để tổ chức thẩm định giá tham gia quá trình thi hành án.

Nguyên tắc thỏa thuận giữa các đương sự được ưu tiên áp dụng, kể cả trong việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá. Tuy nhiên, quy định này chỉ áp dụng đối với trường hợp THADS theo yêu cầu. Trong các trường hợp THADS chủ động, người phải thi hành án không được pháp luật ghi nhận quyền lựa chọn tổ chức thẩm định giá, dù về mặt lý luận, họ vẫn là một bên đương sự trong quá trình thi hành án.

Trên thực tế, nhu cầu được lựa chọn tổ chức thẩm định giá của người phải thi hành án là hợp lý. Họ thường ưu tiên lựa chọn những tổ chức đủ điều kiện hành nghề, có uy tín và mức phí phù hợp. Đây là biểu hiện của quyền công dân cần được Nhà nước tôn trọng và bảo vệ[11]. Tuy nhiên, việc pháp luật chưa ghi nhận quyền này làm cho người phải thi hành án có thể nghi ngờ về sự trung thực và kết quả hoạt động thẩm định giá, thậm chí phát sinh khiếu nại, tố cáo và tranh chấp.

Thứ hai, bất cập trong quy định về trình tự, thủ tục lựa chọn tổ chức thẩm định giá.

Quá trình xử lý tài sản kê biên để thi hành án gắn liền với hoạt động thẩm định giá và bán đấu giá tài sản kê biên. Đối với đấu giá, pháp luật quy định rõ trình tự, thủ tục lựa chọn tổ chức đấu giá[12]. Ngược lại, đối với thẩm định giá, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 chưa quy định cụ thể về quy trình để chấp hành viên lựa chọn tổ chức thẩm định giá.

Trước đây, để tạo sự thống nhất trong việc thực hiện trình tự, thủ tục lựa chọn tổ chức thẩm định giá và bán đấu giá, Tổng cục Thi hành án dân sự (nay là Cục Quản lý thi hành án dân sự) đã ban hành Quyết định số 1079/QĐ-TCTHADS ngày 25/12/2020 về quy trình lựa chọn tổ chức thẩm định giá, đấu giá tài sản để thi hành án (Quyết định số 1079/QĐ-TCTHADS). Quy trình này được áp dụng trong nội bộ hệ thống cơ quan THADS với nguyên tắc, trình tự, thủ tục cụ thể[13]. Việc áp dụng góp phần bảo đảm tính công khai, minh bạch, đúng thẩm quyền, công tác thẩm định giá, bán đấu giá đi vào nền nếp, hạn chế những sai sót vi phạm của chấp hành viên cũng như tổ chức thẩm định giá, bán đấu giá[14]. Tuy nhiên, Quyết định số 1079/QĐ-TCTHADS chỉ là văn bản chuyên ngành, không phải văn bản quy phạm pháp luật, thậm chí có một số quy định khác với Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và Luật Giá năm 2023. Do đó, Tổng cục Thi hành án dân sự đã tạm dừng thực hiện Quy trình này[15].

Hiện, chưa có quy định cụ thể về quy trình lựa chọn tổ chức thẩm định giá để tổ chức thực hiện, từ đó, dẫn đến sự thiếu thống nhất và trình tự, thủ tục thực hiện trên thực tế còn mang tính chủ quan của chấp hành viên, tổ chức thi hành án. Thực tiễn cho thấy, có trường hợp chấp hành viên vẫn tiếp tục vận dụng nội dung của Quyết định số 1079/QĐ-TCTHADS để thực hiện trình tự, thủ tục lựa chọn tổ chức thẩm định giá. Điển hình[16]: “Ngày 26/4/2025, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Thông báo số 1512/TB-THADS về việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản để thi hành án. Đến ngày 29/4/2025, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Thông báo số 1540/TB-THADS về kết quả lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản thi hành án dân sự”. Việc chấp hành viên tiếp tục thực hiện phương thức thông báo lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản THADS nhằm bảo đảm tính minh bạch, công khai trong hoạt động thẩm định giá, xử lý tài sản. Tuy nhiên, phương thức trên không bảo đảm căn cứ để thực hiện vì Luật Thi hành án dân sự năm 2008 không quy định nội dung này.

Thứ ba, bất cập trong quy định về hoạt động kiểm tra, giám sát đối với thẩm định giá tài sản kê biên.

Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, chấp hành viên có quyền lựa chọn tổ chức thẩm định giá, còn quá trình thẩm định giá từ khi ký hợp đồng đến khi ban hành chứng thư do tổ chức thẩm định giá thực hiện độc lập, không có sự tham gia giám sát trực tiếp của chấp hành viên. Quy định này thể hiện nguyên tắc độc lập nghề nghiệp của hoạt động thẩm định giá[17], nhưng chưa phù hợp với đặc thù của THADS.

Trong THADS, tài sản kê biên không thuộc quyền sở hữu của chấp hành viên mà là của người phải thi hành án hoặc bên thứ ba. Việc giao toàn bộ hoạt động thẩm định giá cho tổ chức thẩm định giá nhưng thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát, dẫn đến nhiều bất cập. Thực tiễn THADS tại một số địa phương cho thấy, kết quả thẩm định giá nhiều khi cao hoặc thấp hơn nhiều so với giá trị thực tế trên thị trường; thậm chí, có trường hợp chưa khảo sát tài sản trực tiếp nhưng vẫn ban hành chứng thư thẩm định giá. Điều này làm chậm quá trình bán đấu giá, phát sinh chi phí và kéo dài việc THADS[18].

Bên cạnh đó, hiện tượng thông đồng, dìm giá, thao túng nhằm trục lợi trong thẩm định giá, đấu giá tài sản thi hành án vẫn là nguy cơ tiềm ẩn lớn[19]. Nguyên nhân xảy ra tình trạng trên xuất phát từ quy định pháp luật về thi hành án còn hạn chế, có lỗ hổng như “trao quyền” cho tổ chức thẩm định giá và chấp hành viên quá lớn nhưng thiếu cơ chế hậu kiểm, giám sát cụ thể đối với quá trình thực hiện của thẩm định viên[20].

3. Đề xuất, kiến nghị

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác THADS, cần hoàn thiện quy định pháp luật về định giá tài sản kê biên như sau:

Thứ nhất, cần quy định rõ, cụ thể quyền lựa chọn tổ chức thẩm định giá của người phải thi hành án.

Hiện, việc định giá tài sản kê biên đối với THADS chủ động sẽ do chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá[21]. Trường hợp chấp hành viên không ký được hợp đồng hoặc tài sản kê biên thuộc loại tươi sống, mau hỏng hoặc có giá trị nhỏ thì chấp hành viên thực hiện xác định giá tài sản[22]. Quy định này loại trừ hoàn toàn ý chí của người phải thi hành án trong việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá.

Thực tiễn cho thấy, trong nhiều vụ việc có giá trị thi hành án lớn (đặc biệt là án tham nhũng, kinh tế), việc thiếu cơ chế này dẫn đến những bất cập. Điển hình như Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội (nay là Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội) phải kê biên 02 căn hộ để bảo đảm nghĩa vụ nộp án phí gần 01 tỷ đồng[23] trong vụ án của ông Đ.L.T, nhưng quyền lựa chọn tổ chức thẩm định giá của người phải thi hành án chưa được pháp luật thừa nhận. Nghiên cứu cho thấy, nếu pháp luật quy định quyền cho người phải thi hành án được lựa chọn tổ chức thẩm định giá trong các trường hợp thi hành án chủ động, sẽ tạo sự chủ động và có nhiều lợi ích như: (i) rút ngắn thời gian tổ chức thi hành án do chấp hành viên không cần thực hiện thủ tục lựa chọn tổ chức thẩm định giá; (ii) bảo đảm ý chí hợp pháp của người phải thi hành án, hạn chế tình trạng khiếu nại, định giá lại và các tranh chấp phát sinh từ việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá.

Tuy nhiên, việc trao quyền cho người phải thi hành án lựa chọn tổ chức thẩm định giá cần kèm theo cơ chế kiểm soát để tránh nguy cơ thông đồng, làm sai lệch kết quả thẩm định giá. Theo đó, pháp luật cần: (i) quy định rõ điều kiện pháp lý đối với tổ chức thẩm định giá được người phải thi hành án lựa chọn; (ii) tăng cường vai trò giám sát của chấp hành viên đối với quá trình thẩm định giá; (iii) bảo đảm sự minh bạch, tránh lợi dụng để trục lợi hoặc gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về quyền lựa chọn tổ chức thẩm định giá của người phải thi hành án như sau: “Trong trường hợp thi hành án dân sự chủ động, nếu ngay sau khi kê biên người phải thi hành án có lựa chọn về tổ chức thẩm định giá thì chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức đó. Trường hợp tổ chức thẩm định giá không đủ điều kiện hành nghề hoặc từ chối ký hợp đồng, chấp hành viên thực hiện định giá theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự hiện hành”.

Thứ hai, cần quy định rõ, cụ thể về trình tự, thủ tục lựa chọn tổ chức thẩm định giá.

Hiện, pháp luật giao toàn quyền cho chấp hành viên trong việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá. Quy định này tạo sự linh hoạt, nhưng có thể là “khoảng trống” pháp lý, khiến việc lựa chọn phụ thuộc vào ý chí cá nhân của chấp hành viên, thiếu cơ chế kiểm soát thực hiện. Thực tế, đã xuất hiện những vi phạm trong hoạt động thẩm định giá[24], vì thế, cần thiết lập quy trình chặt chẽ ngay từ khâu lựa chọn tổ chức thẩm định giá.

Để bảo đảm việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá được công khai, minh bạch, hiệu quả, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và pháp luật, cần quy định cụ thể về trình tự, thủ tục lựa chọn tổ chức thẩm định giá, trên cơ sở kế thừa những nội dung hợp lý của Quyết định số 1079/QĐ-TCTHADS. Các nội dung này cần được “quy phạm hóa” thông qua luật hoặc văn bản dưới luật có giá trị bắt buộc thi hành, thay vì văn bản hướng dẫn nội bộ và cần bảo đảm các tiêu chí: (i) xác định rõ trách nhiệm của chấp hành viên khi lựa chọn tổ chức thẩm định giá; (ii) đặt ra tiêu chí minh bạch để đánh giá năng lực tổ chức thẩm định giá, như: danh sách thẩm định viên, giấy phép hành nghề, số lượng chứng thư thẩm định giá đã phát hành, bảng giá dịch vụ công khai hằng năm; (ii) thiết lập cơ chế công khai, cạnh tranh để hạn chế tình trạng lựa chọn chủ quan hoặc thiên vị, thiếu khách quan.

Việc ban hành quy trình lựa chọn tổ chức thẩm định giá thống nhất sẽ góp phần nâng cao hiệu quả, tính công khai và khách quan của hoạt động thẩm định giá, đồng thời, giảm thiểu nguy cơ tiêu cực, khiếu nại và tranh chấp phát sinh trong THADS.

Thứ ba, cần quy định về hoạt động kiểm tra, giám sát trong thẩm định giá tài sản kê biên.

Công tác kiểm tra, tự kiểm tra trong hoạt động THADS không chỉ góp phần bảo đảm kỷ luật, kỷ cương trong thi hành công vụ mà còn giúp các cơ quan THADS kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, xử lý những vi phạm, thiếu sót, từ đó, nâng cao hiệu quả công tác[25]. Trong quá trình xử lý tài sản kê biên, hoạt động thẩm định giá đóng vai trò quan trọng, vì việc thẩm định giá tài sản quá cao so với giá trị thật của tài sản sẽ dẫn đến việc bán đấu giá tài sản nhiều lần nhưng không có người mua, gây lãng phí; ngược lại, nếu quá thấp sẽ dẫn đến yêu cầu định giá lại, làm kéo dài thời gian hoặc dẫn đến khiếu nại, tố cáo, vì ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

Vì vậy, cần nghiên cứu, bổ sung quy định về cơ chế kiểm tra, giám sát trong hoạt động thẩm định giá tài sản kê biên như sau:

- Bổ sung quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của chấp hành viên: “Chấp hành viên có trách nhiệm kiểm tra, giám sát hoạt động của tổ chức thẩm định giá trong quá trình thi hành án dân sự”.

- Bổ sung quy định về kiểm tra, giám sát hoạt động của tổ chức thẩm định giá trong THADS với định hướng:

“Cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên có quyền kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật về thẩm định giá của tổ chức thẩm định giá ký kết hợp đồng dịch vụ trong thi hành án dân sự. Tổ chức thẩm định giá có trách nhiệm báo cáo, chuẩn bị các tài liệu liên quan gửi về cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên khi có yêu cầu.

Trường hợp phát hiện hành vi trái pháp luật của tổ chức thẩm định giá, thẩm định viên về giá thì cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên giải quyết hành vi vi phạm trong thẩm quyền được giao hoặc kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với hành vi trái pháp luật”.

Việc bổ sung cơ chế kiểm tra, giám sát như trên sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch, độ tin cậy của kết quả thẩm định giá tài sản kê biên, hạn chế vi phạm và tạo sự đồng thuận của các bên liên quan trong THADS.

Kết luận

Định giá tài sản kê biên là khâu then chốt trong THADS, quyết định đến giá khởi điểm khi bán đấu giá và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bên. Mặc dù, pháp luật hiện hành đã có quy định, nhưng còn tồn tại một số hạn chế như: quyền lựa chọn tổ chức thẩm định giá của người phải thi hành án chưa được bảo đảm; thiếu quy trình thống nhất trong việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá; chưa có cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ đối với hoạt động này. Những bất cập này làm phát sinh khiếu nại, tố cáo, kéo dài thời gian tổ chức thi hành án và làm giảm hiệu quả công tác THADS. Trên cơ sở đó, nghiên cứu kiến nghị mở rộng quyền cho người phải thi hành án trong lựa chọn tổ chức thẩm định, quy định cụ thể về trình tự lựa chọn và bổ sung cơ chế kiểm tra, giám sát quá trình thẩm định giá. Các giải pháp này góp phần hoàn thiện pháp luật về THADS và có giá trị thực tiễn trong việc nâng cao tính minh bạch, công bằng, hiệu quả của hoạt động thi hành án, phù hợp với yêu cầu đổi mới quản lý nhà nước và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Trần Văn Toán

Thư ký Thi hành án, Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9, tỉnh Cà Mau

Ảnh: Internet

[1]. Hoàng Thị Thanh Hoa, Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Góc nhìn từ thực tiễn, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật điện tử, https://danchuphapluat.vn/dinh-gia-tai-san-ke-bien-trong-thi-hanh-an-dan-su-goc-nhin-tu-thuc-tien, truy cập ngày 19/8/2025.

[2]. Điều 99 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung các năm 2014, 2018, 2020, 2022, 2024 (Luật Thi hành án dân sự năm 2008).

[3]. Khoản 1 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

[4]. Khoản 2, khoản 3 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

[5]. Khoản 1 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

[6]. Khoản 1 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

[7]. Khoản 1 Điều 26 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 của Chính phủ, Nghị định số 152/2024/NĐ-CP ngày 15/11/2024 của Chính phủ.

[8]. Khoản 1 Điều 6 và khoản 1 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

[9]. Tiểu mục 7 Mục 2 Hệ thống tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam số 05 ban hành kèm theo Thông tư 28/2015/TT-BTC ngày 06/3/2015 của Bộ Tài chính ban hành Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam số 05, 06 và 07.

[10]. Khoản 16 Điều 4 Luật Giá năm 2023.

[11]. Điều 3 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

[12]. Điều 1 Thông tư số 19/2024/TT-BTP ngày 31/12/2024 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đấu giá tài sản số 01/2016/QH14 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 37/2024/QH15.

[13]. Điều 1 Quyết định số 1079/QĐ-TCTHADS ngày 25/12/2020 của Tổng cục Thi hành án dân sự về việc ban hành quy trình lựa chọn tổ chức thẩm định giá, đấu giá tài sản để thi hành án.

[14]. Cẩm Tú, Nâng cao công tác thẩm định giá, đấu giá tài sản thi hành án, Trang thông tin điện tử Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, https://thads.moj.gov.vn/tphochiminh/noidung/tintuc/Lists/NghienCuuTraoDoi/View_Detail.aspx?ItemID=22&utm_source=chatgpt.com, truy cập ngày 19/8/2025.

[15]. Công văn số 5101/TCTHADS-NV1 ngày 18/12/2024 của Tổng cục Thi hành án dân sự về việc thực hiện Quy trình lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản để thi hành án.

[16]. Thông báo lựa chọn tổ chức thẩm định giá, Trang thông tin điện tử Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, https://thads.moj.gov.vn/tphochiminh/noidung/thongbao/Lists/ThamDinhGia/View_detail.aspx, truy cập ngày 19/8/2025.

[17]. Khoản 2 Điều 41 Luật Giá năm 2023.

[18]. Hoàng Thị Thanh Hoa, Hành vi vi phạm pháp luật của những chủ thể có mối quan hệ phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật điện tử, https://danchuphapluat.vn/hanh-vi-vi-pham-phap-luat-cua-nhung-chu-the-co-moi-quan-he-phoi-hop-voi-co-quan-thi-hanh-an-dan-su-chap-hanh-vien, truy cập ngày 19/8/2025.

[19]. Đỗ Mến, Giải pháp đồng bộ để chống thao túng trong thẩm định giá tài sản thi hành án, Tạp chí điện tử Kinh tế Việt Nam, https://vneconomy.vn/giai-phap-dong-bo-de-chong-thao-tung-trong-tham-dinh-gia-tai-san-thi-hanh-an.htm, truy cập ngày 19/8/2025.

[20]. Thanh Hồng, Nhiều bất cập trong kê biên, định giá, đấu giá tài sản thi hành án dân sự, Báo Nhân dân điện tử, https://nhandan.vn/nhieu-bat-cap-trong-ke-bien-dinh-gia-dau-gia-tai-san-thi-hanh-an-dan-su-post775808.html, truy cập ngày 19/8/2025.

[21]. Nguyễn Công Bình và Bùi Thị Huyền (chủ biên) (2018), Giáo trình Luật Thi hành án dân sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 269.

[22]. Khoản 3 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

[23]. T. Nhung, Xác minh 2 căn hộ của ông Đinh La Thăng ở Mỹ Đình, Báo VietNamNet, https://vietnamnet.vn/xac-minh-2-can-ho-cua-ong-dinh-la-thang-o-my-dinh-471629.html?utm_ source=chatgpt.com, truy cập ngày 19/8/2025.

[24]. Bách Thuận, Tổng cục Thi hành án dân sự lo ngại có chấp hành viên cố tình vi phạm như nhận tiền hối lộ, Báo điện tử Dân Việt, https://danviet.vn/tong-cuc-thi-hanh-an-dan-su-lo-ngai-co-chap-hanh-vien-co-tinh-vi-pham-nhu-nhan-tien-hoi-lo-20241101084334966-d1192679.html, truy cập ngày 19/8/2025.

[25]. Lê Hồng, Tăng cường công tác kiểm tra, tự kiểm tra trong thi hành án dân sự, Báo điện tử Pháp luật Việt Nam, https://baophapluat.vn/tang-cuong-cong-tac-kiem-tra-tu-kiem-tra-trong-thi-hanh-an-dan-su-post454228.html, truy cập ngày 19/8/2025.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bách Thuận, Tổng cục Thi hành án dân sự lo ngại có chấp hành viên cố tình vi phạm như nhận tiền hối lộ, Báo điện tử Dân Việt, https://danviet.vn/tong-cuc-thi-hanh-an-dan-su-lo-ngai-co-chap-hanh-vien-co-tinh-vi-pham-nhu-nhan-tien-hoi-lo-20241101084334966-d1192679. html, truy cập ngày 19/8/2025.

2. Cẩm Tú, Nâng cao công tác thẩm định giá, đấu giá tài sản thi hành án, Trang thông tin Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, https://thads. moj.gov.vn/tphochiminh/noidung/tintuc/Lists/NghienCuuTraoDoi/ViewDetail.aspx?ItemID=22&utmsource=chatgpt. com, truy cập ngày 19/8/2025.

3. Đỗ Mến, Giải pháp đồng bộ để chống thao túng trong thẩm định giá tài sản thi hành án, Tạp chí điện tử Kinh tế Việt Nam, https://vneconomy.vn/giai-phap-dong-bo-de-chong-thao-tung-trong-tham-dinh-gia-tai-san-thi-hanh-an.htm, truy cập ngày 19/8/2025.

4. Hoàng Thị Thanh Hoa, Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Góc nhìn từ thực tiễn, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật điện tử, https://danchuphapluat.vn/dinh-gia-tai-san-ke-bien-trong-thi-hanh-an-dan-su-goc-nhin-tu-thuc-tien, truy cập ngày 19/8/2025.

5. Lê Hồng, Tăng cường công tác kiểm tra, tự kiểm tra trong thi hành án dân sự, Báo điện tử Pháp luật Việt Nam, https://baophapluat.vn/tang-cuong-cong-tac-kiem-tra-tu-kiem-tra-trong-thi-hanh-an-dan-su-post454228.html, truy cập ngày 19/8/2025.

6. Nguyễn Công Bình và Bùi Thị Huyền (chủ biên) (2018), Giáo trình Luật THADS Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.

7. T. Nhung, Xác minh 2 căn hộ của ông Đinh La Thăng ở Mỹ Đình, Báo VietNamNet, https://vietnamnet.vn/xac-minh-2-can-ho-cua-ong-dinh-la-thang-o-my-dinh-471629. html?utmsource=chatgpt.com, truy cập ngày 19/8/2025.

8. Thanh Hồng, Nhiều bất cập trong kê biên, định giá, đấu giá tài sản thi hành án dân sự, Báo Nhân dân điện tử, https://nhandan.vn/nhieu-bat-cap-trong-ke-bien-dinh-gia-dau-gia-tai-san-thi-hanh-an-dan-su-post775808.html, truy cập ngày 19/8/2025.

9. Thông báo lựa chọn tổ chức thẩm định giá, Trang thông tin điện tử Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, https://thads. moj.gov.vn/tphochiminh/noidung/thongbao/Lists/ThamDinhGia/View_detail.aspx, truy cập ngày 19/8/2025.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (438) tháng 10/2025)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Tóm tắt: Tình trạng người trúng đấu giá quyền sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính và hành vi thao túng đấu giá gây thất thu ngân sách, làm sai lệch giá đất, ảnh hưởng đến tính minh bạch của thị trường bất động sản. Nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về xử lý các hành vi này trên cơ sở phân tích quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng. Bằng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh quy phạm pháp luật và nghiên cứu tình huống, kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật còn những bất cập về xử lý tiền đặt trước, hủy kết quả trúng đấu giá, xác định thời hạn cấm tham gia đấu giá, kiểm soát hành vi né tránh chế tài thông qua pháp nhân trung gian và giải quyết hậu quả sau khi hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện quy định về căn cứ, điều kiện và hậu quả pháp lý của các biện pháp xử lý; tăng cường kiểm soát lịch sử vi phạm, bảo đảm tính minh bạch và cạnh tranh trong đấu giá quyền sử dụng đất.
Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Tóm tắt: Đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động đo lường mức độ đạt được mục tiêu chính sách và tác động thực tế của quy định pháp luật sau khi tổ chức thi hành. Nghiên cứu khái quát các tiêu chí đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật, phân tích những quy định tương ứng trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật1 (dự thảo Luật). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật bước đầu xác lập cơ sở pháp lý cho hoạt động này, nhưng một số quy định còn hạn chế, bất cập. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí, phương thức đánh giá, xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các chủ thể và cơ chế sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai, việc xử lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường đặt ra yêu cầu hoàn thiện điều kiện công nhận quyền sử dụng đất và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế. Nghiên cứu phân tích các quy phạm pháp luật hiện hành, đối chiếu với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)1 (dự thảo Luật). Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc công nhận quyền sử dụng đất còn phụ thuộc đáng kể vào công tác rà soát, lập phương án sử dụng đất và xử lý quỹ đất có nguồn gốc nông, lâm nghiệp. Những vướng mắc tập trung ở tiến độ thực hiện, điều kiện công nhận, mối quan hệ với các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận và cơ chế xử lý khi công ty không thực hiện trách nhiệm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định của dự thảo Luật về điều kiện công nhận quyền, sự tham gia của người đang sử dụng đất và cơ chế tiếp tục xử lý quỹ đất, nhằm bảo đảm khả năng thực hiện quyền của người đang sử dụng đất.
Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Xử lý vật chứng là hoạt động xác định địa vị pháp lý của vật chứng, đồng thời, tác động trực tiếp đến giá trị chứng minh và quyền tài sản. Nghiên cứu phân tích Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) trong mối liên hệ với Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) và pháp luật dân sự, tập trung làm rõ căn cứ tịch thu, thẩm quyền, hình thức và thủ tục xử lý; tiêu chí xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu; cơ chế xử lý tài sản chung, tài sản thế chấp; phạm vi, trình tự giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành và việc bảo đảm quyền của người thứ ba. Trên cơ sở nhận diện các bất cập, nghiên cứu đề xuất sửa đổi Điều 85, Điều 106 BLTTHS năm 2015, hoàn thiện thủ tục đối với tài sản bảo đảm và ban hành hướng dẫn liên ngành nhằm thống nhất hoạt động giao, tiếp nhận, bảo quản và xử lý vật chứng.
Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.

Theo dõi chúng tôi trên: