Chủ nhật 08/02/2026 05:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Định hướng phát triển nghề thừa phát lại ở việt nam và những vấn đề pháp lý mới cần hoàn thiện

Từng bước thực hiện việc xã hội hóa và quy định những hình thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án được xem là một trong những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vướng mắc, bất cập trong thực tiễn tổ chức thi hành án cũng như những vấn đề pháp lý mới phát sinh liên quan đến chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Thừa phát lại. Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Thừa phát lại là một trong những yêu cầu cấp bách hiện nay.

Thời gian qua, Thừa phát lại đã có những đóng góp tích cực đối với hoạt động của Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự, khẳng định được vai trò của mình trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Từ kết quả đạt được cho thấy, việc lập vi bằng được đánh giá là lĩnh vực hoạt động hiệu quả nhất của Văn phòng Thừa phát lại, đáp ứng được nhu cầu lớn, phong phú, đa dạng trên nhiều lĩnh vực khác nhau của người dân và đã dần trở thành một nhu cầu trong các hoạt động dân sự, sản xuất, kinh doanh, thương mại[1]. Tuy nhiên, việc xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp tổ chức thi hành án của Thừa phát lại còn gặp rất nhiều khó khăn như: Khó tiếp cận nguồn thông tin để xác minh điều kiện thi hành án; thiếu sự hợp tác của các cơ quan, tổ chức trong việc cung cấp thông tin tài sản thi hành án của người phải thi hành án; phát sinh những vi phạm quy trình, thủ tục thi hành án của Thừa phát lại (chẳng hạn như thực hiện xác minh điều kiện thi hành án chưa chính xác; vi phạm hợp đồng xác minh điều kiện thi hành án hoặc những sai sót trong quá trình áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án); Thừa phát lại không có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn, dẫn đến nhiều trường hợp đương sự tẩu tán tài sản ngay sau khi xác minh, gây khó khăn cho hoạt động thi hành án)… Bên cạnh quan điểm ủng hộ giữ nguyên và làm rõ hơn phạm vi hoạt động của Thừa phát lại như hiện nay thì cũng có quan điểm cho rằng, cần xem xét về việc không quy định cưỡng chế của Thừa phát lại trong việc thi hành án, vì cưỡng chế mang tính chất quyền lực nhà nước, không thể giao cho một doanh nghiệp hoạt động dịch vụ thay mặt Nhà nước thực hiện quyền này[2].

Hiện nay, các cơ quan chức năng đang khẩn trương nghiên cứu, hoàn thiện các văn bản pháp luật để tạo hành lang pháp lý cho hoạt động của Thừa phát lại trên phạm vi cả nước. Có thể nói, quy trình, thủ tục thi hành án dân sự là thủ tục pháp lý đặc biệt, liên quan đến việc sử dụng sức mạnh quyền lực của Nhà nước để tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án, qua đó bảo vệ quyền con người, quyền công dân, do vậy, việc tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật về lĩnh vực này là hết sức cần thiết. Những vấn đề phát sinh liên quan đến tổ chức, hoạt động của Thừa phát lại cần phải được đầu tư nghiên cứu sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn, đặc biệt là những kinh nghiệm quốc tế có liên quan. Cụ thể:

Thứ nhất, thực tiễn 06 năm (2010 - 2015) thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại đã chỉ ra không ít khó khăn, bất cập phát sinh liên quan đến việc xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp tổ chức thi hành án của Thừa phát lại. Do đó, cần phải nghiên cứu sâu hơn về thuận lợi và bất cập sẽ phát sinh nếu tiếp tục giao cho Thừa phát lại thực hiện gần như tất cả công việc thi hành án như hiện nay, đặc biệt là trong mối so sánh ưu điểm, hạn chế giữa Thừa phát lại với chấp hành viên.

Thứ hai, hệ thống cơ quan thi hành án dân sự được thiết lập theo nguyên tắc tập trung, thống nhất, được hình thành từ Trung ương xuống địa phương và chịu sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ bằng quyền lực nhà nước thông qua các cơ quan chức năng, cùng với đội ngũ chấp hành viên, thẩm tra viên, thư ký thi hành án được bồi dưỡng, đào tạo kỹ về chuyên môn, nghiệp vụ thi hành án, tuy nhiên, công tác thi hành án dân sự do chấp hành viên thực hiện vẫn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là các thủ tục sử dụng quyền lực nhà nước để cưỡng chế thi hành án. Do đó, rất khó để có cơ sở thuyết phục rằng những khó khăn này khi giao cho Văn phòng Thừa phát lại là tổ chức tư nhân thực hiện sẽ có hiệu quả cao hơn, chưa kể đến lĩnh vực thi hành án dân sự là lĩnh vực có liên quan đến rất nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành và yêu cầu bảo đảm sự thống nhất trong hệ thống pháp luật cũng là vấn đề cần phải được nghiên cứu triệt để. Những vi phạm của chấp hành viên gây thiệt hại cho các bên đương sự thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, chịu sự điều chỉnh của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, nhưng Thừa phát lại không phải là công chức nên nếu vi phạm gây thiệt hại, để lại hậu quả cho các bên đương sự hoặc một trong các bên đương sự hoặc cho bên thứ ba thì cơ chế xử lý sẽ như thế nào, chế tài nào sẽ được áp dụng, với mức bồi thường, xử phạt ra sao để vừa bảo đảm phát triển quyền hành nghề hợp pháp cho Thừa phát lại, vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên vẫn đang là những thách thức lớn đặt ra.

Thứ ba, Thừa phát lại thực hiện cung cấp dịch vụ thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật doanh nghiệp, pháp luật thi hành án dân sự, các lĩnh vực pháp luật khác có liên quan và quyền tự do kinh doanh của Văn phòng Thừa phát lại cũng phải được tôn trọng và bảo đảm. Tuy nhiên, yêu cầu đồng thời vừa bảo đảm tính độc lập của hoạt động thi hành án, vừa tôn trọng quyền tự do kinh doanh và bảo đảm quyền kiểm tra, giám sát bằng quyền lực nhà nước là điều rất khó khăn. Ví dụ, về nguyên tắc và thông lệ trong kinh doanh, các Văn phòng Thừa phát lại luôn có xu hướng nhận giải quyết và ưu tiên những khách hàng với bản án, quyết định phải thi hành có giá trị kinh tế lớn, mức phí thi hành án và các khoản chi phí thu được cao, còn ngược lại, đối với khách hàng mà bản án, quyết định phải thi hành có giá trị kinh tế nhỏ, mức phí thi hành án thấp sẽ rất khó hấp dẫn đối với Văn phòng Thừa phát lại vì văn phòng này hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính[3]. Pháp luật sẽ có quy định và chế tài như thế nào để bảo đảm sự tuân thủ chặt chẽ Hiến pháp, pháp luật trong những trường hợp này? Vì theo chủ trương của Đảng và yêu cầu của Hiến pháp thì mọi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật đều phải được tôn trọng và bảo đảm thi hành, không phân biệt bản án, quyết định có giá trị tiền, tài sản phải thi hành cao hay thấp. Trường hợp Văn phòng Thừa phát lại từ chối thi hành bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự hoặc nhận bản án, quyết định nhưng tổ chức thi hành thiếu thiện chí hoặc chậm trễ thi hành do bản án, quyết định có giá trị tài sản phải thi hành thấp hoặc đương sự là người có hoàn cảnh khó khăn... cũng cần phải nghiên cứu, bổ sung những quy định pháp luật cần thiết đối với các trường hợp này.

Thứ tư, quy trình, thủ tục tổ chức thi hành án không những phải phù hợp với Điều 106 Hiến pháp năm 2013, đó là “bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”, mà tất cả các thủ tục, biện pháp tổ chức thi hành án của chấp hành viên, Thừa phát lại tùy thuộc vào tính chất, đặc điểm của các loại bản án, quyết định còn phải tuân thủ các điều khoản tương ứng của Hiến pháp, đặc biệt là các quy định tại Chương II về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Ví dụ, thi hành án liên quan đến đất đai, nhà ở phải thực hiện đúng yêu cầu của Hiến pháp về tôn trọng quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân; kê biên tài sản, xác minh tài sản thi hành án liên quan đến việc bảo vệ quyền sở hữu; thi hành án về lao động liên quan đến quyền lao động của công dân; xác minh thông tin cá nhân liên quan đến quyền bí mật thông tin cá nhân được Hiến pháp bảo vệ... Ngoài ra, Điều 3 Hiến pháp năm 2013 quy định, Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Điều này có nghĩa là Nhà nước thông qua tổ chức bộ máy cơ quan nhà nước mà cụ thể là đội ngũ cán bộ, công chức sẽ có trách nhiệm trong việc bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Vậy, Thừa phát lại không phải là công chức (hoạt động cơ bản theo nguyên tắc tự chủ tài chính, cơ bản lấy thu bù chi), ngoài mục đích hoạt động là phục vụ cho mục tiêu kinh doanh, thu lợi nhuận ra, họ còn thực hiện một phần trách nhiệm thuộc về nhiệm vụ công chức, đó là người bảo đảm sự công bằng, hài hòa lợi ích giữa các bên có quyền lợi đối lập, bảo đảm tính nhân đạo của Nhà nước. Vậy, Nhà nước sẽ hỗ trợ như thế nào cho hợp lý để bảo đảm cho những hoạt động này sẽ không làm tăng các khoản chi phát sinh của Văn phòng Thừa phát lại? Đây là vấn đề cần phải nghiên cứu thấu đáo, chặt chẽ về mặt pháp lý, đặc biệt trong những trường hợp bên được thi hành án là khách hàng của Văn phòng Thừa phát lại, là người có hoàn cảnh khó khăn hoặc đối tượng chính sách, đối tượng được quan tâm, bảo vệ đặc biệt của xã hội. Do đó, mối quan hệ giữa các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Thừa phát lại trong việc tổ chức thi hành án với các quy định của Hiến pháp về bảo vệ quyền con người, quyền công dân cần phải được nghiên cứu làm rõ. Giới hạn phạm vi, lĩnh vực hoạt động của Thừa phát lại phải bảo đảm nguyên tắc tuân thủ và phù hợp với Hiến pháp, trong quá trình tổ chức thi hành án, không vì lợi ích của một bên khách hàng mà làm ảnh hưởng đến lợi ích của bên kia được Hiến pháp bảo vệ.

Thứ năm, liệu có thể có các vấn đề tiêu cực, tham nhũng phát sinh liên quan đến việc hành nghề rộng rãi của Văn phòng Thừa phát lại trong tương lai hay không cũng cần phải được nghiên cứu để nếu phát sinh thì sẽ có các biện pháp ngăn chặn, đề phòng thông qua hệ thống các quy định chặt chẽ, thống nhất của pháp luật. Muốn đạt được mục đích lợi nhuận thì cần có cạnh tranh, bên cạnh các hoạt động cạnh tranh lành mạnh cũng xuất hiện cạnh tranh không lành mạnh và các vấn đề tiêu cực cũng có thể phát sinh từ đó, nếu thiếu các biện pháp quản lý nhà nước hiệu quả. Hiện nay, hệ thống Văn phòng Thừa phát lại ở một số địa phương đang hoạt động song song cùng với các cơ quan thi hành án dân sự của Nhà nước. Trong thời gian tới, khi mà hệ thống Văn phòng Thừa phát lại được thành lập và đi vào hoạt động rộng rãi trên phạm vi cả nước thì việc cạnh tranh sẽ phát triển mạnh mẽ hơn giữa các Văn phòng Thừa phát lại với nhau, cũng như giữa Văn phòng Thừa phát lại với cơ quan nhà nước có liên quan để tăng số công việc thi hành án nhằm duy trì sự phát triển của Văn phòng Thừa phát lại. Ở đây xuất hiện rất nhiều mối quan hệ về lợi ích đan xen nhau bao gồm quan hệ giữa Văn phòng Thừa phát lại với Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan công an; quan hệ giữa Văn phòng Thừa phát lại với cơ quan công quyền khác (Ban chỉ đạo thi hành án, Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân các cấp); quan hệ giữa các Văn phòng Thừa phát lại với nhau; quan hệ giữa Văn phòng Thừa phát lại với đương sự là khách hàng của mình; quan hệ giữa Văn phòng Thừa phát lại với đương sự không phải là khách hàng của mình; quan hệ giữa Văn phòng Thừa phát lại với các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác (kho bạc, ngân hàng, bảo hiểm, cơ quan đăng ký tài sản bảo đảm...); trách nhiệm của Văn phòng Thừa phát lại trong việc bảo vệ tài sản của Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích công; quan hệ nội bộ giữa người quản lý và người lao động trong các Văn phòng Thừa phát lại... Do vậy, cần nghiên cứu, rà soát hệ thống văn bản liên quan để bảo đảm phát huy, bổ sung những mặt tích cực trong các quan hệ đó, đồng thời hạn chế, ngăn chặn các quan hệ tiêu cực phát sinh có thể ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của một trong các bên đương sự, bên thứ ba hoặc quyền và lợi ích chung của Nhà nước, của nhân dân. Kinh nghiệm từ các nước chuyển đổi mô hình thi hành án đã chứng tỏ những lo lắng nêu trên là có cơ sở.

Trên thế giới, mô hình thi hành án dân sự tư với chế định Thừa phát lại làm công tác thi hành án dân sự là chế định điển hình ở Pháp. Là nước có chế định Thừa phát lại lâu đời nên Pháp có rất nhiều kinh nghiệm quý từ tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại, tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, thành công thì mô hình thi hành án tư này ở Pháp cũng gặp không ít khó khăn. Ví dụ, theo pháp luật của Pháp, về lý thuyết, Thừa phát lại được quyền tiếp cận thông tin về nhân thân, tài sản của người phải thi hành án từ rất nhiều nguồn thông tin của các cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, Pháp cũng phải tuân thủ nhiều quy định, biện pháp bảo vệ quyền riêng tư cá nhân (ví dụ, Điều 7 Hướng dẫn số 95/46/EC ngày 24/10/1995 của Nghị viện châu Âu và Hội đồng châu Âu về bảo vệ cá nhân liên quan đến việc xử lý dữ liệu cá nhân và việc tự do thông tin cá nhân), Thừa phát lại không được trực tiếp tiếp cận sự hỗ trợ về mặt hành chính khi tiếp cận các thông tin, nên Thừa phát lại phải yêu cầu sự giúp đỡ của cơ quan công tố khi cần các thông tin liên quan đến người phải thi hành án. Hơn nữa, Thừa phát lại bị cấm sử dụng các thông tin có được vì những mục đích khác ngoài việc thi hành bản án, quyết định vì để bảo vệ quyền lợi của người được thi hành án, do đó, thực tế tính hiệu quả của sự hợp tác giữa Thừa phát lại với cơ quan công tố là chưa cao[4].

Theo pháp luật tố tụng dân sự của Cộng hòa Liên bang Đức, thủ tục thi hành án dân sự được coi như là chức năng quan trọng, cần thiết thuộc quyền lực của Nhà nước, được độc quyền thực hiện bởi cơ quan nhà nước, do chấp hành viên, nhân viên Tòa án là công chức thực hiện phù hợp với quy định của Hiến pháp và pháp luật. Rất hiếm và rất hạn chế tổ chức tư nhân tham gia vào một số công việc của quá trình tổ chức thi hành án. Ngoài ra, sự bảo đảm của Hiến pháp đối với quyền tiếp cận công lý cũng bao gồm cả tính hiệu quả trong quy trình tổ chức thi hành án[5]. Tùy thuộc vào từng loại biện pháp thi hành án, đối tượng tài sản phải thi hành án là động sản hay bất động sản hoặc những tác động của các biện pháp thi hành án đối với các quyền cơ bản của con người mà mức độ giám sát của thẩm phán đối với chấp hành viên hoặc nhân viên thi hành án của Tòa án cũng khác nhau.

Ngoài ra, trước những khó khăn, phức tạp của công tác thi hành án dân sự, ví dụ do sự chậm trễ, trì hoãn thi hành án, thiếu người có năng lực, trình độ để làm công tác thi hành án, hiệu quả thi hành án không cao và dưới áp lực của chi ngân sách cho hoạt động này... nên nhiều nước trên thế giới đặc biệt là các nước xã hội chủ nghĩa trước đây đã nghiên cứu, cải cách để chuyển đổi lĩnh vực thi hành án dân sự, tìm kiếm mô hình tổ chức thi hành án dân sự tư nhân hoặc mô hình kết hợp giữa thi hành án dân sự tư nhân với thi hành án dân sự của Nhà nước. Từ những năm 2000, các nước có mô hình thi hành án dân sự tư nhân do Thừa phát lại thực hiện như các nước vùng Baltic bao gồm Estonia, Latvia và Lithuania, một vài nước thuộc trung tâm châu Âu như Slovakia, Hungary và tư nhân hóa ở một mức độ nhất định ở Poland và Czech Repulic; nước chuyển đổi mô hình thi hành án sang tư nhân sớm hơn được thực hiện ở Croatia từ những năm 1990, đạo luật thi hành án được thông qua lần đầu tiên vào năm 1996, nhưng nó đã được sửa đổi 6 lần từ năm 1996 đến năm 2008. Tuy nhiên, việc chuyển đổi mô hình thi hành án dân sự ở Croatia đã gặp nhiều khó khăn và không được coi là mô hình thi hành án hiệu quả, vì nhiều vấn đề mới phát sinh như chi phí thi hành án tăng cao; những khó khăn mới phát sinh liên quan đến đánh giá hiệu quả thi hành án cũng như việc thu thập thông tin tài sản thi hành án; hệ thống quản lý thi hành án mới, yêu cầu thay đổi Hiến pháp và các lĩnh vực pháp luật khác có liên quan; sự miễn cưỡng và không sẵn sàng hợp tác của các cơ quan hành chính với người làm công tác thi hành án tư... Kinh nghiệm từ những nước chuyển đổi mô hình thi hành án dân sự từ thi hành án dân sự công do cơ quan nhà nước tổ chức thực hiện sang mô hình tư hoặc kết hợp giữa mô hình công và mô hình tư (ở mô hình này có những ưu điểm, tiến bộ riêng so với mô hình hoàn toàn do tư nhân thực hiện) đã chỉ ra một số kinh nghiệm quý báu: (i) Việc lựa chọn mô hình thi hành án như thế nào cho hiệu quả là hoàn toàn phụ thuộc vào thể chế chính trị, truyền thống pháp luật, hệ thống luật pháp hiện hành và đặc điểm văn hóa của mỗi nước; (ii) Chưa có kết luận rõ ràng, đầy đủ về mô hình thi hành án này (tư nhân hoặc Nhà nước hoặc mô hình kết hợp) là có ưu điểm hoàn toàn nổi trội hơn mô hình kia; (iii) Tuy nhiên, qua kinh nghiệm từ những nước đã thực hiện việc chuyển đổi, cải cách lĩnh vực thi hành án dân sự cho thấy có rất nhiều khó khăn, vướng mắc phát sinh từ mô hình thi hành án dân sự tư nhân, thậm chí có những nước đã thất bại khi thí điểm mô hình này, ví dụ vấn đề cung cấp thông tin tài sản thi hành án; phí thi hành án như thế nào cho hợp lý để bảo vệ quyền lợi của các bên đương sự, của Nhà nước; (iv) Các vấn đề tham nhũng mới phát sinh liên quan đến việc tuyển chọn, bổ nhiệm Thừa phát lại là những người bạn bè, thân quen, người cùng liên minh, đảng phái chính trị... nên chất lượng, hiệu quả công việc thi hành án không cao; khách hàng yêu cầu thi hành án là Nhà nước hoặc cơ quan đại diện cho Nhà nước...; (v) Mặc dù tư nhân hóa thi hành án dân sự nhưng chắc chắn một số lĩnh vực, quy trình, thủ tục, công việc thi hành án phải thuộc độc quyền do Nhà nước thực hiện, ví dụ việc chuyển giao một số loại tài liệu, giấy tờ, việc trao thẩm quyền thực hiện công việc thi hành án trong những lĩnh vực cụ thể được xác định...

Yêu cầu của mô hình thi hành án tư đòi hỏi năng lực, trình độ chuyên môn được đào tạo cao của người làm công tác thi hành án, hiệu lực quản lý nhà nước, chất lượng tổ chức thi hành án... tuy nhiên, ở các nước chuyển đổi mô hình thi hành án thì những yêu cầu này luôn luôn là một điểm yếu, nên đã có nhiều rủi ro, nguy hiểm phát sinh nhìn từ góc độ quản lý nhà nước và bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Mặc dù việc cải cách thi hành án do Thừa phát lại thực hiện có những vụ việc có thể thi hành hiệu quả hơn, nhanh hơn nhưng nhìn chung rất khó đạt được đồng thời các mục đích chính của yêu cầu thi hành án, đó là tính hiệu quả, sự công bằng, yêu cầu chi phí thi hành án hợp lý, đối với không những đương sự (người được thi hành án, người phải thi hành án), bên thứ ba có liên quan mà còn đối với cả xã hội.

Quá trình hoàn thiện thể chế; quy trình, thủ tục thi hành án; trách nhiệm, quyền hạn của Văn phòng Thừa phát lại, Thừa phát lại cũng như mô hình tổ chức, hoạt động của hệ thống thi hành án dân sự của Nhà nước ở Việt Nam hiện nay, ngoài việc báo cáo, tổng kết thực tiễn, rất cần sự đầu tư nghiên cứu công phu kinh nghiệm quý báu từ các mô hình đã thực hiện việc chuyển đổi thi hành án dân sự từ mô hình công sang mô hình tư nhân hoặc mô hình kết hợp để tiếp thu có chọn lọc tiến tới xây dựng mô hình thi hành án hiệu quả ở Việt Nam theo đúng chủ trương của Đảng về đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả của lĩnh vực thi hành án dân sự, bảo vệ công bằng quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân và của Nhà nước, góp phần xây dựng thành công nhà nước xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

ThS. NGUYỄN VĂN NGHĨA *

Tổng Cục thi hành án dân sự

Tài liệu tham khảo:

[1]. Báo cáo số 538/BC-CP ngày 19/10/2015 của Chính phủ về Tổng kết việc triển khai tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại, tr. 15.

[2]. Báo cáo số 538/BC-CP, xem Tham luận:“Kết quả triển khai thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 36/2012/QH13 của Quốc hội tại Tòa án nhân dân” của Tòa án nhân dân tối cao.

[3]. Khoản 4 Điều 15 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/07/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh.

[4]. GS.TS. Burkhard Hess, Giám đốc Viện So sánh pháp luật và luật tư pháp quốc tế, Trường Đại học Heidelberg, Báo cáo tổng quan số JAI/A3/2002/02 ngày 18/02/2004 về thi hành có hiệu quả quyết định tư pháp trong Hiệp hội các quốc gia châu Âu, tr. 39.

[5]. Giáo sư Mads Andenas, Burkhard Hess and Paul Oberhammer, Thực tiễn thi hành án dân sự ở châu Âu, Viện nghiên cứu Luật So sánh và Luật Quốc tế của Anh, 2005, tr. 174 - 175.



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.

Theo dõi chúng tôi trên: