Thứ năm 25/06/2026 12:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Định hướng sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 13/2011/TT-BTP và Thông tư số 16/2013/TT-BTP

Bài viết phân tích sự cần thiết sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 13/2011/TT-BTP và Thông tư số 16/2013/TT-BTP, từ đó, đưa ra một số định hướng cụ thể sửa đổi, bổ sung một số điều của hai Thông tư này.

1. Sự cần thiết sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 13/2011/TT-BTP và Thông tư số 16/2013/TT-BTP

Thời gian vừa qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành một số văn bản liên quan đến việc cải cách thủ tục hành chính, việc thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử, việc kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành để phục vụ giải quyết thủ tục hành chính như: Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 của Chính phủ về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử; Nghị định số 42/2022/NĐ-CP ngày 24/6/2022 của Chính phủ quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến của cơ quan nhà nước trên môi trường mạng; Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ việc chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030. Đồng thời, một số văn bản liên quan trực tiếp đến việc cải cách hành chính trong lĩnh vực lý lịch tư pháp cũng đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành như: Nghị quyết số 58/NQ-CP ngày 04/7/2017 của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp; Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 12/5/2020 của Chính phủ ban hành Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020 - 2025; Chỉ thị số 23/CT-TTg ngày 09/7/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh thủ tục hành chính cấp Phiếu lý lịch tư pháp tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp; Quyết định số 87/QĐ-TTg ngày 19/01/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp.

Các văn bản trên, bên cạnh việc đặt ra nhiệm vụ cho Bộ Tư pháp trong việc chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan có liên quan xây dựng, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ một số thông tư, thông tư liên tịch, trong đó có 02 thông tư trong lĩnh vực lý lịch tư pháp: Thông tư số 13/2011/TT-BTP ngày 27/6/2011 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành và hướng dẫn sử dụng biểu mẫu và mẫu sổ lý lịch tư pháp (Thông tư số 13/2011/TT-BTP) và Thông tư số 16/2013/TT-BTP ngày 11/11/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 13/2011/TT-BTP (Thông tư số 16/2013/TT-BTP) đã đặt ra một số yêu cầu như sau: (i) Chuyển đổi phương thức thực hiện các thủ tục hành chính từ trực tiếp sang thực hiện trên môi trường điện tử; (ii) Kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành để phục vụ giải quyết thủ tục hành chính theo hướng, khai thác sử dụng thông tin trong các cơ sở dữ liệu, không yêu cầu công dân xuất trình giấy tờ, tài liệu, thông tin đã được lưu trữ trong các cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính; (iii) Điện tử hóa các biểu mẫu phục vụ việc giải quyết thủ tục hành chính, cũng như số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính.

Sau hơn 10 năm triển khai thực hiện Thông tư số 13/2011/TT-BTP và Thông tư số 16/2013/TT-BTP đã bộc lộ những điểm không còn phù hợp với thực tiễn như:

- Quy định việc Bộ Tư pháp in và phát hành 02 loại giấy in màu có hoa văn để Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp in nội dung Phiếu lý lịch tư pháp số 1 và Phiếu lý lịch tư pháp số 2 (phôi Phiếu lý lịch tư pháp) không còn phù hợp, gây tốn kém chi phí và không đáp ứng yêu cầu thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử hiện nay.

- Nhiều biểu mẫu chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu cung cấp dịch vụ công trên môi trường điện tử, yêu cầu về việc khai thác thông tin của công dân tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đặc biệt là yêu cầu cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính được quy định tại các văn bản được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành trong thời gian qua, cụ thể:

+ Chưa có quy định cụ thể về biểu mẫu điện tử, biểu mẫu điện tử tương tác nên Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp gặp khó khăn, lúng túng khi triển khai phương thức cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến, cũng như thực hiện thí điểm cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua ứng dụng định danh và xác thực điện tử VNeID.

+ Một số mẫu sổ lý lịch tư pháp chưa rõ hình thức lưu trữ (điện tử, giấy hay phải thực hiện cả việc lưu điện tử và giấy), gây khó khăn cho việc thực hiện. Nội dung một số mẫu sổ chưa đáp ứng yêu cầu thống kê phục vụ báo cáo cải cách hành chính như Sổ cấp Phiếu lý lịch tư pháp còn thiếu các tiêu chí thể hiện phương thức tiếp nhận hồ sơ, trả Phiếu lý lịch tư pháp.

- Chưa có hướng dẫn ghi tình trạng án tích của những trường hợp “không bị coi là có án tích” và “được coi là không có án tích” theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) tại Phiếu lý lịch tư pháp số 1 và Phiếu lý lịch tư pháp số 2.

2. Định hướng sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 13/2011/TT-BTP và Thông tư số 16/2013/TT-BTP

Nhằm đáp ứng yêu cầu của những văn bản pháp luật nêu trên, cũng như khắc phục những điểm còn hạn chế trong thực tiễn thi hành Thông tư số 13/2013/TT-BTP và Thông tư số 16/2013/TT-BTP, Bộ Tư pháp dự kiến sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 13/2011/TT-BTP và Thông tư số 16/2013/TT-BTP với 03 nhóm nội dung cơ bản sau đây:

Nhóm nội dung thứ nhất: Bỏ quy định về việc in, phát hành biểu mẫu, mẫu sổ lý lịch tư pháp. Để tạo thuận lợi cho cơ quan cấp Phiếu lý lịch tư pháp, giảm chi phí của xã hội, đáp ứng yêu cầu thực hiện thủ tục hành chính trực tuyến, yêu cầu số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính, dự kiến sửa đổi Điều 1 và khoản 1 Điều 4 Thông tư số 13/2011/TT-BTP, theo đó, bãi bỏ nội dung quy định về việc in, phát hành biểu mẫu và mẫu sổ lý lịch tư pháp; bỏ nội dung quy định về việc Bộ Tư pháp in và phát hành 02 loại giấy in màu có hoa văn để Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp in Phiếu lý lịch tư pháp số 1 và Phiếu lý lịch tư pháp số 2.

Nhóm nội dung thứ hai: Sửa đổi các biểu mẫu, mẫu sổ lý lịch tư pháp. Nhằm đáp ứng yêu cầu cung cấp dịch vụ công trên môi trường điện tử, yêu cầu khai thác thông tin tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, yêu cầu đơn giản hóa thủ tục hành chính được quy định tại các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, dự kiến sửa đổi, bổ sung Điều 3 và Điều 4 Thông tư số 13/2011/TT-BTP (đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 16/2013/TT-BTP) theo hướng:

- Điều 3 quy định về việc ban hành biểu mẫu và mẫu sổ lý lịch tư pháp, theo đó:

+ Đối với mẫu sổ lý lịch tư pháp, giữ nguyên tên gọi và số lượng mẫu sổ lý lịch tư pháp như quy định của Thông tư số 16/2013/TT-BTP và có điều chỉnh nội dung của 01 mẫu sổ: Bổ sung các trường thông tin phục vụ công tác thống kê, báo cáo việc thực hiện các phương thức tiếp nhận hồ sơ và trả Phiếu lý lịch tư pháp tại Sổ cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

+ Đối với biểu mẫu lý lịch tư pháp phục vụ công tác xây dựng cơ sở dữ liệu, giữ nguyên tên gọi và số lượng, đồng thời, điều chỉnh nội dung, cụ thể: Mẫu lý lịch tư pháp, bổ sung thông tin thẻ căn cước công dân/thẻ căn cước/số định danh cá nhân (của người nước ngoài); mẫu Phiếu cung cấp thông tin lý lịch tư pháp bỏ thông tin về người lập Phiếu.

+ Đối với biểu mẫu lý lịch tư pháp phục vụ công tác cấp Phiếu lý lịch tư pháp, bên cạnh việc sửa nội dung các biểu mẫu hiện có để phục vụ việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tiếp và qua bưu chính, dự kiến bổ sung 03 biểu mẫu điện tử tương tác phục vụ việc cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến và qua môi trường điện tử, cụ thể: (i) Mẫu Phiếu lý lịch tư pháp, bỏ thông tin về người lập Phiếu lý lịch tư pháp; bổ sung thông tin thẻ căn cước công dân/thẻ căn cước/số định danh cá nhân tại trường thông tin chứng minh nhân dân/hộ chiếu; bổ sung nội dung hướng dẫn việc người có thẩm quyền ký Phiếu lý lịch tư pháp ký số theo quy định của pháp luật. (ii) Các biểu mẫu dùng cho cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp chia thành hai hệ thống biểu mẫu riêng biệt: Một hệ thống sử dụng cho việc yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tiếp và qua dịch vụ bưu chính; một hệ thống sử dụng cho việc yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến. Mỗi hệ thống gồm 03 biểu mẫu: 01 biểu mẫu dùng cho cá nhân trực tiếp yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp; 01 biểu mẫu dùng cho cá nhân ủy quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 1 và cha, mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp của người chưa thành niên yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2; 01 biểu mẫu dùng cho cơ quan, tổ chức yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp. (iii) Biểu mẫu dùng cho cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính: Về số lượng, dự kiến giảm 01 biểu mẫu dùng cho cơ quan, tổ chức yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp (gộp biểu mẫu văn bản yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp dành cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 1 và biểu mẫu văn bản yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp dành cho cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 thành 01 biểu mẫu dùng chung cho cả hai đối tượng). Về nội dung, dự kiến bổ sung các trường thông tin tại biểu mẫu dùng cho cơ quan, tổ chức nhằm bảo đảm sự tương thích về nội dung khai thông tin về người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp giữa biểu mẫu dùng cho cá nhân và biểu mẫu dùng cho cơ quan, tổ chức; bổ sung thông tin “thẻ căn cước công dân/thẻ căn cước/số định danh cá nhân” tại trường thông tin chứng minh nhân dân/hộ chiếu; bổ sung nội dung “đăng ký phương thức nhận kết quả cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính hoặc qua đường điện tử” (cá nhân không cần phải làm Phiếu đăng ký nhận kết quả như hiện nay); sửa yêu cầu khai thông tin về “quá trình cư trú” của người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp (thay vì yêu cầu cá nhân khai toàn bộ quá trình cư trú và nghề nghiệp kể từ khi đủ 14 tuổi thì chỉ yêu cầu cá nhân tích chọn thông tin: Thường trú/tạm trú tại một tỉnh hay qua nhiều tỉnh kể từ khi đủ 14 tuổi); bổ sung nội dung “Ghi chú” nhằm đáp ứng yêu cầu khai thác thông tin tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc khai thác thông tin tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư khi tiếp nhận thủ tục hành chính. (iv) Biểu mẫu điện tử tương tác dùng cho cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến hoặc qua môi trường điện tử. Đây là những biểu mẫu, mẫu văn bản dự kiến được ban hành nhằm đáp ứng yêu cầu đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến, đăng ký cấp Phiếu qua ứng dụng VNeID hoặc ứng dụng cung cấp dịch vụ công khác trên môi trường điện tử. Nội dung các biểu mẫu, mẫu văn bản này thống nhất với nội dung Tờ khai yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp và mẫu văn bản yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp tại Phụ lục số 02 (ban hành kèm theo Thông tư số 16/2013/TT-BTP), đồng thời, được chỉnh lý về mặt thể thức cho phù hợp với các biểu mẫu, mẫu văn bản cung cấp dịch vụ cấp Phiếu lý lịch tư pháp trên môi trường điện tử trong thời gian qua; lược bỏ bớt các nội dung không cần thiết như việc ký Tờ khai, văn bản yêu cầu và quy định cụ thể các trường thông tin bắt buộc phải khai.

- Điều 4 quy định về việc quản lý, sử dụng biểu mẫu, mẫu sổ lý lịch tư pháp, theo đó, dự kiến quy định:

+ Các biểu mẫu, mẫu sổ lý lịch tư pháp được sử dụng và lưu trữ tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp dưới dạng dữ liệu điện tử hoặc dưới dạng văn bản giấy. Biểu mẫu, mẫu sổ lý lịch tư pháp sử dụng dưới dạng văn bản giấy được in trên giấy trắng, khổ giấy A4 (210 mm x 297 mm). Biểu mẫu và mẫu sổ lý lịch tư pháp dưới dạng dữ liệu điện tử có giá trị sử dụng như biểu mẫu, mẫu sổ lý lịch tư pháp bằng văn bản giấy.

+ Biểu mẫu Tờ khai yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp dành cho cá nhân và 01 văn bản yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp dành cho cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi là cơ quan, tổ chức) được đăng tải trên Cổng dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính Bộ Tư pháp, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp tỉnh. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể truy cập để tải về và sử dụng. Trường hợp yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tiếp, cá nhân, cơ quan, tổ chức được cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cung cấp để sử dụng miễn phí.

+ Các biểu mẫu điện tử tương tác được tích hợp trên Cổng dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính Bộ Tư pháp, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp tỉnh. Cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp, trao đổi thông tin, dữ liệu thông qua biểu mẫu điện tử tương tác khi yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến.

Đồng thời, để bảo đảm cho việc sử dụng biểu mẫu thống nhất, dự kiến bổ sung quy định về trách nhiệm của Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp trong việc sử dụng biểu mẫu và mẫu sổ lý lịch tư pháp theo hướng, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp về việc sử dụng các biểu mẫu, mẫu sổ không đúng quy định của Thông tư này.

Nhóm nội dung thứ ba: Sửa đổi, bổ sung quy định hướng dẫn ghi Phiếu lý lịch tư pháp. Để bảo đảm phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 và khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong việc ghi Phiếu lý lịch tư pháp, dự kiến sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 và bổ sung điểm b khoản 2 Điều 14 Thông tư số 13/2011/TT-BTP (đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 16/2013/TT-BTP) về cách ghi mục “Tình trạng án tích” trong Phiếu lý lịch tư pháp số 1 và Phiếu lý lịch tư pháp số 2, cụ thể như sau:

- Đối với Phiếu lý lịch tư pháp số 1, bổ sung cách ghi tình trạng án tích của 02 trường hợp “không bị coi là có án tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 69 Bộ luật Hình sự năm 2015 và 03 trường hợp “được coi là không có án tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo đó, các trường hợp này được ghi là “không có án tích” đối với công dân Việt Nam và ghi là “không có án tích trong thời gian cư trú tại Việt Nam” đối với người nước ngoài đã từng cư trú tại Việt Nam.

- Đối với Phiếu lý lịch tư pháp số 2, bổ sung hướng dẫn ghi mục “Tình trạng án tích” đối với trường hợp người bị kết án “không bị coi là có án tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 69 Bộ luật Hình sự năm 2015 và người bị kết án “được coi là không có án tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể, ghi nội dung bản án vào các ô, cột, mục tương ứng trong Phiếu lý lịch tư pháp. Nội dung bản án được ghi theo hướng dẫn tại điểm b khoản 2 Điều 14 Thông tư số 13/2011/TT-BTP (đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 12 Điều 1 Thông tư số 16/2013/TT-BTP). Đồng thời, tại mục “Ghi chú” ghi rõ “không bị coi là có án tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 69 Bộ luật Hình sự năm 2015 hoặc “được coi là không có án tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Bên cạnh những nội dung dự kiến sửa đổi, bổ sung nêu trên, để tránh lãng phí trong việc sử dụng các phôi Phiếu lý lịch tư pháp đã được in và phát hành, Bộ Tư pháp dự kiến quy định điều khoản chuyển tiếp về việc sử dụng phôi Phiếu lý lịch tư pháp đã được Bộ Tư pháp in và phát hành cho Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp trước ngày Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 13/2011/TT-BTP và Thông tư số 16/2013/TT-BTP có hiệu lực nhưng chưa được sử dụng, theo đó, 02 loại giấy in màu có hoa văn đã được Bộ Tư pháp in và phát hành để cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch pháp in Phiếu lý lịch tư pháp chưa sử dụng hết thì tiếp tục được sử dụng trong khoảng thời gian 03 tháng, kể từ ngày Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 13/2011/TT-BTP và Thông tư số 16/2013/TT-BTP có hiệu lực thi hành./.

Nguyễn Thị Thu Hằng

Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Bộ Tư pháp

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 405), tháng 5/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16. Đạo luật này đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 07/2026/L-CTN ngày 26/4/2026 và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Việc ban hành Luật mới nhằm thay thế toàn bộ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, qua đó thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, giải quyết triệt để những bất cập thực tiễn, đồng thời đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy chính quyền (02 cấp) và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia.
Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Việc đặt ra yêu cầu luật sư phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng” là vấn đề đang thu hút sự quan tâm lớn của giới hành nghề, giới nghiên cứu và cơ quan xây dựng pháp luật, nhất là khi dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã đặt trọng tâm vào chính sách xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, sự nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên số, quyền tiếp cận thông tin là tiền đề quan trọng để người khuyết tật hòa nhập xã hội. Tuy nhiên, “khoảng cách số” và những khoảng trống của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 làm tăng nguy cơ người khuyết tật bị “bỏ lại phía sau”. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và đối chiếu, nghiên cứu đánh giá thực trạng khung pháp lý cũng như thực tiễn thi hành quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật; từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba điểm nghẽn lớn là thiếu quy định bắt buộc về định dạng thông tin dễ tiếp cận; giới hạn về chủ thể cung cấp thông tin và thiếu cơ chế phối hợp hỗ trợ. Để giải quyết, nghiên cứu đề xuất ba giải pháp trọng tâm: (i) đa dạng hóa phương thức cung cấp qua nền tảng số và bắt buộc cung cấp định dạng chuyên biệt; (ii) mở rộng trách nhiệm cung cấp thông tin đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thiết yếu, thiết lập cơ chế để hệ thống trợ giúp pháp lý trở thành đầu mối hỗ trợ, “phiên dịch” thông tin cho người khuyết tật; (iii) hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thông qua chính sách miễn phí tiếp cận thông tin và đầu tư hạ tầng công nghệ bao trùm.
Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có những quy định mới quan trọng về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách. Các quy định này đã và đang được triển khai trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
Pháp luật một số quốc gia trên thế giới về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quản lý hoạt động tôn giáo - Một số gợi mở đối với Việt Nam

Pháp luật một số quốc gia trên thế giới về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quản lý hoạt động tôn giáo - Một số gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong nhiều công ước quốc tế và pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp và thực tiễn quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo tại một số quốc gia như Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Nga, Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á; từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc trong xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Nghiên cứu tập trung phân tích ba nội dung chính: (i) mô hình pháp luật điều chỉnh quan hệ Nhà nước - tôn giáo; (ii) cơ chế bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân; (iii) phương thức quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo.
Hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam từ kinh nghiệm một số quốc gia ASEAN: tiếp cận từ mô hình quan hệ giữa Nhà nước và tôn giáo

Hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam từ kinh nghiệm một số quốc gia ASEAN: tiếp cận từ mô hình quan hệ giữa Nhà nước và tôn giáo

Tóm tắt: Trong xã hội đa dạng về tín ngưỡng và tôn giáo, pháp luật không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà còn thiết lập cơ chế duy trì trật tự công, ổn định xã hội và thúc đẩy hòa hợp cộng đồng. Tại Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và được cụ thể hóa trong Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, các cách tiếp cận hiện chưa làm rõ đầy đủ cơ sở lý luận của mô hình quan hệ giữa Nhà nước và tôn giáo như một nền tảng cho cải cách pháp luật. Nghiên cứu phân tích các mô hình lý luận về quan hệ giữa Nhà nước và tôn giáo, đánh giá mô hình chính sách, pháp luật hiện hành của Việt Nam và xu hướng sửa đổi trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Thông qua tham chiếu kinh nghiệm của Singapore như một trường hợp điển hình trong ASEAN, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong cách tiếp cận pháp luật hiện nay ở Việt Nam và đề xuất các định hướng hoàn thiện chính sách, pháp luật theo hướng vừa bảo đảm tốt hơn quyền tự do tôn giáo, vừa đáp ứng yêu cầu quản trị nhà nước và hội nhập quốc tế.
Hoàn thiện chính sách, pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng

Hoàn thiện chính sách, pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đã bước đầu thiết lập hành lang pháp lý cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng. Nghiên cứu phân tích các chính sách, quy định mới về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, đánh giá tính tương thích và khả thi trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Bằng phương pháp phân tích quy phạm và so sánh đối chiếu, nghiên cứu làm rõ sự biến đổi của các hình thức thực hành tôn giáo trong môi trường số và trách nhiệm của các chủ thể liên quan, đặc biệt là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng, qua đó, xác định các yêu cầu đối với tổ chức thực thi nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong bối cảnh số hóa.
Thực trạng chính sách, pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện

Thực trạng chính sách, pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu, rộng và sự đa dạng ngày càng gia tăng của các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, hệ thống chính sách, pháp luật Việt Nam đã có nhiều bước hoàn thiện, đặc biệt, với việc ban hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành chính sách, pháp luật còn tồn tại một số hạn chế như tính minh bạch chưa cao, thủ tục hành chính còn phức tạp và sự thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật giữa các địa phương. Nghiên cứu phân tích thực trạng chính sách, pháp luật và thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm bảo đảm tốt hơn quyền con người và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Truyền thông chính sách trong xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh mới

Truyền thông chính sách trong xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Truyền thông chính sách trong xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có ý nghĩa quan trọng nhằm định hướng nhận thức xã hội và góp phần bảo đảm an ninh tôn giáo trong bối cảnh hiện nay. Nghiên cứu làm rõ các yêu cầu đặt ra đối với hoạt động truyền thông chính sách trong quá trình xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), đồng thời, phân tích những kết quả đạt được và hạn chế trong truyền thông chính sách đối với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực thi trong thực tiễn.
Thực trạng chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Thực trạng chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 được Quốc hội khóa XIV thông qua tại Kỳ họp thứ 2, ngày 18/11/2016, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018. Sau hơn 08 năm thi hành, chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, một số chính sách, quy định pháp luật không còn phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện những thành công, hạn chế, bất cập để hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới là cần thiết. Nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất một số định hướng hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Theo dõi chúng tôi trên: