Thứ ba 27/10/2026 00:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 được Quốc hội khóa XIV thông qua tại Kỳ họp thứ 2, ngày 18/11/2016, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018. Sau hơn 08 năm thi hành, chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, một số chính sách, quy định pháp luật không còn phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện những thành công, hạn chế, bất cập để hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới là cần thiết. Nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất một số định hướng hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Đặt vấn đề

Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người được pháp luật quốc tế, hiến pháp và pháp luật nhiều quốc gia quy định. Ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được quy định trong Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992 và năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013). Hiến pháp năm 2013 phân định rõ hai khái niệm quyền con người và quyền công dân, trong đó, khoản 1 Điều 24 ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo với tư cách là quyền con người và quy định các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Chính vì vậy, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Nghiên cứu cho thấy, từ khi Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2013 được thi hành trên thực tế, chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đã đạt được những thành công nhất định nhưng cũng bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế, một số chính sách, quy định pháp luật không còn phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, chưa bảo đảm quyền tự do, tín ngưỡng của người dân trên thực tế. Nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và kiến nghị hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.

1. Thực trạng chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo

Từ khi Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và các văn bản hướng dẫn thi hành có hiệu lực đến nay, chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đã đạt được những thành công nhưng cũng tồn tại một số hạn chế, bất cập sau:

1.1. Một số thành công

Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã thể chế hóa quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được quy định trong Hiến pháp năm 2013 như quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; tổ chức tôn giáo; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo. Nghiên cứu cho thấy, chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đã quy định, tạo hành lang pháp lý tương đối đầy đủ, đồng bộ, thống nhất và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện trên thực tế. Cụ thể:

Thứ nhất, xác lập địa vị bình đẳng các chủ thể quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Thể chế hóa quy định tại khoản 1 Điều 24 Hiến pháp năm 2013, khoản 1 Điều 6 Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định, mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, thể hiện sự bình đẳng đối với tất cả cá nhân mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào. Tuy nhiên, với một số đối tượng yếu thế, có nguy cơ bị phân biệt đối xử hoặc bị hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, pháp luật đã có những quy định riêng, nhấn mạnh để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các đối tượng này. Chẳng hạn, Điều 22 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định, vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau; Điều 19 Luật Trẻ em năm 2018 quy định, trẻ em có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào và phải được bảo đảm an toàn, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.

Với người đang bị giam giữ, quản lý, khoản 5 Điều 6 Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định, người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời, quyền được sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo của phạm nhân được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 27 Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Ngoài ra, Điều 8 Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định, người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Tuy nhiên, hoạt động tôn giáo là hoạt động có hệ thống, tổ chức, gắn với các tổ chức tôn giáo nên để bảo đảm quyền tự do tôn giáo của cá nhân cần phải bảo đảm quyền hoạt động của tổ chức tôn giáo. Chính vì vậy, trên cơ sở quy định tại khoản 1 Điều 24 Hiến pháp 2013, khoản 12, 13 Điều 2 Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã quy định về tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc và quy định rõ các tổ chức tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

Đặc biệt, để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện trên thực tế, Điều 5 Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo. Trường hợp cá nhân, tổ chức vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm này, tùy theo mức độ khác nhau có thể bị xử lý về hành chính hoặc hình sự.

Như vậy, chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đã quy định cho từng cá nhân và cho mọi người dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; đồng thời, bảo đảm quyền được thực hiện và bình đẳng trong thực hiện quyền trên thực tế mà không loại trừ bất kỳ ai.

Thứ hai, quy định rõ, cụ thể nội dung quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức tôn giáo và các quy định này phù hợp với pháp luật quốc tế.

Điều 2 Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định về tín ngưỡng (khoản 1), tôn giáo (khoản 5), sinh hoạt tôn giáo (khoản 10), hoạt động tôn giáo (khoản 11), tổ chức tôn giáo (khoản 12), tổ chức tôn giáo trực thuộc (khoản 13), cơ sở tôn giáo (khoản 14) và nội dung quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 6) tạo cơ sở pháp lý cho các cá nhân, tổ chức thực hiện các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên thực tế. Nghiên cứu cho thấy, về cơ bản các quy định của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 phù hợp với nội dung quyền quy định tại Điều 18 Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 (UDHR) cũng như các điều liên quan trong Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965; Công ước về các quyền dân sự chính trị năm 1966 (ICCPR); Công ước về các quyền kinh tế xã hội và văn hóa năm 1966.

Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 quy định, quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng (khoản 2 Điều 14) và việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (khoản 4 Điều 15); đồng thời, Điều 24 Hiến pháp năm 2013 quy định cấm xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng như lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 2013, Điều 4 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã nghiêm cấm các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo; chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi. Đồng thời, Điều 9 Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo phải tuân thủ Hiến pháp, Luật tín ngưỡng, tôn giáo và quy định khác của pháp luật có liên quan; các chức sắc tôn giáo, nhà tu hành, người có chức trách, nhiệm vụ của cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng có trách nhiệm hướng dẫn tín đồ và những người tham gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo thực hiện các hoạt động này đúng quy định của pháp luật. Các trường hợp hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo xâm phạm tới các quyền, lợi ích chính đáng mà Hiến pháp, pháp luật bảo vệ, tùy theo mức độ khác nhau có thể bị xử lý về hành chính hoặc hình sự.

Như vậy, chính sách, pháp luật đã quy định tương đối cụ thể, rõ ràng quyền và hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tạo hành lang pháp lý để các tổ chức, cá nhân hoạt động, các cơ quan nhà nước thực hiện quản lý về tín ngưỡng, tôn giáo được thuận lợi. Đặc biệt, các quy định này phù hợp với Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948[1] và Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966[2] .

Thứ ba, quy định nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định nghĩa vụ của Nhà nước trong việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm các quyền con người, quyền công dân bằng Hiến pháp và pháp luật. Thể chế hóa Điều 14 Hiến pháp năm 2013, Điều 3 Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định rõ, cụ thể, chi tiết về trách nhiệm của Nhà nước trong bảo hộ, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các cá nhân, tổ chức tại Việt Nam. Nhà nước không chỉ có trách nhiệm bảo hộ quyền tự do, tín ngưỡng của cá nhân, mà còn bảo hộ các giá trị tinh thần và tổ chức, cơ sở vật chất, tài sản của cơ sở tín ngưỡng; cơ sở, tổ chức tôn giáo. Đặc biệt, Điều 63 Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ và các tổ chức, cá nhân khác có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại, khởi kiện vụ án hành chính, khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật có liên quan. Đồng thời, các cá nhân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật về tố cáo. Như vậy, các quy định này là căn cứ, cơ sở pháp lý quan trọng để bảo đảm cho các cá nhân, tổ chức thực hiện quyền, cũng như để các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện trên thực tế.

Thứ tư, quy định tương đối cụ thể, rõ ràng các thủ tục tổ chức, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.

Từ Chương III đến Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã quy định tương đối cụ thể, chi tiết về nguyên tắc tổ chức, hoạt động, các thủ tục hành chính trong tổ chức, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, bảo đảm cho các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của các cá nhân, tổ chức được thực hiện thuận lợi, hợp pháp và phát huy được giá trị tinh thần tích cực cho xã hội, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tín đồ, của cơ sở/tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo. Đặc biệt, Chính phủ, các bộ, ngành trung ương đã ban hành các văn bản quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật, đồng thời, nhiều địa phương đã ban hành các đề án, kế hoạch,... để triển khai thi hành Luật[3], giúp các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện, triển khai trên thực tế thuận lợi.

Thứ năm, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thực thi trên thực tế.

Thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, Việt Nam đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 40 tổ chức thuộc 16 tôn giáo với khoảng 27.382.846 tín đồ, 66.365 chức sắc, 120.475 chức việc, 30.374 cơ sở tôn giáo, 73.298 cơ sở tín ngưỡng[4]. Đồng thời, các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam đã xây dựng, thực hiện đường hướng hành đạo theo quy định của pháp luật, phù hợp với văn hóa truyền thống, đồng hành cùng dân tộc, góp phần lưu giữ và phát huy nhiều giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc và là một trong những nguồn lực quan trọng góp phần xây dựng và phát triển đất nước[5].

Đặc biệt, các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam tham gia rất tích cực vào đời sống chính trị xã hội. Trong nhiệm kỳ 2021 - 2026, có 05 vị chức sắc trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XV; có 88 chức sắc, chức việc và 35 tín đồ các tôn giáo trúng cử đại biểu Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh; có 225 chức sắc, chức việc, nhà tu hành và 246 tín đồ trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện; 646 chức sắc, chức việc, nhà tu hành và trên 5.000 tín đồ trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã. Các tổ chức tôn giáo cũng phát huy mạnh mẽ nguồn lực của tổ chức, tham gia các hoạt động an sinh xã hội, từ lĩnh vực giáo dục, y tế, từ thiện, nhân đạo và bảo trợ xã hội[6]. Như vậy, chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đã tạo điều kiện, tạo hành lang pháp lý cần thiết để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; bảo đảm lợi ích của quốc gia, dân tộc, đáp ứng nhu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế.

1.2. Một số hạn chế, bất cập

Bên cạnh những thành công như đã phân tích, thực tế cho thấy, chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo còn một số hạn chế, bất cập, không phù hợp với bối cảnh hiện nay[7]. Đặc biệt, việc thể chế hóa chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước còn chậm, chưa cụ thể, chưa phù hợp với sự thay đổi nhanh chóng của tình hình thực tiễn[8]. Cụ thể:

Thứ nhất, một số chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo không còn phù hợp với quan điểm của Đảng hiện nay.

Những năm gần đây, Đảng ban hành nhiều nghị quyết, trong đó, thể hiện rõ quan điểm đổi mới mạnh mẽ tư duy xây dựng pháp luật, phát triển kinh tế - xã hội như tập trung hoàn thiện hệ thống thể chế đồng bộ, thống nhất, khả thi, dễ tiếp cận, chi phí tuân thủ thấp…, trong mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Việc đổi mới tư duy xây dựng pháp luật phải theo hướng vừa bảo đảm yêu cầu quản lý, vừa khuyến khích đổi mới sáng tạo, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực để phát triển, dứt khoát từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm”; các quy định của luật phải mang tính ổn định, có giá trị lâu dài, dễ tuân thủ, chi phí thấp, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; các vấn đề thực tiễn, biến động thì giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, địa phương quy định[9].

Chính vì vậy, nhiều quy định của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định cụ thể, chi tiết về trình tự, thủ tục thực hiện không còn phù hợp với bối cảnh hiện nay, như: Điều 12 quy định về đăng ký hoạt động tín ngưỡng; Điều 13 quy định về tổ chức lễ hội tín ngưỡng định kỳ; Điều 14 quy định về tổ chức lễ hội tín ngưỡng lần đầu, lễ hội tín ngưỡng được khôi phục hoặc lễ hội tín ngưỡng định kỳ nhưng có thay đổi; Điều 17 quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung; Điều 19 quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo; Điều 22 quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền công nhận tổ chức tôn giáo,…

Thứ hai, chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo không phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW[10], Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật về sắp xếp, tổ chức lại bộ máy hành chính nhà nước trong toàn hệ thống chính trị[11]. Từ ngày 01/7/2025, Việt Nam chính thức vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã), dẫn đến nhiều nhiệm vụ do chính quyền cấp huyện thực hiện phải chuyển giao cho chính quyền cấp tỉnh hoặc chính quyền cấp xã thực hiện. Trong khi đó, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 được xây dựng trên cơ sở mô hình tổ chức chính quyền địa phương ba cấp, trong đó, nhiều nhiệm vụ quản lý lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo được giao cho cấp huyện thực hiện không còn phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Thứ ba, chính sách, pháp luật về tôn giáo không phù hợp với tình hình thực tế về phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số.

Ứng dụng khoa học công nghệ, thực hiện chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm, xuất phát từ nhu cầu thực tế, là giải pháp quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, đưa đất nước phát triển trở thành quốc gia giàu mạnh, hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu. Cho nên, Việt Nam xác định và ban hành nhiều chủ trương, định hướng để đẩy mạnh phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số như xây dựng chính quyền số, xã hội số, công dân số[12],… trong mọi hoạt động, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, để cải cách tổ chức bộ máy của các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong hệ thống chính trị;… Đồng thời, Việt Nam cũng xác định đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới toàn diện việc giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công không phụ thuộc địa giới hành chính; nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ số cho người dân và doanh nghiệp[13]. Trong khi đó, chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo hiện không quy định về vấn đề này, gây khó khăn cho cá nhân, tổ chức ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ số trong thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo cũng như gây khó khăn cho cơ quan nhà nước trong thực hiện quản lý hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên môi trường số.

Thứ tư, pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo chưa quy định về nhiều nội dung, đồng thời, nhiều quy định chưa cụ thể, chưa rõ ràng gây khó khăn cho việc áp dụng, thực hiện trên thực tế.

Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 chưa quy định về một số vấn đề như: (i) về thời hạn hoạt động của người đại diện, thành viên ban quản lý cơ sở tín ngưỡng,… gây khó khăn cho người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng cũng như trong công tác quản lý nhà nước; (ii) về đăng ký hoạt động tín ngưỡng tại các cơ sở tư gia, các cơ sở do doanh nghiệp đầu tư xây dựng có hoạt động tín ngưỡng, trong khi đó trên phạm vi toàn quốc có khoảng 8.702 cơ sở tư gia[14]; (iii) về điều kiện để được đăng ký đối với nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam; về thu hồi văn bản chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung trong trường hợp nhóm sinh hoạt tôn giáo vi phạm pháp luật hoặc tự giải tán; về người đại diện trong trường hợp thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc; thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo; về thu hồi văn bản chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo trong trường hợp tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; (iv) về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng cũng như giải thích về “hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng” trong khi hoạt động này phổ biến và trở thành xu thế, phương thức hoạt động chính của nhiều tôn giáo; vi phạm chưa được phát hiện kịp thời và xử lý hiệu quả, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống tín ngưỡng, tôn giáo lành mạnh của cộng đồng và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo….

Đồng thời, một số quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo chưa cụ thể, chưa rõ ràng gây khó khăn cho việc áp dụng, thực hiện trên thực tế như quy định tại Điều 2 của Luật về hoạt động tín ngưỡng, cơ sở tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo, cơ sở tôn giáo, chức việc,… dẫn đến cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất giữa các địa phương; việc xác định đăng ký hoạt động tín ngưỡng chỉ gắn với cơ sở tín ngưỡng là chưa phù hợp với thực tiễn đa dạng, phong phú về đời sống tín ngưỡng, hoạt động tín ngưỡng hiện nay trong phạm vi toàn quốc; khoản 3, khoản 4 Điều 6 Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 chưa quy định chủ thể là tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo; Điều 35 chưa quy định tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo thuyên chuyển chức việc; Điều 41 chưa quy định tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo,…

Thứ năm, một số quy định của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 chưa phù hợp với quy định trong một số văn bản pháp luật chuyên ngành. Chẳng hạn, việc xác định nguồn gốc sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2024 cho tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; việc công nhận, đăng ký pháp nhân thương mại đối với tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo Bộ luật Dân sự năm 2015; việc tu bổ, tôn tạo công trình xây dựng của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo Luật Xây dựng năm 2014, được sửa đổi, bổ sung các năm 2018, 2020, 2024, 2025 và Luật Di sản văn hóa năm 2024, được sửa đổi, bổ sung năm 2025[15]…

2. Định hướng hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 là nước đang phát triển, thu nhập trung bình cao, đến năm 2045 trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, lấy hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo của sự phát triển. Để đạt mục tiêu này, Việt Nam quyết liệt đổi mới tư duy xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế, thực hiện sắp xếp, tổ chức lại bộ máy hành chính, đẩy mạnh chuyển đổi số, tổ chức chính quyền địa phương hai cấp và thực hiện nhiều giải pháp nhằm giải quyết, tháo gỡ những “điểm nghẽn” do quy định của pháp luật gây ra để phát huy, huy động mọi nguồn lực vào phát triển kinh tế - xã hội, đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững,…Vì vậy, việc nghiên cứu, hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo là cấp thiết nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng của Nhân dân và yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.

Để thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng và giải quyết những hạn chế, bất cập của chính sách, pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo, việc hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo cần phải bảo đảm đáp ứng được các yêu cầu và theo định hướng sau:

Thứ nhất, phải phù hợp với quan điểm, chủ trương của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo; xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng, thi hành pháp luật và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong bối cảnh mới. Cụ thể:

- Về các chính sách tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng. Các chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo được thể hiện rất rõ, cụ thể trong các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, Nghị quyết số 25-NQ/TW, Chỉ thị số 18-CT/TW, Nghị quyết số 24-NQ/TW, Kết luận số 65-KL/TW, Nghị quyết số 43-NQ/TW[16]. Theo các văn kiện, nghị quyết này, Đảng có nhiều nhiều chủ trương, chính sách phát triển tôn giáo như bảo đảm các tổ chức tôn giáo hoạt động bình đẳng theo quy định của pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận; vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ sống tốt đời đẹp đạo; tôn trọng, khuyến kích phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng, hoàn thiện pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật trong bối cảnh mới. Các quan điểm của Đảng về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đổi mới tư duy xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật trong bối cảnh mới được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 27-NQ/TW[17] , Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW, Kết luận số 119-KL/TW, Thông báo số 108-TB/VPTW[18], Kết luận số 09 - KL/TW[19]. Theo đó, Đảng xác định, các quy định của luật phải mang tính ổn định, đơn giản, dễ thực hiện, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; phát huy đúng mức vai trò của đạo đức xã hội, quy tắc tự quản cộng đồng trong điều chỉnh các quan hệ xã hội[20]; luật chỉ quy định những vấn đề khung, những vấn đề có tính nguyên tắc thuộc thẩm quyền của Quốc hội, còn những vấn đề thực tiễn thường xuyên biến động thì giao Chính phủ, bộ, ngành, địa phương quy định để bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với hoạt động thực tiễn[21]; không luật hóa các nội dung thuộc phạm vi điều chỉnh của văn bản dưới luật; cơ bản không quy định thủ tục hành chính, trình tự, hồ sơ trong luật mà giao Chính phủ, các bộ quy định theo thẩm quyền nhưng không được đặt thêm thủ tục hành chính, phát sinh thêm giấy phép con so với hiện hành[22].

- Về phát triển kinh tế - xã hội. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, Nghị quyết số 80-NQ/TW[23] tiếp tục khẳng định đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tôn giáo được xem là nguồn lực văn hóa, góp phần thúc đẩy phát triển đất nước. Đảng xác định các giá trị văn hóa, di sản, đạo đức tôn giáo là một thành tố trong hệ giá trị văn hóa Việt Nam; gắn văn hóa, tôn giáo với phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ bản sắc dân tộc, hội nhập quốc tế để nâng cao sức mạnh quốc gia; khuyến khích, tạo điều kiện phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và nguồn lực của các tôn giáo đóng góp vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Chính vì vậy, việc hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phải bảo đảm thể chế hóa được đầy đủ các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo; gắn tín ngưỡng, tôn giáo với phát triển văn hóa, kinh tế - xã hội; xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng, hoàn thiện pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật trong bối cảnh mới. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo sửa đổi chỉ quy định những vấn đề khung, những vấn đề mang tính nguyên tắc như nguyên tắc tổ chức, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; quyền nghĩa vụ của công dân, của tổ chức trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo,…; những vấn đề biến động thường xuyên như trình tự, thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo,… thì giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nội vụ và địa phương quy định để bảo đảm linh hoạt trong điều hành.

Thứ hai, phải phù hợp với sự phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đơn giản hóa, cắt giảm thủ tục hành chính.

Việt Nam xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh, phát triển kinh tế - xã hội, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới và đây là cuộc cách mạng sâu sắc, toàn tiện trên tất cả các lĩnh vực[24] , trong đó có lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời, Việt Nam cũng xác định cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần xây dựng Chính phủ số, hướng tới phát triển một nền quản trị số hiện đại, minh bạch, hiệu quả, gắn với việc bảo đảm an toàn thông tin và quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân của các chủ thể khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo.

Đặc biệt, Việt Nam xác định phải đơn giản hóa thủ tục hành chính, cắt bỏ các thủ tục không cần thiết, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp; áp dụng hiệu quả dịch vụ công trực tuyến; xây dựng nền kinh tế số, chính phủ số, xã hội số[25]. Việc đẩy mạnh cải cách hành chính; đổi mới toàn diện việc giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công không phụ thuộc địa giới hành chính góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ số, cắt giảm chi phí tuân thủ, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng, hiêu quả quản lý nhà nước[26]. Đây là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt nhằm xây dựng nền hành chính kiến tạo, phục vụ, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.

Chính vì vậy, việc hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phải bảo đảm đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, đơn giản, cắt giảm thủ tục hành chính không cần thiết trong kỷ nguyên mới của đất nước. Việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính cần thực hiện theo hướng kế thừa các thủ tục hành chính theo quy định của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và không làm phát sinh thủ tục hành chính mới, đồng thời, rà soát, cắt bỏ các quy định có liên quan đến cắt giảm thành phần hồ sơ không cần thiết; bỏ các quy định về thành phần hồ sơ, thời hạn thực hiện các thủ tục trong Luật để giao Chính phủ quy định chi tiết phù hợp với Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 và bối cảnh phát triển đất nước hiện nay.

Thứ ba, phải phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp.

Từ ngày 01/7/2025, Việt Nam chính thức vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, trong khi đó Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 được xây dựng trên mô hình chính quyền địa phương ba cấp, vì thế, nhiều chính sách, pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo hiện không phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Vì vậy, cần hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo để phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đồng thời, các chính sách, pháp luật này cần đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phân định rõ thẩm quyền giữa cấp tỉnh với cấp xã, thẩm quyền chung của Ủy ban nhân dân (UBND) với thẩm quyền riêng của Chủ tịch UBND các cấp trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo theo tinh thần các nghị quyết của trung ương và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp trong thực tế hiện nay.

Thứ tư, phải bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân và phù hợp với pháp luật quốc tế. Cụ thể:

- Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Kể từ khi giành chính quyền đến nay, Việt Nam luôn nhất quán quan điểm tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Vì thế, trong nhiều văn kiện, nghị quyết của Đảng đã quy định Việt Nam tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân[27], trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đảng xác định mục tiêu hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân[28]. Công tác xây dựng pháp luật phải dứt khoát từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm”; phát huy dân chủ, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân; bảo đảm sự cân đối, hợp lý giữa mức độ hạn chế quyền với lợi ích chính đáng đạt được[29].

Đặc biệt, Điều 24 Hiến pháp năm 2013 quy định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền con người. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật. Đồng thời, Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định các quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật; các quyền này chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Trong khi đó, quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, của công dân được quy định trong Công ước ICCPR, Tuyên ngôn UDHR mà Việt Nam là thành viên[30].

- Phù hợp với pháp luật quốc tế, thông lệ, hội nhập quốc tế. Việt Nam xác định tiếp tục hội nhập quốc tế toàn diện, sâu, rộng, thực chất, hiệu quả; thực hiện đầy đủ, hiệu quả các cam kết, điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia[31]. Có thể khẳng định, hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu, nhu cầu nội tại và chủ trương nhất quán của Việt Nam, là quá trình chủ động, toàn diện trong việc hợp tác, tham gia các tổ chức và cam kết quốc tế, nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi ích quốc gia, dân tộc, phát triển kinh tế và tăng cường an ninh[32]. Đây là chủ trương nhất quán, được nâng cao qua từng giai đoạn, trở thành động lực quan trọng cho phát triển đất nước. Vì thế, để hội nhập quốc tế, hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng phải tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đồng thời, phải hài hòa, phù hợp với pháp luật quốc tế, với xu hướng phát triển của pháp luật các quốc gia trên thế giới để có thể điều chỉnh, giải quyết được các vấn đề quốc tế phát sinh.

Vì vậy, việc hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phải bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân và tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên, đồng thời, phải hài hòa, phù hợp với pháp luật quốc tế.

Thứ năm, phải kế thừa những thành công, kết quả mà chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đã đạt được và khắc phục, giải quyết được những bất cập, khó khăn, vướng mắc phát sinh liên quan đến việc thực hiện triển khai Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 trên thực tế.

Chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo cần bổ sung những nội dung, vấn đề phát sinh trên thực tế mà chưa được quy định trong Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 như quy định về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, về hoạt động của người đại diện, thành viên ban quản lý cơ sở tín ngưỡng, về đăng ký hoạt động tín ngưỡng tại các cơ sở tư gia,... Đồng thời, cần quy định cụ thể, làm rõ các nội dung, vấn đề mà Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định chưa cụ thể, thiếu rõ ràng gây khó khăn cho việc thực hiện trên thực tế như đã phân tích ở trên.

Thứ sáu, phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, khả thi, đơn giản, dễ áp dụng, chi phí tuân thủ thấp.

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là luật chuyên ngành, chuyên sâu về lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác như đất đai, xây dựng, giáo dục, y tế, văn hóa xã hội, bảo tồn di sản,... Vì thế, các chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phải khắc phục được những mâu thuẫn, chồng chéo và bảo đảm tính liên thông, thống nhất, đồng bộ với các luật chuyên ngành khác để tạo thành một hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất. Đồng thời, chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phải bảo đảm tính khả thi, phù hợp với thực tiễn, điều chỉnh được các vấn đề phát sinh trên thực tế, đơn giản, dễ hiểu, dễ áp dụng, chi phí tuân thủ thấp, không đẩy khó khăn cho người dân, doanh nghiệp.

Kết luận

Kể từ thời điểm Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 được thông qua, có hiệu lực thi hành, chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đã đạt được những kết quả tích cực nhưng cũng phát sinh hạn chế, bất cập làm ảnh hưởng đến hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức cũng như hoạt động quản lý nhà nước. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, trong đó chủ yếu là do chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo chưa quy định hoặc quy định chưa cụ thể, rõ ràng hoặc không phù với thực tiễn. Vì vậy, việc nghiên cứu, hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo là cần thiết nhằm thể chế hóa các quan điểm, chủ trương mới của Đảng và Nhà nước; giải quyết những khó khăn, vướng mắc, bất cập phát sinh trên thực tế từ thực tiễn thi hành Luật tín ngưỡng tôn giáo năm 2016 đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

TS. Trương Thế Côn

Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp

Ảnh: Internet

[1]. Khoản 2 Điều 29 Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 quy định: “Khi hưởng thụ các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ phải tuân thủ những hạn chế do luật định, nhằm mục đích bảo đảm sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác, cũng như nhằm đáp ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.

[2]. Khoản 3 Điều 18 Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 quy định: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”.

[3]. Nghị định số 162/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 và Nghị định số 95/2023/NĐ-CP ngày 29/12/2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo.

[4]. Theo Báo cáo của Ban Chỉ đạo Trung ương triển khai Đề án về những vấn đề phát sinh phức tạp trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo thời gian qua (số liệu tính đến tháng 6/2024).

[5]. Báo cáo số 3257/BC-BDTTG ngày 31/12/2025 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo tổng kết việc thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo.

[6]. Pháp luật và thực tiễn về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, https://sonoivu.tuyenquang.gov.vn/vi/tin-bai/phap-luat-va-thuc-tien-ve-bao-dam-quyen-tu-do-tin-nguong-ton-giao-o-viet-nam?type=NEWS&id=127165, truy cập ngày 10/3/2026.

[7]. Báo cáo số 3257/BC-BDTTG ngày 31/12/2025 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo tổng kết việc thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo.

[8]. Lê Văn Lộc, Hoàn thiện chính sách tôn giáo trong giai đoạn hiện nay, https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/06/20/hoan-thien-chinh-sach-ton-giao-trong-giai-doan-hien-nay/, truy cập ngày 10/3/2026.

[9]. Kết luận số 119-KL/TW ngày 20/01/2025 của Bộ Chính trị về định hướng đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật (Kết luận số 119-KL/TW).

[10]. Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

[11]. Như Kết luận số 155-KL/TW ngày 17/5/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về một số nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung thực hiện về sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính từ nay đến ngày 30/6/2025; Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19/02/2025 của Quốc hội quy định về việc xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước. Đặc biệt, ngày 16/6/2025, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 203/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.

[12]. Như Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết 52-NQ/TW về ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết số 57-NQ/TW)…

[13]. Nghị quyết số 24/NQ-CP ngày 10/02/2026 của Chính phủ về chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi).

[14]. Theo thống kê của “Đề án nghiên cứu, điều tra thực trạng cơ sở tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay”.

[15]. Báo cáo số 3257/BC-BDTTG ngày 31/12/2025 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo tổng kết việc thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo.

[16]. Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới.

[17]. Nghị quyết số 27 - NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW).

[18]. Thông báo số 108-TB/VPTW ngày 18/11/2024 kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Cán sự đảng Bộ Tư pháp.

[19]. Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

[20]. Nghị quyết số 66-NQ/TW

[21]. Kết luận số 119-KL/TW.

[22]. Nghị quyết số 66-NQ/TW.

[23]. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

[24]. Nghị quyết số 57-NQ/TW.

[25]. Nghị quyết số 27-NQ/TW; Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV.

[26]. Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

[27]. Như Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW.

[28]. Xem Nghị quyết số 27-NQ/TW; Nghị quyết số 66-NQ/TW.

[29]. Xem Nghị quyết số 66-NQ/TW.

[30]. Điều 18 Công ước ICCPR quy định mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo, kể cả tự do thay đổi tín ngưỡng hoặc tôn giáo của mình và tự do bày tỏ tín ngưỡng hay tôn giáo của mình bằng các hình thức như truyền giảng, thực hành, thờ cúng và tuân thủ các nghi lễ, dưới hình thức cá nhân hay tập thể, tại nơi công cộng hoặc nơi riêng tư.

[31]. Nghị quyết số 27-NQ/TW.

[32]. Nghị quyết số 59-NQ/TW.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. ThS. Nguyễn Xuân Trung, Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp Việt Nam, https://noichinh.vn/ho-so-tu-lieu/201401/quyen-tu-do-tin-nguong-ton-giao-trong-hien-phap-viet-nam-293755/#:~:text=h%C6%A1n:%20%E2%80%9CM%E1%BB%8Di%20ng%C6%B0%E1%BB%9Di%20%C4%91%E1%BB%81u%20c%C3%B3,n%C6%A1i%20c%C3%B4ng%20 c%E1%BB%99ng%20ho%E1%BA%B7c%20 n%C6%A1i, truy cập ngày 10/3/2026.

2. ThS. Nguyễn Trường Anh, Hoàn thiện pháp luật về hoạt động xã hội, từ thiện của các tôn giáo Việt Nam trong tình hình hiện nay, https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/02/06/hoan-thien-phap-luat-ve-hoat-dong-xa-hoi-tu-thien-cua-cac-ton-giao-viet-nam-trong-tinh-hinh-hien-nay/, truy cập ngày 20/3/3026.

3. Vũ Hoài Bắc, Sự cần thiết và những nội dung dự kiến cần xây dựng trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo sửa đổi, https://dangcongsan.vn/uybandantoc/tin-tuc-hoat-dong/su-can-thiet-va-nhung-noi-dung-du-kien-can-xay-dung-trong-luat-tin-nguong-ton-giao-sua-doi.html, truy cập ngày 10/3/2026.

4. TS. Phan Thị Mỹ Bình, Hoàn thiện quy định pháp luật về đất đai liên quan đến cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, https://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=791, truy cập ngày 10/3/2026.

5. TS. Nguyễn Thị Định, Xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) nhằm bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, http://www.cema.gov.vn/uy-ban-dan-toc-voi-dia-phuong/xay-dung-luat-tin-nguong-ton-giao-sua-doi-nham-bao-dam-tot-hon-quyen-tu-do-tin-nguong-ton-giao.htm, truy cập ngày 10/03/2026.

6. Lê Văn Lộc, Hoàn thiện chính sách tôn giáo trong giai đoạn hiện nay, https://www.quanlynhanuoc.vn/2023/06/20/hoan-thien-chinh-sach-ton-giao-trong-giai-doan-hien-nay/, truy cập ngày 10/3/2026.

7. Pháp luật và thực tiễn về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam https://sonoivu.tuyenquang.gov.vn/vi/tin-bai/phap-luat-va-thuc-tien-ve-bao-dam-quyen-tu-do-tin-nguong-ton-giao-o-viet-nam?type=NEWS&id=127165, truy cập ngày 10/3/2026.

(Nguồn: “Hoàn thiện chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”, xuất bản năm 2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, việc phát triển kinh tế tư nhân đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện, phù hợp với định hướng tại Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Sau gần 10 năm thi hành Luật Đấu giá tài sản năm 2016, sửa đổi, bổ sung năm 2024 (Luật Đấu giá tài sản năm 2016) cho thấy một số quy định về đấu giá tài sản tự nguyện không phù hợp với thực tế, vì vậy, việc nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân là cấp thiết. Nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện ở Việt Nam, tham khảo pháp luật một số quốc gia về đấu giá tự nguyện, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Tóm tắt: Hoạt động đấu giá tài sản ngày càng được mở rộng về quy mô, giá trị và phương thức tổ chức, đặt ra yêu cầu kiểm soát năng lực thực sự của người tham gia đấu giá. Luật Đấu giá tài sản năm 2016 chưa thiết lập cơ chế thống nhất để xác minh năng lực tài chính, nguồn vốn, khả năng thực hiện nghĩa vụ và lịch sử tuân thủ của người tham gia đấu giá. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và tìm hiểu thực tiễn, nghiên cứu luận giải sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản xuất phát từ quan điểm, chủ trương của Đảng và hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật hiện hành. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản nhằm bảo đảm tính minh bạch, cạnh tranh, thực chất và hiệu quả của hoạt động đấu giá.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trách nhiệm pháp lý của đấu giá viên có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm tính hợp pháp, công khai, minh bạch và khách quan trong hoạt động đấu giá tài sản. Sự phát triển của thị trường dịch vụ đấu giá và phương thức đấu giá trực tuyến đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của đấu giá viên. Trên cơ sở phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và các quy định của dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi)** (dự thảo Luật), nghiên cứu làm rõ những nội dung được kế thừa, sửa đổi, bổ sung và ý nghĩa pháp lý của các quy định về trách nhiệm nghề nghiệp, xử lý tình huống tại phiên đấu giá, đấu giá trực tuyến, bồi thường thiệt hại và giải quyết hậu quả hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo đảm tổ chức thi hành hiệu quả, góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp, minh bạch và trách nhiệm của đấu giá viên trong hoạt động đấu giá tài sản.
Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đặt ra những yêu cầu mới đối với việc đào tạo, tập sự và tham dự kỳ thi quốc gia về luật sư để cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Việc hoàn thiện mô hình đào tạo nghề luật sư không chỉ là vấn đề đổi mới chương trình hay phương pháp giảng dạy, mà còn liên quan trực tiếp đến cơ chế quản lý, phân định trách nhiệm và bảo đảm chất lượng đội ngũ luật sư. Về vấn đề này, phóng viên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc trao đổi với Nhà giáo ưu tú, PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp về mô hình đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam trong kỷ nguyên mới và vấn đề hoàn thiện dự thảo Luật.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đề xuất cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền trong giải quyết một số công việc; đồng thời bước đầu lồng ghép các yếu tố khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hoạt động hành nghề luật sư và quản lý nhà nước về luật sư, hành nghề luật sư. Những định hướng này nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ pháp lý, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với nghề luật sư.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) do Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng quy định các nội dung liên quan đến luật sư, tổ chức và hoạt động hành nghề của luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư, trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư... Theo TS. Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp (đơn vị có chức năng đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp, trong đó có luật sư), những thay đổi về vấn đề này cần được xem xét không chỉ ở yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư mà còn ở việc phân định rõ quyền, trách nhiệm và cơ chế bảo đảm thực hiện, qua đó đáp ứng yêu cầu phát triển dịch vụ pháp lý trong bối cảnh mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Tóm tắt: Tiêu chuẩn luật sư đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm và nâng cao chất lượng hoạt động nghề luật sư. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện tiêu chuẩn luật sư: (i) Luật hóa tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị vững vàng gắn với chế định bồi dưỡng nhận thức chính trị hằng năm; (ii) mở rộng tiêu chuẩn chuyên môn cho phép người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật (không có bằng cử nhân luật) được tham gia hành nghề luật sư nhưng gắn với cơ chế kiểm soát chất lượng. Trên cơ sở lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh nghiệm quốc tế (mô hình Juris Doctor) và thực tiễn 20 năm thi hành Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), nghiên cứu cho thấy, những sửa đổi này có căn cứ khoa học, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Việc kết hợp giữa siết chặt kỷ cương quản lý nhà nước với tiếp cận năng lực liên ngành, thực chất, vừa tạo "màng lọc" phòng ngừa suy thoái đạo đức hành nghề, vừa tạo đột phá thể chế thu hút nhân tài chất lượng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của đội ngũ luật sư Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển mới.
Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Tóm tắt: Nghề luật sư có tính truyền thống, lâu đời tại nhiều quốc gia. Mô hình truyền thống của tổ chức hành nghề luật sư mang tính đối nhân giữa các luật sư, như văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh. Cùng với sự phát triển của thị trường và yêu cầu đa dạng hóa dịch vụ pháp lý, mô hình tổ chức đối nhân đã từng bước chuyển hóa thành mô hình đối vốn, như công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn, công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Mô hình tổ chức hành nghề mang tính đối vốn kể từ Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức hành nghề luật sư và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các tổ chức này. Hiện, thị trường dịch vụ pháp lý trên thế giới chịu tác động đáng kể từ yêu cầu của thị trường và sự phát triển của công nghệ. Trước bối cảnh đó, một số quốc gia đã cho phép thành viên góp vốn không phải luật sư có thể tham gia vào hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, qua đó, bổ sung nguồn lực tài chính, công nghệ và năng lực quản trị, tạo điều kiện cho các tổ chức này phát triển. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cần hoàn thiện pháp luật về luật sư để bổ sung quy định về thành viên góp vốn tại tổ chức hành nghề luật sư, góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức này trên thị trường trong nước và quốc tế.
Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Đổi mới quy trình trở thành luật sư là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn mới, nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; xây dựng đội ngũ luật sư Việt Nam trong sạch, vững mạnh và đạt chuẩn quốc tế. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để luận giải về sự cần thiết phải đổi mới quy trình trở thành luật sư; đồng thời, đưa ra một số giải pháp và đánh giá hiệu quả các giải pháp đổi mới quy trình trở thành luật sư, chế định luật sư tập sự và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu lực thi hành.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Tổ chức xã hội - nghề nghiệp là một trong những chủ thể đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, hoạt động luật sư ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới. Trên cơ sở phân tích lý luận về sự chuyển dịch tư duy từ “vai trò tự quản” sang “trách nhiệm tự quản” và đánh giá thực trạng công tác tự quản trên thực tế trong Báo cáo số 422/BC-BTP, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện thể chế về trách nhiệm tự quản và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư trong dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật). Các giải pháp tập trung vào việc tái cấu trúc các nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức tự quản; xây dựng cơ chế giải quyết quan hệ nội bộ gắn với quyền khởi kiện tại Tòa án; bảo đảm nguồn lực hỗ trợ từ Nhà nước và mở rộng tính đại diện của tổ chức tự quản. Đặc biệt, đổi mới tổ chức thực hiện nhằm hạn chế tình trạng “hành chính hóa”, nâng cao năng lực tự quản và hiệu quả thực hiện trách nhiệm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong tình hình mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Pháp luật về luật sư có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật về bổ trợ tư pháp, góp phần bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; đồng thời, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Sau gần 20 năm thi hành, Luật Luật sư năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho sự phát triển của đội ngũ luật sư, nghề luật sư và hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới, gắn với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của thị trường dịch vụ pháp lý, một số quy định hiện hành bộc lộ hạn chế, bất cập, không còn phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trên cơ sở phân tích, đánh giá cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về luật sư; nhận diện những vấn đề đặt ra từ thực tiễn thi hành, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch, hiện đại và khả thi; bảo đảm hài hòa giữa quyền hành nghề, trách nhiệm nghề nghiệp và yêu cầu quản lý nhà nước, đồng thời, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý, phù hợp với hội nhập và thông lệ quốc tế của hoạt động luật sư Việt Nam.
Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng hồ sơ dự án Luật Luật sư (sửa đổi), hướng tới hoàn thiện thể chế pháp lý về luật sư và hành nghề luật sư bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trong quá trình hoàn thiện Luật, một trong những yêu cầu được đặt ra là nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trên cơ sở kết hợp giữa quản lý nhà nước và chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.
Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Chủ trương xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy trách nhiệm tự quản nghề nghiệp của luật sư. Bên cạnh đó, trong bối cảnh nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, mô hình quản lý nhà nước và tự quản về luật sư cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Về vấn đề này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc phỏng vấn Tiến sĩ, Luật sư Đào Ngọc Chuyền, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam về mô hình quản lý và tự quản về luật sư.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.

Theo dõi chúng tôi trên: