Thứ ba 03/03/2026 20:46
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đổi mới nhận thức về dân chủ đại diện và cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ đại diện ở Việt Nam hiện nay

Bài viết này sẽ bàn luận về dân chủ đại diện và cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ đại diện ở Việt Nam hiện nay, đồng thời, tác giả cũng thể hiện quan điểm của mình trước ý tưởng không tổ chức Hội đồng nhân dân tại một số đơn vị hành chính trong thời gian vừa qua.

1. Tư duy chính trị của Đảng và cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ đại diện ở Việt Nam

Dân chủ đại diện là chế độ được xây dựng và đề cao trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Quan điểm của Hồ Chí Minh về dân chủ đại diện thể hiện ở một số nội dung cơ bản như: (i) Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; (ii) Quyền lực của nhân dân phải được khẳng định bằng Hiến pháp và pháp luật; (iii) Quyền lực đó được thực hiện và được bảo đảm thông qua Nhà nước dân chủ.

Trung thành với tư tưởng dân chủ do Hồ Chí Minh khởi xướng, trong cương lĩnh, đường lối, chủ trương, chính sách của mình, Đảng ta luôn nhận thức rằng: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng và nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước. Trong quá trình đổi mới đất nước, các nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, XI, XII của Đảng ngày càng nhất quán khẳng định quan điểm về việc xây dựng chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa và đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân.

Đến nay, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII có những điểm mới về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hành quyền làm chủ của nhân dân. Trong tư duy lý luận của Đảng ta, vấn đề không dừng lại ở quan niệm về dân chủ xã hội chủ nghĩa, mà điều quan trọng hơn là tiếp tục thực hành, phát huy dân chủ, nghĩa là phải tạo được bước chuyển căn bản từ nhận thức đến hành động. Để đạt được mục tiêu xây dựng xã hội thực sự dân chủ, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII xác định rõ: Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân[1].

Dân chủ đại diện được Đảng ta nhận thức rõ ràng là hình thức dân chủ tiêu biểu và lâu dài nhất. Dân chủ đại diện là phương thức thực hiện quyền lực nhà nước cơ bản và phổ biến nhất của nhân dân, là hình thức thể hiện ý chí của chủ thể quyền lực gián tiếp qua các cơ quan đại diện theo phương thức “ủy quyền”. Chính vì vậy, bước phát triển mới trong nhận thức của Đảng ta về dân chủ là đặt dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện là hai hình thức cơ bản để người chủ của quyền lực nhà nước thực hiện quyền lực của mình. Từ quan niệm chế độ ta là chế độ dân chủ và từ góc nhìn của chế độ chính trị, chế độ xã hội, Đảng ta mở rộng quan niệm về dân chủ đại diện, thừa nhận tính chất đại diện của Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội và toàn bộ bộ máy nhà nước do nhân dân trực tiếp hay gián tiếp ủy quyền. Nhìn từ góc độ tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, dân chủ đại diện được thực hiện thông qua các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước do nhân dân ủy quyền. Các cơ quan nhà nước được nhân dân ủy quyền không chỉ là các cơ quan dân cử trực tiếp như Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp mà còn bao gồm cả các cơ quan trong hệ thống hành pháp và tư pháp do nhân dân gián tiếp ủy thác quyền lực. Các cơ quan này thay mặt nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước để điều hành, quản lý xã hội và chịu sự giám sát của nhân dân. Tuy nhiên, cơ quan nào do nhân dân trực tiếp ủy quyền thông qua bầu cử thì tính đại diện và tính quyền lực sẽ cao hơn. Theo đó, Đảng ta đặc biệt coi trọng vị thế của các thiết chế đại diện do nhân dân trực tiếp ủy quyền để thực hiện quyền lực nhân dân.

Hiến pháp, pháp luật là phương thức biểu thị rõ nét nhất tư duy chính trị và nhận thức khoa học của Đảng ta về dân chủ nói chung, dân chủ đại diện nói riêng. Qua các bản Hiến pháp, từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013, dân chủ đại diện luôn được đề cao thông qua việc ghi nhận vị trí, vai trò, thẩm quyền của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp gắn với tính chất là cơ quan đại diện và quyền lực nhà nước. Hiến pháp năm 2013 thể hiện rõ bước phát triển trong tư duy về dân chủ đại diện bằng việc ghi nhận tại Điều 6: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”, nhiều quy định khác về quyền bầu cử, ứng cử của công dân, về vị trí, chức năng, thẩm quyền của các cơ quan trong bộ máy nhà nước... đặc biệt là các quy định về tính chất, vị trí, chức năng, thẩm quyền, hình thức và phương pháp hoạt động trong thực hiện nhiệm vụ đại diện của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.

Phát triển tư duy chính trị về dân chủ đại diện luôn đi đôi với nhận thức của Đảng ta về cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ đại diện. Dân chủ đại diện còn phải được ghi nhận các quyền cụ thể của cử tri, địa vị pháp lý của các thiết chế thực hiện nhiệm vụ đại diện, các nguyên tắc và các điều kiện đảm bảo thực hiện dân chủ đại diện. Để có dân chủ đại diện, cũng cần phải có biện pháp để biến các quy định của Hiến pháp và pháp luật thành hiện thực. Điều này lại liên quan đến vai trò lãnh đạo của Đảng, tính tích cực chính trị của công dân, hành động cụ thể trong thực hiện nhiệm vụ đại diện của đại biểu và cơ quan đại diện, khả năng thực tế để nhân dân giám sát và hủy bỏ ủy quyền đại diện đối với các thiết chế đại diện... Đây cũng là những vấn đề ngày càng được nhận diện rõ trong các văn kiện chính trị và hệ thống pháp luật thể chế hóa nhận thức, tư duy của Đảng ta về dân chủ đại diện trong thời gian gần đây.

2. Tiếp tục đổi mới nhận thức và phát triển lý luận về cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ đại diện ở Việt Nam hiện nay

Trước hết, cần phải nhận thức được “dân chủ” theo nghĩa chủ động. Dân chủ trong tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước phải là dân chủ chủ động, là quyền của nhân dân, quyền của công dân. Dân chủ không chỉ là sự tham gia, đóng góp trí tuệ tập thể, các nguồn lực của nhân dân vào vận hành của bộ máy nhà nước, mà còn phải xem đây là phương thức tránh các sai lầm của người lãnh đạo, của Nhà nước. Dân chủ là yêu cầu nội tại của mỗi quốc gia và là xu hướng có tính chất toàn cầu. Nền dân chủ càng phát triển cao thì các quyền tự dân chủ của công dân càng được mở rộng và thực chất.

Đối với nước ta, trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, đời sống vật chất của người dân đã được nâng cao hơn. Trong tính quy luật, những thành tựu đạt được trong lĩnh vực kinh tế sẽ đòi hỏi tương ứng nhu cầu cao hơn về dân chủ, về quyền chính trị của công dân. Đó không chỉ là nhu cầu của người dân mà còn là cách để củng cố, bảo đảm duy trì và phát triển các thành quả về kinh tế.

Nhận thức về dân chủ gắn với nhận thức về tiêu chí phân chia các hình thức dân chủ. Nói dân chủ đại diện, người ta nhắc đến hình thức mà người dân ủy quyền cho những người đại diện cho mình quyết định các công việc nhà nước trong phạm vi xác định. Việc nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua các cơ quan đại diện do nhân dân bầu ra có nghĩa rằng, các cơ quan đại diện chỉ là “người đại diện” mà không phải là chủ thể của quyền lực, chủ thể đó là nhân dân. Ở đây có sự ủy quyền thực thi quyền lực mà không phải là trao quyền. Dân chủ đại diện thường gắn liền với các cơ quan hoạt động tập thể nghị viện (hoặc tên gọi khác), hội đồng địa phương. Còn khi nói đến dân chủ trực tiếp, người ta nói đến việc quyết định các công việc nhà nước do công dân trực tiếp thực hiện không thông qua khâu trung gian. Trong đó, bầu cử là tiền đề pháp lý cho sự ra đời, tồn tại và hoạt động của các thiết chế dân chủ đại diện: Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Bầu cử là hình thức dân chủ trực tiếp, là công cụ của nhân dân để trao quyền, ủy quyền, thành lập nên bộ máy nhà nước, xác lập tính hợp pháp của quyền lực nhà nước, tạo sự chính đáng cho quyền lực chính trị của đảng cầm quyền theo ý chí của nhân dân.

Về vấn đề này, có thể sẽ xuất hiện câu hỏi lớn: Giữa dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, có những hình thức thể hiện quyền của người dân nhưng sẽ xếp vào đâu nếu chỉ theo tiêu chí nói trên? Các hình thức đó như: Khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản biện xã hội, tư vấn xã hội, giám sát trực tiếp của người dân. Các hình thức này tự nó không có vai trò quyết định trong việc ra quyết định hoặc thực hiện các hành động, hành vi nào của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền. Vậy nên chăng, trong nhận thức lý luận cần xem nó như một yếu tố của công đoạn, hay quy trình không thể thiếu trong các trường hợp nhất định để chính quyền quyết định về vấn đề nào đó. Về cơ bản, đây là các hình thức đứng trung gian để thực hiện quyền của người dân, vừa mang yếu tố của dân chủ trực tiếp (xét về tính chất và mục tiêu), vừa mang yếu tố của dân chủ đại diện (xét về kỹ thuật thực hiện). Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng, khi người dân, qua việc bầu cử, bầu ra người đại diện của mình để thay mặt mình, thực hiện quyền lực mà nhân dân ủy thác, thì việc bầu cử ở đây chính là một phương thức để tạo lập nên nền dân chủ đại diện, một công đoạn của dân chủ đại diện...

Nhìn từ phương diện này, nhận thức về cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ đại diện cũng cần được chuẩn hóa. Có thể không nhất thiết phải đưa ra khái niệm dưới dạng một định nghĩa. Cũng có thể không nhất thiết phải đạt được sự thống nhất cao về cấu trúc của các thành tố tạo thành cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ đại diện. Tuy nhiên, nhất thiết phải đạt được sự thừa nhận chung về tính nền tảng pháp luật của cơ chế, tính kết nối giữa các thành tố căn bản của cơ chế và tính vận động của cơ chế với mục tiêu hướng tới bảo đảm quyền lực của nhân dân, bảo đảm nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua các cơ quan đại diện do nhân dân bầu ra, bảo đảm các cơ quan đại diện chỉ là “người đại diện” mà không phải là chủ thể của quyền lực.

Từ đó, cũng cần đổi mới nhận thức về tính đại diện của đại biểu. Về tính đại diện của đại biểu Quốc hội, hiện nay có ba quan niệm: (i) Đại diện đồng dạng, đại biểu đại diện theo các cơ cấu, thành phần xã hội; (ii) Đại diện theo khu vực địa lý, đại biểu đại diện cho dân cư theo đơn vị bầu cử; (iii) Đại diện chính trị, đại biểu đại diện cho các tư tưởng, đường lối, chính sách gắn với các đảng chính trị[2]. Mỗi phương thức đại diện có những ưu điểm, nhược điểm riêng nên nhiều quốc gia lựa chọn việc kết hợp đại diện theo khu vực địa lý và đại diện theo đảng chính trị. Ở nước ta, có sự kết hợp cơ chế đại diện theo cơ cấu, thành phần xã hội với đại diện theo khu vực địa lý, nhưng nghiêng nhiều về “đại diện đồng dạng”. Theo tác giả, quan niệm này đến nay đã không còn phù hợp. Trong điều kiện cụ thể ở nước ta, cần xác định đại diện theo khu vực địa lý (đơn vị bầu cử) làm tiêu chí căn bản, là trụ cột cho tính đại diện của đại biểu Quốc hội. Đây là cơ sở để đại biểu Quốc hội gắn bó chặt chẽ và có trách nhiệm với cử tri, nhất là cử tri ở đơn vị bầu cử. Đổi mới nhận thức theo hướng này hoàn toàn không loại bỏ một cách tuyệt đối quan niệm về đại diện như trước đây. Cơ cấu, thành phần trở thành tiêu chí bổ sung để bảo đảm tính đại diện hợp lý cho các nhóm yếu thế, đặc thù như phụ nữ, dân tộc, tôn giáo bằng các quy định cụ thể và bằng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, tiến cử, giới thiệu nhân sự ứng cử, khắc phục những điểm hạn chế của cơ chế đại diện theo tiêu chí dân số. Tư duy này cũng cần áp dụng đối với việc xác lập tính đại diện của đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, song hành với nhu cầu chuyển dần tư duy theo hướng thúc đẩy phân quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương, từng bước tạo lập cơ chế tự quản địa phương.

Gần đây, trên các phương tiện truyền thông và trong các hội thảo, hội nghị… thì vấn đề liên quan đến dân chủ đại diện lại tiếp tục được bàn thảo sôi nổi. Một trong số những vấn đề được nhiều người quan tâm liên quan đến ý tưởng về việc không tổ chức Hội đồng nhân dân tại một số đơn vị hành chính trong thời gian vừa qua. Có nhiều ý kiến trái chiều nhau về vấn đề này. Tuy nhiên, theo tác giả, nếu xuất phát từ những ưu điểm của chế định dân chủ đại diện và của các thiết chế tổ chức của nó như Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp (tính chính danh đặc trưng, khả năng tạo nên sự ổn định của Nhà nước, tính chặt chẽ, có hệ thống về chức năng, nhiệm vụ, tính chuyên nghiệp và tính chịu trách nhiệm giải trình…) thì hiện nay dân chủ đại diện là hình thức dân chủ chưa thể thay thế bằng hình thức nào khác. Về mặt lý luận, một cơ quan không đại diện cho nhân dân địa phương, không phụ thuộc vào nhân dân địa phương thì khó có thể trở thành thiết chế lý tưởng để phục vụ lợi ích cho người dân địa phương và đảm bảo quyền dân chủ, quyền tham gia của họ vào giải quyết các công việc ở địa phương. Mặc dù trên thực tế, hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp nhiều khi còn mang tính hình thức nhưng điều đó không phải là cơ sở để coi nhẹ vai trò, hình ảnh và địa vị pháp lý thực chất của cơ quan đại diện cho nhân dân địa phương[3]. Kinh nghiệm của các quốc gia khu vực châu Âu cũng đều khẳng định sự cần thiết hiện diện của thiết chế đại diện ở các đơn vị hành chính địa phương và hết sức chú ý củng cố vị trí thực quyền của các thiết chế dân chủ này[4].

TS. Trương Vĩnh Khang

Viện Nhà nước và Pháp luật





[1]. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 38.

[2]. Andrew Reynolds, Ben Reilly, Andrew Ellis (2005), Electoral System Design: The New International IDEA Handbook, International IDEA, pp. 9 - 10.

[3]. Về điểm này, tác giả chia sẻ ý kiến của TS. Đào Bảo Ngọc thể hiện trong luận án tiến sĩ luật học: “Quản trị địa phương ở các nước châu Âu: Anh, Pháp, Đức và sự tiếp thu kinh nghiệm cho Việt Nam”, Hà Nội, 2019.

[4]. Sau khi khẳng định về quyền tự quản địa phương, Hiến chương châu Âu quy định “quyền đó được thực hiện thông qua Hội đồng hay Hội nghị gồm những người được bầu ra theo nguyên tắc bầu cử tự do, bỏ phiếu kín, bình đẳng, trực tiếp và phổ thông…”; “quy tắc này không loại trừ sử dụng hội nghị, trưng cầu ý dân hoặc bất kỳ hình thức tham gia trực tiếp nào của công dân”.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: