Thứ ba 21/04/2026 23:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giá trị của các quy phạm tôn giáo trong việc điều chỉnh quan hệ xã hội ở Việt Nam

Trên cơ sở nghiên cứu về vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội của các quy phạm tôn giáo, tác giả bài viết đề xuất các giải pháp để khai thác và phát huy giá trị của quy phạm tôn giáo trong việc hỗ trợ Nhà nước quản lý hiệu quả đời sống xã hội trong giai đoạn hiện nay.

1. Quy phạm tôn giáo

“Tôn giáo” bắt nguồn từ thuật ngữ “religion” (tiếng Anh) và “religion” lại xuất phát từ thuật ngữ “legere” (tiếng Latinh) có nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên. Theo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin: “Bất cứ tôn giáo nào cũng đều chỉ là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc người ta những sức mạnh ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh mà trong đó những sức mạnh ở thế gian đã mang hình thức sức mạnh siêu thế gian”[1], tôn giáo là sản phẩm của con người, do con người sáng tạo ra và đến lượt nó lại quay trở lại thống trị con người về tinh thần. Theo Mác: “Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã lại để mất bản thân mình một lần nữa”[2], còn Lênin cho rằng: “Trong xã hội hiện đại hoàn toàn xây dựng trên sự bóc lột của một thiểu số không đáng kể dân cư, thuộc các giai cấp địa chủ và tư bản, đối với quảng đại quần chúng giai cấp công nhân”[3], thì “sự áp bức công nhân về mặt kinh tế nhất định gây nên và đẻ ra mọi hình thức áp bức chính trị đối với quần chúng, làm cho địa vị xã hội của quần chúng thấp kém đi, làm cho đời sống tinh thần và đạo đức của quần chúng mê muội và tối tăm”[4]. Chính “sự bất lực của giai cấp bị bóc lột trong cuộc đấu tranh chống bọn bóc lột tất nhiên đẻ ra lòng tin vào một cuộc đời tốt đẹp hơn ở thế giới bên kia, cũng giống y như sự bất lực của người dã man trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên đẻ ra lòng tin vào thần thánh, ma quỷ, vào những phép màu...”[5].

Theo khoản 5 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 của Việt Nam: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức”.

Từ khái niệm trên, có thể thấy, về bản chất, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội. Về mặt hình thức biểu hiện, mỗi tôn giáo bao gồm hệ thống các chuẩn mực (giáo lý), các quy định về kiêng cữ, cấm kỵ (giáo luật), các hình thức về thờ cúng, lễ bái (giáo lễ) và những cơ sở vật chất để thực hiện các nghi lễ tôn giáo (giáo đường - cơ sở thờ tự).

Một tôn giáo được thừa nhận là dòng tôn giáo thực sự khi nó có giáo chủ, giáo hội, giáo dân và giáo lý. Trong đó, giáo lý chính là những chuẩn mực tôn giáo. Đó là hệ thống các quy tắc, yêu cầu được xác lập dựa trên những tín điều, triết lý tôn giáo, những quy ước về lễ nghi, sinh hoạt tôn giáo, được ghi chép và thể hiện trong các bộ sách kinh điển của các dòng tôn giáo khác nhau.

Chuẩn mực tôn giáo là loại chuẩn mực xã hội thành văn. Tính chất thành văn của chuẩn mực tôn giáo thể hiện ở các giáo điều, giáo lý, những lời răn dạy được ghi chép trong các bộ kinh của các tôn giáo khác nhau, như Kinh Thánh (của Thiên Chúa giáo), Kinh Phật (của Phật giáo) hoặc Kinh Coran (của Hồi giáo). Ví dụ, giáo lý nhà Phật mặc định rằng một người quy y Phật phải tuân theo “ngũ giới” (năm điều cấm), bao gồm không sát sinh, không nói dối, không trộm cắp, không tà dâm và không uống rượu. “Ngũ giới” được ghi trong Kinh Phật, thể hiện tính chất thành văn của chuẩn mực tôn giáo.

Giá trị của các chuẩn mực tôn giáo bao gồm cả những tác động tích cực và những tác động tiêu cực tới nhận thức, hành vi của con người. Những tác động tích cực thể hiện ở chỗ, chuẩn mực tôn giáo đề cao tính thiện, phê phán tính ác, định hướng cho hành vi xã hội của con người. Một số chuẩn mực của Thiên Chúa giáo mang tính nhân văn sâu sắc: Đề cao tình yêu thương giữa con người với nhau, tôn trọng mọi giá trị của tín đồ, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, hướng các cá nhân tới điều thiện. Phật giáo khuyên con người sống “từ bi”, gần gũi cái thiện, tránh xa cái ác. Ngược lại, khi chuẩn mực tôn giáo bị hiểu và vận dụng một cách cực đoan, có thể gây ra những tác động tiêu cực, như dễ làm phát sinh nạn cuồng tín, tệ phân biệt chủng tộc, sự kì thị dân tộc; nó có thể “ru ngủ”, làm “tê liệt” ý chí của con người trước những bất công xã hội. Trong lịch sử xã hội, khía cạnh này của chuẩn mực tôn giáo thường được các giai cấp thống trị sử dụng như một thứ công cụ áp bức tinh thần, một phương tiện củng cố địa vị thống trị của họ.

Dưới góc độ khoa học xã hội, “điều chỉnh hành vi của con người” thường gắn thuật ngữ “quy phạm” với nghĩa là quy tắc xử sự. Theo đó, quy phạm tôn giáo là hệ thống các quy tắc, yêu cầu được xác lập dựa trên những tín điều, giáo lý tôn giáo, những quy ước về lễ nghi, sinh hoạt tôn giáo. Các quy phạm này được ghi chép và thể hiện trong các bộ sách kinh điển của các dòng tôn giáo khác nhau. Được truyền từ đời này qua đời khác, mang đến giá trị lịch sử, văn hóa.

Như vậy, quy phạm tôn giáo là bộ phận thuộc vào quy phạm xã hội, thể hiện các chuẩn mực, là các nguyên tắc cho thành viên của tôn giáo. Người đứng đầu dùng các quy phạm này để quản lý, giải quyết các công việc phát sinh của tổ chức. Đây là những quy tắc xử sự chung nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa con người với con người trong một phạm vi, cộng đồng nhất định (trong tôn giáo).

2. Mối quan hệ giữa quy phạm tôn giáo và quy phạm pháp luật trong điều chỉnh quan hệ xã hội

Pháp luật và tôn giáo có mối quan hệ qua lại và tác động lại và ảnh hưởng lẫn nhau, cùng với các loại quy phạm xã hội khác như phong tục quán, đạo đức..., chúng góp phần tạo nên sự ổn định và trật tự của xã hội. Pháp luật chỉ có hiệu lực thật sự khi người dân tiếp nhận và thi hành một cách tự giác. Yếu tố phong tục tập quán cùng với tín điều tôn giáo chính là điều kiện khách quan giúp cho pháp luật gần với đời sống của người dân. Vì vậy, khi xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật thì không thể bỏ qua các yếu tố tác động của quy phạm tôn giáo.

Từ trước đến nay tôn giáo luôn tồn tại khách quan. Bản thân pháp luật không tạo ra quy tắc tôn giáo. Tuy nhiên, quy phạm tôn giáo thay đổi hay mất đi do nhiều yếu tố khách quan tác động, trong đó có pháp luật. Pháp luật, với sức mạnh vốn có mà các quy phạm xã hội khác không có được đã tác động mạnh mẽ đến quy phạm tôn giáo. Với nội dung tiến bộ, pháp luật sẽ ảnh hưởng tích cực tới chuẩn mực tôn giáo, cụ thể: Khi một tôn giáo có các tư tưởng, quan niệm giáo điều không phù hợp với xã hội hiện tại, gây cản trở, kìm hãm sự phát triển, tác động xấu đến xã hội thì pháp luật sẽ điều chỉnh hay kìm hãm tính tiêu cực đó. Mặt khác, pháp luật góp phần tạo điều kiện cho tôn giáo phát triển và cùng đó là các quy phạm tôn giáo được vận hành hiệu quả. Bởi vì, pháp luật chính là khả năng triển khai những chủ trương, chính sách của Nhà nước về tôn giáo một cách nhanh chóng, đồng bộ, hiệu quả trên quy mô lớn.

Quy phạm tôn giáo với ưu thế nhất định trong đời sống hàng ngày lại ảnh hưởng đến pháp luật theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực. Hầu hết các tôn giáo đều có các giáo lý, giáo điều, luôn khuyên răn con người làm việc thiện, góp phần xây dựng tình đoàn kết nội bộ, giải quyết linh hoạt, kịp thời, có tình, có lý các mâu thuẫn trong cộng đồng, điều này hỗ trợ cho việc hoàn thiện pháp luật. Xuất phát từ tình hình thực tế, pháp luật có thể dự báo trước được nguy cơ mà tôn giáo đem đến hay phát hiện ra những bất cập thiếu sót trong hệ thống pháp luật hiện hành, từ đó, pháp luật sẽ được Nhà nước điều chỉnh để hoàn thiện hơn. Ngoài ra, những tín điều, giáo lý hầu hết là khuyên con người hướng thiện và khi các tín đồ của tôn giáo thực hiện theo những tín điều này thì phần nào giúp cho xã hội ổn định, phát triển. Như vậy, nhờ quy phạm tôn giáo mà công việc quản lý, kiểm soát xã hội của pháp luật cũng thuận lợi hơn. Ngược lại, quy phạm tôn giáo cũng có tác động tiêu cực đến pháp luật, vì các tín điều, giáo lý tôn giáo không phù hợp với đạo đức xã hội, xâm hại đến sức khỏe, danh dự, tính mạng của con người, hay trường hợp một số cá nhân, tổ chức còn lợi dụng niềm tin tôn giáo để trục lợi riêng, gây mất đoàn kết trong nhân dân... Điều đó, khiến pháp luật phải phát huy tác động ngược trở lại, để ngăn chặn và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của những chuẩn mực tôn giáo ấy.

3. Tác động của các giá trị tôn giáo với pháp luật

Thứ nhất, chuẩn mực tôn giáo giúp cho hoạt động xây dựng pháp luật của Nhà nước. Khi đến một giai đoạn nhất định, rất nhiều những tín điều tôn giáo được Nhà nước thừa nhận và trở thành các quy phạm pháp luật được áp dụng chung cho mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội. Các tín điều tôn giáo đều chứa đựng một số giá trị đạo đức nhân bản rất hữu ích cho việc xây dựng nền đạo đức mới và nhân cách con người Việt Nam hiện nay. Giá trị lớn nhất của đạo đức tôn giáo là góp phần duy trì đạo đức xã hội, hoàn thiện nhân cách cá nhân, hướng con người đến Chân - Thiện - Mỹ. Như vậy, có thể khiến các tín điều tôn giáo phù hợp với pháp luật, đạo đức, phong tục tập quán của nước ta trở thành các quy phạm pháp luật thì hiệu quả của thực hiện pháp luật sẽ được nâng cao. Ví dụ: Trong Kinh thánh của đạo Thiên chúa giáo có quy định về hôn nhân một vợ một chồng, quy định này hoàn toàn phù hợp với quy định về hôn nhân của nước ta trong Luật Hôn nhân và gia đình.

Thứ hai, tôn giáo đã đề cập trực tiếp đến những vấn đề đạo đức cụ thể của cuộc sống. Trên thực tế, những giá trị, chuẩn mực đạo đức của các tôn giáo có ý nghĩa nhất định trong việc duy trì đạo đức xã hội, hơn nữa, nó đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các nhà làm luật đưa ra những quy định phù hợp với ý chí nhà nước và nhân dân cũng như trong việc phát hiện ra những “lỗ hổng”, những thiếu sót trong pháp luật hiện hành. Ví dụ: Giáo lý của nhà Phật yêu cầu người xuất gia, tu hành phải tuyệt đối tuân theo “ngũ giới”, bao gồm không sát sinh, không nói dối, không trộm cắp, không tà dâm và không uống rượu. Ta có thể thấy được một số điều răn của đức Phật tương đối phù hợp với chuẩn mực đạo đức và chuẩn mực pháp luật của nước ta.

Thứ ba, tôn giáo giúp san sẻ một phần “gánh nặng” cho pháp luật. Hầu hết các tín điều giáo lý đều răn dạy con người phải biết làm điều thiện, giúp đỡ người khó khăn, tránh làm việc ác. Khi các tín đồ thực hiện những lời răn dạy đó thì đã phần nào giúp xã hội ổn định và phát triển. Hơn nữa, có những tín điều giáo lý phù hợp với pháp luật, khi các tín đồ thực hiện những tín điều đó thì đó cũng là một hành động thực hiện pháp luật. Ví dụ: Kinh mười điều răn của Chúa trong Thiên chúa giáo khuyên răn con người nên làm điều thiện, tránh điều ác, chớ nói dối, chớ nảy sinh lòng tham. Những điều răn này hoàn toàn phù hợp với mục đích của pháp luật trong điều chỉnh các quan hệ xã hội. Như vậy, khi con người nghe theo những lời răn này thì cũng có nghĩa là họ đang chấp hành pháp luật.

Tuy các chuẩn mực tôn giáo có nhiều ảnh hưởng tích cực tới hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật nhưng nó cũng có những biểu hiện tiêu cực, tác động đến xã hội. Các tổ chức tôn giáo ngày nay không chỉ hoạt động trong phạm vi trong nước mà còn liên quan đến các tôn giáo nước ngoài gây khó khăn trong hoạt động quản lý của Nhà nước, không những thế, lợi dụng tinh thần tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, rất nhiều tổ chức tôn giáo tự phát, tự do hoạt động mặc dù không được Nhà nước cho phép gây ảnh hưởng đến trật tự và đời sống của người dân. Bên cạnh đó, một số lễ nghi tôn giáo còn mạng nặng những tư tưởng lạc hậu, trái pháp luật, tình trạng lợi dụng tôn giáo để biểu tình, chống phá Đảng và Nhà nước diễn ra ngày càng đáng lo ngại. Các thế lực thù địch bên ngoài hoạt động xuyên tạc các chủ trương chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước, còn tăng cường vu cáo nhà nước ta đàn áp tôn giáo, vi phạm dân chủ, dân quyền gây mâu thuẫn giữa giáo dân và Nhà nước.

4. Giải pháp phát huy giá trị của quy phạm tôn giáo để tác động tích cực đến các quan hệ xã hội trong bối cảnh mới

Có thể nói, pháp luật và tôn giáo có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại với nhau, hỗ trợ cho nhau cùng phát triển và hoàn thiện. Ở một phương diện nào đó, chúng đều là những công cụ để điều chỉnh các quan hệ xã hội, có một số chức năng tương tự như nhau để duy trì, quản lý đời sống xã hội phục vụ mục đích chung của cộng đồng xã hội. Vì vậy, theo tác giả, cần tiếp tục nghiên cứu, phát huy giá trị của quy phạm tôn giáo trong quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, theo hướng:

Một là, thừa nhận, khai thác, phát huy những tín điều, giáo lý tốt đẹp của tôn giáo trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt trong cộng đồng giáo dân, nhất là trong tình hình hiện nay, dưới tác động của nền kinh tế thị trường, đạo đức xã hội đang xuống cấp thì việc phát huy tác dụng của đạo đức tôn giáo sẽ giúp pháp luật giảm bớt gánh nặng, góp phần ổn định trật tự xã hội. Trong các tôn giáo có rất nhiều những giáo lý, giáo luật quy định phải sống thân thiện với môi trường, con người phải hài hòa và yêu thương thiên nhiên. Các tôn giáo khuyến khích tín đồ cũng như tất cả mọi người hãy bảo vệ môi trường hoặc bản thân các tôn giáo cũng tham gia vào chương trình bảo vệ môi trường của Nhà nước. Trong những năm gần đây, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phát động phong trào và hiện có 63 tỉnh, thành phố ký kết chương trình tôn giáo tham gia bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu. Các tôn giáo có những cách làm rất hay, họ tác động đến nhận thức trước, sau đó mới bắt đầu tác động thay đổi hành vi, từ hành vi cá nhân rồi tới gia đình, cộng đồng… tạo ra sự lan tỏa để chúng ta có môi trường sống bền vững. Ngoài ra, tôn giáo tham gia vào lĩnh vực bảo trợ xã hội và cũng đã mang lại hiệu quả cao.

Hai là, trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật phải bảo đảm quyền bình đẳng giữa các tôn giáo. Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, có tôn giáo nội sinh (đạo Cao đài, đạo Hòa hảo), có tôn giáo ngoại nhập (như Công giáo, Tôn giáo, đạo Tin lành, Phật giáo, Hồi giáo) cùng tồn tại và phát triển, nên việc bảo đảm quyền bình đẳng giữa các tôn giáo có ý nghĩa quan trọng trong việc đoàn kết đồng bào theo đạo trong khối đại đoàn kết toàn dân, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nếu pháp luật nước ta không bảo đảm bình đẳng giữa các tôn giáo thì chúng ta không thể tập hợp được quần chúng các tín đồ tôn giáo và sẽ tạo ra các “kẽ hở” để cho các thế lực thù định thực hiện âm mưu lợi dụng tôn giáo chống phá Nhà nước.

Ba là, pháp luật về tôn giáo vừa phải bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng tôn giáo của công dân, vừa phải là phương tiện đấu tranh với các hành vi lợi dụng tôn giáo xâm phạm an ninh quốc gia, bài trừ mê tín, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc. Để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của công dân, pháp luật về hoạt động tôn giáo phải được xây dựng trên tinh thần thực sự tôn trọng đức tin tôn giáo của các tín đồ. Đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng, cần phải được Nhà nước tôn trọng và bảo vệ, chống mọi tư tưởng đánh đồng hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo với hoạt động mê tín, dị đoan, với hoạt động lợi dụng nhằm gây khó khăn cho các hoạt động tôn giáo chính đáng, hợp pháp. Pháp luật phải giúp tôn giáo phát huy những mặt tích cực thể hiện trong giáo lý, giáo lễ của tôn giáo. Đồng thời, pháp luật cần tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tôn giáo tham gia cùng với Nhà nước và xã hội giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh như: Phòng, chống các tệ nạn xã hội, cứu trợ thiên tai, xóa đói giảm nghèo… Bên cạnh đó, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hoạt động tôn giáo phải nghiêm cấm các hoạt động lợi dụng tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc.

Bốn là, pháp luật về tôn giáo không can thiệp vào nội bộ của tôn giáo, nhưng phải bảo đảm mọi hoạt động của tôn giáo diễn ra trong khuôn khổ pháp luật.

TS. Trần Kim Liễu

Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1994, tập 20, tr. 437.

[2]. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.1995, tập 1, tr. 569.

[3]. V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, M. 1979, tập 12, tr. 169.

[4]. V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, M. 1979, tập 12, tr. 169.

[5]. V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, M. 1979, tập 12, tr. 169 - 170.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 390), tháng 10/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.

Theo dõi chúng tôi trên: