Thứ năm 16/04/2026 03:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giao nộp, sao gửi tài liệu, chứng cứ trong tố tụng dân sự

Giao nộp tài liệu, chứng cứ vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của đương sự; sao gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác theo quy định là nghĩa vụ của đương sự. Gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự còn là trách nhiệm của Tòa án nếu đương sự có yêu cầu Tòa án hỗ trợ. Tuy nhiên, vận dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vào thực tiễn xét xử tại Tòa án thì nảy sinh những bất cập, cần được cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn cụ thể, tạo sự thống nhất trong áp dụng pháp luật.

1. Quy định về giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án

Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Cụ thể là: Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, trừ các trường hợp quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp; đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó (Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015).

Tuy nhiên, để vụ án được giải quyết khách quan, công bằng thì Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng quy định, trường hợp tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ việc thì thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ.

Thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ do thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc ấn định nhưng không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Thời hạn chuẩn bị xét xử được quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Thời hạn chuẩn bị xét đơn được quy dịnh tại Điều 336 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Như vậy, đối với trường hợp đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của thẩm phán thì Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có quy định về thời hạn đương sự phải giao nộp; còn đối với trường hợp đương sự giao nộp không phải theo yêu cầu của thẩm phán thì Bộ luật này không có quy định đương sự phải giao nộp vào thời điểm nào của quá trình giải quyết vụ án vì đây là quyền của đương sự. Nếu đương sự không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo quy định tại Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để giải quyết vụ việc dân sự. Thực tế đã có nhiều vụ án đương sự không giao nộp hết tài liệu, chứng cứ cho Tòa án ngay từ lúc đầu mà đợi đến khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử thì họ mới giao nộp đủ. Thậm chí đương sự còn để lại những tài liệu, chứng cứ đến giai đoạn phúc thẩm mới giao nộp. Mục đích của đương sự (nhất là bị đơn) là gây khó khăn cho đương sự còn lại trong vụ án nhưng điều này cũng đã gây không ít khó khăn cho thẩm phán hoặc hội đồng xét xử trong đánh giá chứng cứ của vụ án.

Khoản 4 Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, nếu sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, đương sự mới cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ mà Tòa án đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng thì đương sự phải chứng minh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ đó. Đối với tài liệu, chứng cứ mà trước đó, Tòa án không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm hoặc các giai đoạn tố tụng tiếp theo của việc giải quyết vụ án. Vấn đề đặt ra là, nếu tại phiên tòa đương sự mới giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và đương sự không chứng minh được lý do chính đáng của sự chậm trễ thì Tòa án có nhận tài liệu, chứng cứ đương sự giao nộp hay không. Theo tác giả, khi đương sự có giao chậm tài liệu, chứng cứ cho Tòa án dù có lý do hay không có lý do chính đáng thì Tòa án cũng không được quyền từ chối nhận tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp. Bởi nếu Tòa án từ chối nhận thì Tòa án sẽ không đánh giá hết bản chất của vụ việc, không tìm ra được sự thật khách quan của vụ án; nếu có kháng cáo, kháng nghị thì bản án của Tòa án cấp sơ thẩm có thể sẽ bị hủy do thu thập chứng cứ không đầy đủ. Do vậy, cơ quan có thẩm quyền cần có hướng dẫn cụ thể cho trường hợp này để phù hợp với thực tiễn xét xử.

2. Quy định về sao gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác

Quy định về đương sự sao gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác trong vụ án là điểm mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo đó: Đương sự có nghĩa vụ gửi cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ, trừ tài liệu, chứng cứ mà đương sự khác đã có, tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Trường hợp vì lý do chính đáng không thể sao chụp, gửi đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ thì họ có quyền yêu cầu Tòa án hỗ trợ (khoản 9 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Trường hợp nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án hỗ trợ trong việc gửi tài liệu, chứng cứ thì kèm theo thông báo về việc thụ lý vụ án, Tòa án gửi cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bản sao tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp (khoản 3 Điều 196 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 109 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là tài liệu, chứng cứ có liên quan đến bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu chính đáng của đương sự. Tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này hoặc tài liệu, chứng cứ không thể sao gửi được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác (khoản 5 Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015).

Như vậy, ngoài việc sao gửi các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án mà đương sự khác chưa có thì đương sự còn phải sao gửi cho đương sự khác đơn khởi kiện (đối với nguyên đơn), đơn yêu cầu phản tố (đối với bị đơn), đơn yêu cầu độc lập (đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập).

Thời điểm, phương thức đương sự gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác không được Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định. Vấn đế này trong Giải đáp nghiệp vụ số 01 ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao tại mục 8 phần IV có hướng dẫn như sau:

“Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 không quy định cụ thể về thời điểm đương sự phải gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ. Tuy nhiên, việc quy định đương sự có nghĩa vụ gửi cho đương sự khác bản sao tài liệu, chứng cứ tại khoản 9 Điều 70, khoản 5 Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là nhằm đảm bảo việc tiếp cận chứng cứ để thực hiện quyền tranh tụng của đương sự trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Do vậy, nguyên đơn phải gửi bản sao đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không quy định phương thức đương sự sao gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác nên đương sự có quyền lựa chọn phương thức sao gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác (gửi trực tiếp, gửi qua đường bưu điện...) và đương sự phải chứng minh với Tòa án đã sao gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác.

Quy định tại khoản 9 Điều 70, khoản 5 Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là những quy định mới, nhằm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử. Do vậy, trong quá trình tố tụng, Tòa án phải giải thích, hướng dẫn cho đương sự để họ thực hiện nghĩa vụ sao gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác. Trường hợp đương sự không thực hiện việc sao gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác thì Tòa án yêu cầu đương sự phải thực hiện. Trường hợp vì lý do chính đáng, không thể sao gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác thì đương sự có quyền yêu cầu Tòa án hỗ trợ theo quy định tại khoản 3 Điều 196, điểm b khoản 2 Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015”.

Liên quan đến quy định về sao gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác, thực tiễn đã có vướng mắc và cần được hướng dẫn cụ thể để áp dụng pháp luật cho thống nhất, đó là:

Thứ nhất, nếu Tòa án đã giải thích cho đương sự biết có nghĩa vụ phải giao nộp tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác nhưng đương sự không thực hiện và khi Tòa án yêu cầu đương sự thực hiện việc sao gửi tài liệu, chứng cứ nhưng đương sự vẫn không thực hiện và không có yêu cầu Tòa án hỗ trợ việc sao gửi tài liệu, chứng cứ thì giải quyết như thế nào. Quy định về sao gửi tài liệu, chứng cứ là quy định mới và tiến bộ của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 lại không quy định nếu đương sự không thực hiện việc sao gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác và không yêu cầu Tòa án hỗ trợ thì trách nhiệm của đương sự đó hay hậu quả pháp lý mà đương sự đó phải chịu trong vụ án là như thế nào.

Đối với việc đương sự có yêu cầu Tòa án hỗ trợ gửi tài liệu cho đương sự khác thì thực tế tại các Tòa án hiện nay vẫn có cách làm đó là Tòa án tự phô tô các tài liệu, chứng cứ do đương sự giao nộp và gửi cho các đương sự khác trong vụ án. Theo quan điểm của tác giả, cách làm này là không đúng quy định và gây tốn kém chi phí cho Tòa án. Bởi vì: (i) Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có quy định tại khoản 3 Điều 196 như sau: Trường hợp nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án hỗ trợ trong việc gửi tài liệu, chứng cứ thì kèm theo thông báo về việc thụ lý vụ án, “Tòa án gửi” cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan “bản sao” tài liệu, chứng cứ “do nguyên đơn cung cấp”. Như vậy, quy định này đã rõ là Tòa án sẽ hỗ trợ đương sự gửi bản sao tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp cho Tòa án cho đương sự khác chứ Tòa án không tự phô tô tài liệu, chứng cứ để gửi cho đương sự khác; (ii) Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Tòa án đã công khai các tài liệu, chứng cứ do đương sự trong vụ án giao nộp. Cho nên, nếu các đương sự khác muốn biết các tài liệu này thì vẫn có quyền yêu cầu Tòa án cho sao chụp tài liệu, chứng cứ đó. Như vậy, vẫn đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đương sự trong vụ án.

Thứ hai, theo quy định đương sự phải sao chụp hoặc Tòa án hỗ trợ đương sự gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác thì “đương sự khác” là tất cả đương sự còn lại trong vụ án hay chỉ đương sự có quyền, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến đương sự đó (trong vụ án có thể có các đương sự là nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập nhưng đứng về phía nguyên đơn, đứng về phía bị đơn).

Thứ ba, tài liệu mà đương sự phải sao hoặc Tòa án hỗ trợ đương sự gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác là gì. Thực tế hiện nay, khi gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác, Tòa án gửi tất cả những gì đương sự nộp cho Tòa án, kể cả bản sao Giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu, bản tự khai… Điều này đã tạo ra sự không thống nhất trong áp dụng pháp luật.

Dương Tấn Thanh

Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.

Theo dõi chúng tôi trên: