Thứ tư 04/03/2026 17:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Góp ý hoàn thiện một số quy định pháp luật liên quan các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin

Bài viết về quy định pháp luật liên quan đến các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin và đưa ra góp ý hoàn thiện pháp luật về vấn đề này

Ngày 06/4/2016, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Tiếp cận thông tin, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2018. Luật Tiếp cận thông tin ra đời đã tạo khuôn khổ pháp lý cho việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân và nâng cao tính công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản của công dân. Về nguyên tắc, mọi công dân đều có quyền tiếp cận thông tin bình đẳng, không bị phân biệt đối xử[1]. Nhằm thể hiện nguyên tắc bình đẳng, không bị phân biệt đối xử đó, Luật Tiếp cận thông tin quy định Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin[2].

Để triển khai thực hiện hiệu quả, thống nhất Luật Tiếp cận thông tin, ngày 23/01/2018 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 13/2018/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Tiếp cận thông tin (Nghị định số 13/2018/NĐ-CP). Một trong những nội dung của Nghị định số 13/2018/NĐ-CP là quy định chi tiết các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin (Điều 3). Bàn về quy định này, tác giả có một số đánh giá, góp ý hoàn thiện một số quy định pháp luật liên quan các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin:

- Thứ nhất, Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận các quyền con người là tự nhiên, vốn có, chứ không phải là sự trao quyền của cơ quan công quyền. Nhà nước phải ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm thực hiện, không phân biệt đẳng cấp, màu da, giới tính… Hiến pháp quy định “mọi người có quyền…”, “công dân có quyền…” và Nhà nước có trách nhiệm trong việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm việc thực hiện các quyền này. Vì vậy, thay vì quy định “công dân có quyền… được thông tin” (như Điều 69 Hiến pháp năm 1992) thì Điều 25 Hiến pháp năm 2013 quy định “công dân có quyền… tiếp cận thông tin”[3]. Nhà nước có trách nhiệm ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm công dân thực hiện quyền tiếp cận thông tin, trong đó, có quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật. Điều 9 Luật Tiếp cận thông tin xác định cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp thông tin do mình tạo ra và nhận được. Tuy nhiên, tại khoản 6 Điều 3 Luật Tiếp cận thông tin lại quy định “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi” để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Việc quy định “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi” đã nâng cao vị thế của cơ quan nhà nước từ chủ thể “phải có trách nhiệm” sang chủ thể có quyền “tạo điều kiện”, tức là Nhà nước có những quyền năng, ưu thế vượt trội của mình để tạo ra các yếu tố hay nói cách khác người khuyết tật phải “nhờ” Nhà nước đưa ra các yếu tố cần thiết để thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Điều đó như cách “nói giảm nói tránh” trách nhiệm của Nhà nước, có thể dẫn đến nạn hách dịch, cửa quyền, quan liêu, xa dân. Bệnh quan liêu, xa dân là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ của đất nước mà Thủ tướng Chính phủ đã chỉ ra tại Hội nghị trực tuyến giữa Chính phủ và địa phương ngày 02/7/2018[4]. Quy định đó cũng không phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013, Nhà nước phải có trách nhiệm tạo điều kiện để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Chính vì thế, trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật, chủ thể có thẩm quyền phải quán triệt, tuyên truyền, phổ biến nội dung và tinh thần của Luật Tiếp cận thông tin một cách mạnh mẽ, quyết đoán rằng, việc cung cấp thông tin là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước. Việc bảo đảm quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử khi tiếp cận thông tin là trách nhiệm của cơ quan nhà nước phải thực hiện và thực hiện chính xác, đầy đủ, hiệu quả. Chính phủ phải là chủ thể có trách nhiệm kiến tạo những điều kiện tốt nhất để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Chính sách đối với người khuyết tật cần thay đổi theo hướng tới sự hòa nhập của người khuyết tật trong xã hội, làm cho họ trở thành chủ thể của luật pháp với các quyền được xác định rõ ràng. Người khuyết tật không phải là đặc điểm cá nhân bị khiếm khuyết mà là kết quả của sự tương tác giữa người đó với môi trường xung quanh[5]. Ví dụ, một người ngồi trên xe lăn có thể gặp khó khăn tiếp cận thông tin công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú, không phải là do điều kiện của người đó mà là do các rào cản như công trình giao thông từ nơi ở đến nơi có thông tin không thuận lợi, từ đó, nâng cao trách nhiệm của các chủ thể có liên quan trong việc phải tạo mọi điều kiện, áp dụng đa dạng các hình thức công khai thông tin phù hợp với người khuyết tật khi cung cấp thông tin.

- Thứ hai, chính vì Luật Tiếp cận thông tin quy định “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi” để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin, dẫn đến việc Nghị định số 13/2018/NĐ-CP quy định các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin phải phụ thuộc vào điều kiện thực tế của cơ quan cung cấp thông tin (Điều 3). Điều đó làm cho hầu như tất cả các chủ thể có trách nhiệm bảo đảm thực hiện quyền của người khuyết tật nói chung và quyền tiếp cận thông tin nói riêng đều muốn vin vào khả năng điều kiện thực tế của mình để từ chối người khuyết tật[6]. Mặt khác, ý thức pháp luật của xã hội nói chung, của đội ngũ cán bộ công chức nói riêng còn thấp, chưa ngang tầm với đòi hỏi của quản lý nhà nước bằng pháp luật, đặc biệt là trong điều kiện kinh tế thị trường và xây dựng Nhà nước pháp quyền[7]. Đó sẽ là những rào cản trì hoãn quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật. Do đó, pháp luật cần quy định theo hướng mở rộng, tăng cường trách nhiệm bảo đảm quyền để tránh tình trạng các cơ quan cung cấp thông tin vin vào khả năng điều kiện thực tế của mình để từ chối quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật. Phải lấy các tiêu chuẩn tiên tiến về tiếp cận thông tin của người khuyết tật làm yêu cầu bắt buộc đối với chủ thể có trách nhiệm bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật[8].

- Thứ ba, điểm a khoản 1 Điều 34 Luật Tiếp cận thông tin đã quy định một trong những trách nhiệm của cơ quan cung cấp thông tin, đó là phải công khai, cung cấp thông tin một cách kịp thời, chính xác, đầy đủ. Điều đó có nghĩa là mọi thông tin mà cơ quan nhà nước có trách nhiệm công khai và những thông tin mà công dân yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thì cơ quan nhà nước phải kịp thời công khai, cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, không phân biệt loại thông tin. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 3 Nghị định số 13/2018/NĐ-CP lại quy định “thông tin liên quan trực tiếp tới đời sống, sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh của người khuyết tật phải được kịp thời công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng dưới các hình thức cung cấp thông tin thuận lợi cho người khuyết tật”. Điều đó có thể hiểu những thông tin liên quan trực tiếp tới đời sống, sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh của người khuyết tật thì cơ quan nhà nước mới phải có trách nhiệm kịp thời công bố công khai, còn những thông tin khác thì có thể có ngoại lệ (không kịp thời công khai). Như vậy, có thể nhận thấy quy định tại Nghị định số 13/2018/NĐ-CP hướng dẫn chưa phù hợp với quy định của Luật Tiếp cận thông tin. Hơn nữa, Nghị định số 13/2018/NĐ-CP cũng không quy định rõ ràng, cụ thể những thông tin nào là thông tin liên quan trực tiếp tới đời sống, sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh của người khuyết tật và khi áp dụng sẽ dẫn đến sự tùy tiện, thậm chí sẽ là “cớ rào cản” đến trách nhiệm cung cấp thông tin của cơ quan có thẩm quyền. Do đó, thiết nghĩ: (i) Để cụ thể quy định tại Nghị định số 13/2018/NĐ-CP thì thông tư hướng dẫn nên quy định cụ thể các loại thông tin liên quan trực tiếp đến đời sống, sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh của người khuyết tật; (ii) Hoặc không nên quy định, hướng dẫn thêm nội dung này nữa trong thông tư tránh trường hợp chồng chéo, mâu thuẫn, không thống nhất về một nội dung trong các văn bản quy phạm pháp luật. Theo tác giả, tốt nhất là không nên quy định hay hướng dẫn thêm nội dung này nữa, tránh chồng chéo, mâu thuẫn, không thống nhất về một nội dung trong các văn bản quy phạm pháp luật

- Thứ tư, để quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật được thực hiện hiệu quả trên thực tế, thì cần phải có những hình thức cung cấp thông tin phù hợp với khả năng của người khuyết tật trên cơ sở căn cứ, dựa vào từng dạng tật, mức độ khuyết tật của người khuyết tật. Hiện nay, theo quy định, người khuyết tật có các dạng tật: Khuyết tật vận động; khuyết tật nghe, nói; khuyết tật nhìn; khuyết tật thần kinh, tâm thần; khuyết tật trí tuệ; khuyết tật khác[9] và người khuyết tật có 03 mức độ khuyết tật: Người khuyết tật đặc biệt nặng; người khuyết tật nặng và người khuyết tật nhẹ[10]. Trên tinh thần đó, luật quy định: “Đối với đối tượng là người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, ngoài các hình thức quy định tại khoản 1 Điều này, cơ quan nhà nước xác định hình thức công khai thông tin phù hợp với khả năng, điều kiện tiếp cận thông tin của công dân”[11]. Trong khi đó, có 06 hình thức công khai thông tin được quy định trong luật bao gồm: Đăng tải trên Cổng thông tin điện tử, Trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước; công khai trên phương tiện thông tin đại chúng; đăng Công báo; niêm yết tại trụ sở cơ quan nhà nước và các địa điểm khác; thông qua việc tiếp công dân, họp báo, thông cáo báo chí, hoạt động của người phát ngôn của cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật; các hình thức khác thuận lợi cho công dân do cơ quan có trách nhiệm công khai thông tin xác định[12]. Mặc dù, Luật Tiếp cận thông tin đã quy định các cơ quan có trách nhiệm công khai thông tin theo các hình thức khác để nhằm mang tính dự báo, cũng như đảm bảo cho các hình thức khác ngoài Luật Tiếp cận thông tin phát sinh cũng có hiệu lực. Tuy nhiên, ngoài việc quy định các hình thức công khai thông tin chung, văn bản hướng dẫn cần quy định cụ thể hơn nữa, căn cứ vào mỗi dạng tật, mức độ khuyết tật nhằm đảm bảo nguyên tắc dựa trên nhu cầu hợp pháp, tức là coi mục tiêu thỏa mãn nhu cầu được biết của người khuyết tật là yêu cầu đối với các chủ thể có trách nhiệm cung cấp hoặc công khai thông tin[13].

Trên cơ sở nghiên cứu các quy định pháp luật và điều kiện thực tiễn, tác giả có đề xuất một số hình thức cung cấp thông tin cho người khuyết tật, bao gồm:

(i) Người khuyết tật thường sống cách biệt trong những trung tâm chăm sóc hoặc những trường học dành cho người khuyết tật[14]. Do đó, trước mắt, cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp thông tin có thể công khai thông tin liên quan đến người khuyết tật ở những trung tâm chăm sóc, trường học dành riêng cho người khuyết tật. Đây là nơi tập trung người khuyết tật, cũng có những lớp chuyên biệt của người khuyết tật, nên có thể giảm thiểu những chi phí phát sinh liên quan đến cung cấp thông tin nếu so với việc cung cấp thông tin đơn lẻ, hiệu quả công khai thông tin cũng cao hơn so với công khai đại trà nhiều đối tượng.

(ii) Công khai thông tin thông qua các tổ chức xã hội về người khuyết tật. Bởi vì, trên thế giới, người khuyết tật và gia đình họ vận động cho bản thân thông qua các tổ chức riêng của họ[15]. Hiện nay, các tổ chức của người khuyết tật ngày càng được mở rộng ở các tỉnh, thành phố như: Hội Người mù; Hội Người điếc; Hội Người khuyết tật các tỉnh; Hội Bảo trợ người tàn tật và trẻ em mồ côi; Hội Cứu trợ trẻ em tàn tật; Hiệp hội sản xuất, kinh doanh của thương binh và người tàn tật[16]. Theo quy định Luật Tiếp cận thông tin, tổ chức xã hội không phải là chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin. Ở đây, các cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp thông tin phối hợp với các tổ chức xã hội riêng về người khuyết tật trong việc công khai thông tin liên quan đến người khuyết tật, vừa giảm được chi phí, hiệu quả công khai thông tin cao do các tổ chức này có sự am hiểu nhất định về người khuyết tật đó và theo tôi, một cái đích rất quan trọng là xây dựng được một xã hội dân sự, mọi tổ chức đều tham gia quản lí nhà nước, quản lí xã hội phù hợp với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam[17].

(iii) Một vấn đề đặt ra nữa, về mặt bản chất, quyền tiếp cận thông tin được hiểu là, khả năng chủ thể quyền được đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu được biết (hiểu biết được nội dung thông tin), chứ không đơn thuần chỉ là tiếp cận được hay có được thông tin (theo khoản 3 Điều 2 Luật Tiếp cận thông tin, tiếp cận thông tin là: Đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp thông tin)[18]. Mặt khác, theo Luật Người khuyết tật năm 2010 “tiếp cận là việc người khuyết tật sử dụng được công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp để có thể hòa nhập cộng đồng” (khoản 8 Điều 2). Điều đó có nghĩa là thông tin mà người khuyết tật tiếp cận được thì người khuyết tật phải sử dụng được thông tin đó. Để sử dụng được những thông tin tiếp cận thì người khuyết tật phải hiểu rõ nội dung, tư tưởng, mục đích, hoàn cảnh, ý nghĩa của thông tin. Không phải người khuyết tật nào cũng hiểu rõ được vậy. Do đó, trong quá trình cung cấp thông tin cho người khuyết tật, thì bên cạnh việc để chủ thể tiếp cận thông tin được đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp thông tin, các cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp thông tin cần giải thích thông tin để người khuyết tật hiểu được thông tin. Quyền tiếp cận thông tin của công dân có tác động mạnh mẽ đến sự ổn định của nền chính trị quốc gia. Chính vì có những thông tin không rõ, hiểu lầm vấn đề, hiểu không đúng bản chất sự việc trong việc người dân phản ứng liên quan tới luật đặc khu dẫn đến người dân bị lợi dụng, kích động, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội[19]. Khi người dân hiểu đúng bản chất thông tin, sẽ có sự sẻ chia cùng cơ quan nhà nước thì sẽ luôn tin tưởng vào quyết định của Đảng, Nhà nước.

Hiện nay, người khuyết tật gặp nhiều khó khăn trong quá trình hòa nhập cộng đồng nói chung và thực hiện quyền tiếp cận thông tin nói riêng. Khó khăn trong việc sử dụng dụng cụ trợ giúp, phục hồi chức năng[20] đối với người khuyết tật vận động; khó khăn khi ở Việt Nam chưa có chuẩn quốc gia về ngôn ngữ ký hiệu và chữ nổi Braille cho người khuyết tật; chưa có danh mục thiết bị tối thiểu, đồ dùng, đồ chơi đặc thù; các quy định về chuẩn, tiêu chuẩn trang thiết bị phục vụ giáo dục người khuyết tật[21]; khó khăn về chương trình thông tin cho người khiếm thính lại chủ yếu chú trọng tới hình ảnh[22]… Do đó, để đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật được thực hiện hiệu quả trên thực tế cần phải sự chung tay toàn hệ thống chính trị, cả xã hội, nhất là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền công khai, cung cấp thông tin cho người khuyết tật.

Dương Văn Quý

Trường Trung cấp Luật Buôn Ma Thuột


[1] Khoản 1 Điều 3 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.

[2] Khoản 1 Điều 3 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.

[3] ThS. Hoàng Văn Khải, Thể chế hóa một số điểm mới của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=28428&print=true, truy cập ngày 01/7/2018.

[4] Đức Tuân, Thủ tướng: Sức ỳ của cải cách đã xuất hiện và ngày càng lớn, http://baochinhphu.vn/Tin-noi-bat/Thu-tuong-Suc-y-cua-cai-cach-da-xuat-hien-va-ngay-cang-lon/340473.vgp, truy cập ngày 02/7/2018.

[5]Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Nhóm Ngân hàng thế giới, Báo cáo tổng quan Việt Nam 2035: Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ, 2014, tr. 72.

[6] TS. Trần Thái Dương, Các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 (356), năm 2017, tr. 57.

[7] GS.TS. Trần Ngọc Đường, Tổ chức thi hành pháp luật theo Hiến pháp năm 2013 - Nhân tố đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp quyền trong đời sống nhà nước và xã hội, http://www.nclp.org.vn/to-chuc-thi-hanh-phap-luat-theo-hien-phap-nam-2013-nhan-to-111am-bao-thuc-hien-nguyen-tac-phap-quyen-trong-111oi-song-nha-nuoc-va-xa-hoi, truy cập ngày 01/7/2018.

[8] TS. Trần Thái Dương, Các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 (356), năm 2017, tr. 57.

[9] Khoản 1 Điều 3 Luật Người khuyết tật năm 2010.

[10] Khoản 2 Điều 3 Luật Người khuyết tật năm 2010.

[11] Khoản 3 Điều 18 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.

[12] Khoản 1 Điều 18 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.

[13] TS. Trần Thái Dương, Các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 (356), năm 2017, tr. 58.

[14] Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Nhóm Ngân hàng thế giới, Báo cáo tổng quan Việt Nam 2035: Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ, 2014, tr. 72.

Đến năm 2016, Việt Nam đã hình thành hệ thống trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục ở cấp tỉnh ở trên 20 tỉnh thành phố; đã có 107 cơ sở giáo dục chuyên biệt và 12 trung tâm giáo dục trẻ em khuyết tật và các triển khai giáo dục hòa nhập ở tất cả các cấp học phổ thông trong cả nước.

[15] Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Nhóm Ngân hàng thế giới, Báo cáo tổng quan Việt Nam 2035: Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ, 2014, tr. 73.

[16] Đăng Doanh, Hướng tới sinh kế bền vững cho người khuyết tật, http://laodongxahoi.net/dap-ung-nhu-cau-va-thach-thuc-cua-nguoi-khuyet-tat-1308602.html, truy cập ngày 29/6/2018.

[17] Hiến pháp năm 2013 đã xác định “Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động” (khoản 3 Điều 9). Đó là cơ sở pháp lý vững chắc để các tổ chức xã hội phát huy tốt vai trò của mình trong đời sống chính trị đất nước, góp phần đắc lực vào việc xây dựng đất nước.

[18] TS. Trần Thái Dương, Các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 (356), năm 2017, tr. 52.

[19] P.Thảo, Chủ tịch Quốc hội nói về việc người dân phản ứng liên quan tới luật đặc khu, http://dantri.com.vn/chinh-tri/chu-tich-quoc-hoi-noi-ve-viec-nguoi-dan-phan-ung-lien-quan-toi-luat-dac-khu-201806110839124.htm, truy cập ngày 11/6/2018.

[20] Tạp chí người bảo trợ, Dụng cụ hỗ trợ với người khuyết tật, http://nhandao.net.vn/index.php/hoat-dong-hoi/nghien-cuu-trao-doi/8416-dung-cu-ho-tro-voi-nguoi-khuyet-tat, truy cập ngày 27/6/2018.

[21] Quyết định số 338/QĐ-BGDĐT ngày 30/01/2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Kế hoạch giáo dục người khuyết tật giai đoạn 2018 - 2020 của Ngành Giáo dục.

[22] TS. Trần Thái Dương, Các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 (356), năm 2017, tr. 52.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: