Thứ bảy 16/05/2026 21:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Góp ý hoàn thiện một số quy định pháp luật liên quan các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin

Bài viết về quy định pháp luật liên quan đến các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin và đưa ra góp ý hoàn thiện pháp luật về vấn đề này

Ngày 06/4/2016, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Tiếp cận thông tin, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2018. Luật Tiếp cận thông tin ra đời đã tạo khuôn khổ pháp lý cho việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân và nâng cao tính công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản của công dân. Về nguyên tắc, mọi công dân đều có quyền tiếp cận thông tin bình đẳng, không bị phân biệt đối xử[1]. Nhằm thể hiện nguyên tắc bình đẳng, không bị phân biệt đối xử đó, Luật Tiếp cận thông tin quy định Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin[2].

Để triển khai thực hiện hiệu quả, thống nhất Luật Tiếp cận thông tin, ngày 23/01/2018 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 13/2018/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Tiếp cận thông tin (Nghị định số 13/2018/NĐ-CP). Một trong những nội dung của Nghị định số 13/2018/NĐ-CP là quy định chi tiết các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin (Điều 3). Bàn về quy định này, tác giả có một số đánh giá, góp ý hoàn thiện một số quy định pháp luật liên quan các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin:

- Thứ nhất, Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận các quyền con người là tự nhiên, vốn có, chứ không phải là sự trao quyền của cơ quan công quyền. Nhà nước phải ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm thực hiện, không phân biệt đẳng cấp, màu da, giới tính… Hiến pháp quy định “mọi người có quyền…”, “công dân có quyền…” và Nhà nước có trách nhiệm trong việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm việc thực hiện các quyền này. Vì vậy, thay vì quy định “công dân có quyền… được thông tin” (như Điều 69 Hiến pháp năm 1992) thì Điều 25 Hiến pháp năm 2013 quy định “công dân có quyền… tiếp cận thông tin”[3]. Nhà nước có trách nhiệm ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm công dân thực hiện quyền tiếp cận thông tin, trong đó, có quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật. Điều 9 Luật Tiếp cận thông tin xác định cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp thông tin do mình tạo ra và nhận được. Tuy nhiên, tại khoản 6 Điều 3 Luật Tiếp cận thông tin lại quy định “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi” để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Việc quy định “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi” đã nâng cao vị thế của cơ quan nhà nước từ chủ thể “phải có trách nhiệm” sang chủ thể có quyền “tạo điều kiện”, tức là Nhà nước có những quyền năng, ưu thế vượt trội của mình để tạo ra các yếu tố hay nói cách khác người khuyết tật phải “nhờ” Nhà nước đưa ra các yếu tố cần thiết để thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Điều đó như cách “nói giảm nói tránh” trách nhiệm của Nhà nước, có thể dẫn đến nạn hách dịch, cửa quyền, quan liêu, xa dân. Bệnh quan liêu, xa dân là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ của đất nước mà Thủ tướng Chính phủ đã chỉ ra tại Hội nghị trực tuyến giữa Chính phủ và địa phương ngày 02/7/2018[4]. Quy định đó cũng không phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013, Nhà nước phải có trách nhiệm tạo điều kiện để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Chính vì thế, trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật, chủ thể có thẩm quyền phải quán triệt, tuyên truyền, phổ biến nội dung và tinh thần của Luật Tiếp cận thông tin một cách mạnh mẽ, quyết đoán rằng, việc cung cấp thông tin là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước. Việc bảo đảm quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử khi tiếp cận thông tin là trách nhiệm của cơ quan nhà nước phải thực hiện và thực hiện chính xác, đầy đủ, hiệu quả. Chính phủ phải là chủ thể có trách nhiệm kiến tạo những điều kiện tốt nhất để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Chính sách đối với người khuyết tật cần thay đổi theo hướng tới sự hòa nhập của người khuyết tật trong xã hội, làm cho họ trở thành chủ thể của luật pháp với các quyền được xác định rõ ràng. Người khuyết tật không phải là đặc điểm cá nhân bị khiếm khuyết mà là kết quả của sự tương tác giữa người đó với môi trường xung quanh[5]. Ví dụ, một người ngồi trên xe lăn có thể gặp khó khăn tiếp cận thông tin công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú, không phải là do điều kiện của người đó mà là do các rào cản như công trình giao thông từ nơi ở đến nơi có thông tin không thuận lợi, từ đó, nâng cao trách nhiệm của các chủ thể có liên quan trong việc phải tạo mọi điều kiện, áp dụng đa dạng các hình thức công khai thông tin phù hợp với người khuyết tật khi cung cấp thông tin.

- Thứ hai, chính vì Luật Tiếp cận thông tin quy định “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi” để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin, dẫn đến việc Nghị định số 13/2018/NĐ-CP quy định các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin phải phụ thuộc vào điều kiện thực tế của cơ quan cung cấp thông tin (Điều 3). Điều đó làm cho hầu như tất cả các chủ thể có trách nhiệm bảo đảm thực hiện quyền của người khuyết tật nói chung và quyền tiếp cận thông tin nói riêng đều muốn vin vào khả năng điều kiện thực tế của mình để từ chối người khuyết tật[6]. Mặt khác, ý thức pháp luật của xã hội nói chung, của đội ngũ cán bộ công chức nói riêng còn thấp, chưa ngang tầm với đòi hỏi của quản lý nhà nước bằng pháp luật, đặc biệt là trong điều kiện kinh tế thị trường và xây dựng Nhà nước pháp quyền[7]. Đó sẽ là những rào cản trì hoãn quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật. Do đó, pháp luật cần quy định theo hướng mở rộng, tăng cường trách nhiệm bảo đảm quyền để tránh tình trạng các cơ quan cung cấp thông tin vin vào khả năng điều kiện thực tế của mình để từ chối quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật. Phải lấy các tiêu chuẩn tiên tiến về tiếp cận thông tin của người khuyết tật làm yêu cầu bắt buộc đối với chủ thể có trách nhiệm bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật[8].

- Thứ ba, điểm a khoản 1 Điều 34 Luật Tiếp cận thông tin đã quy định một trong những trách nhiệm của cơ quan cung cấp thông tin, đó là phải công khai, cung cấp thông tin một cách kịp thời, chính xác, đầy đủ. Điều đó có nghĩa là mọi thông tin mà cơ quan nhà nước có trách nhiệm công khai và những thông tin mà công dân yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thì cơ quan nhà nước phải kịp thời công khai, cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, không phân biệt loại thông tin. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 3 Nghị định số 13/2018/NĐ-CP lại quy định “thông tin liên quan trực tiếp tới đời sống, sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh của người khuyết tật phải được kịp thời công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng dưới các hình thức cung cấp thông tin thuận lợi cho người khuyết tật”. Điều đó có thể hiểu những thông tin liên quan trực tiếp tới đời sống, sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh của người khuyết tật thì cơ quan nhà nước mới phải có trách nhiệm kịp thời công bố công khai, còn những thông tin khác thì có thể có ngoại lệ (không kịp thời công khai). Như vậy, có thể nhận thấy quy định tại Nghị định số 13/2018/NĐ-CP hướng dẫn chưa phù hợp với quy định của Luật Tiếp cận thông tin. Hơn nữa, Nghị định số 13/2018/NĐ-CP cũng không quy định rõ ràng, cụ thể những thông tin nào là thông tin liên quan trực tiếp tới đời sống, sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh của người khuyết tật và khi áp dụng sẽ dẫn đến sự tùy tiện, thậm chí sẽ là “cớ rào cản” đến trách nhiệm cung cấp thông tin của cơ quan có thẩm quyền. Do đó, thiết nghĩ: (i) Để cụ thể quy định tại Nghị định số 13/2018/NĐ-CP thì thông tư hướng dẫn nên quy định cụ thể các loại thông tin liên quan trực tiếp đến đời sống, sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh của người khuyết tật; (ii) Hoặc không nên quy định, hướng dẫn thêm nội dung này nữa trong thông tư tránh trường hợp chồng chéo, mâu thuẫn, không thống nhất về một nội dung trong các văn bản quy phạm pháp luật. Theo tác giả, tốt nhất là không nên quy định hay hướng dẫn thêm nội dung này nữa, tránh chồng chéo, mâu thuẫn, không thống nhất về một nội dung trong các văn bản quy phạm pháp luật

- Thứ tư, để quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật được thực hiện hiệu quả trên thực tế, thì cần phải có những hình thức cung cấp thông tin phù hợp với khả năng của người khuyết tật trên cơ sở căn cứ, dựa vào từng dạng tật, mức độ khuyết tật của người khuyết tật. Hiện nay, theo quy định, người khuyết tật có các dạng tật: Khuyết tật vận động; khuyết tật nghe, nói; khuyết tật nhìn; khuyết tật thần kinh, tâm thần; khuyết tật trí tuệ; khuyết tật khác[9] và người khuyết tật có 03 mức độ khuyết tật: Người khuyết tật đặc biệt nặng; người khuyết tật nặng và người khuyết tật nhẹ[10]. Trên tinh thần đó, luật quy định: “Đối với đối tượng là người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, ngoài các hình thức quy định tại khoản 1 Điều này, cơ quan nhà nước xác định hình thức công khai thông tin phù hợp với khả năng, điều kiện tiếp cận thông tin của công dân”[11]. Trong khi đó, có 06 hình thức công khai thông tin được quy định trong luật bao gồm: Đăng tải trên Cổng thông tin điện tử, Trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước; công khai trên phương tiện thông tin đại chúng; đăng Công báo; niêm yết tại trụ sở cơ quan nhà nước và các địa điểm khác; thông qua việc tiếp công dân, họp báo, thông cáo báo chí, hoạt động của người phát ngôn của cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật; các hình thức khác thuận lợi cho công dân do cơ quan có trách nhiệm công khai thông tin xác định[12]. Mặc dù, Luật Tiếp cận thông tin đã quy định các cơ quan có trách nhiệm công khai thông tin theo các hình thức khác để nhằm mang tính dự báo, cũng như đảm bảo cho các hình thức khác ngoài Luật Tiếp cận thông tin phát sinh cũng có hiệu lực. Tuy nhiên, ngoài việc quy định các hình thức công khai thông tin chung, văn bản hướng dẫn cần quy định cụ thể hơn nữa, căn cứ vào mỗi dạng tật, mức độ khuyết tật nhằm đảm bảo nguyên tắc dựa trên nhu cầu hợp pháp, tức là coi mục tiêu thỏa mãn nhu cầu được biết của người khuyết tật là yêu cầu đối với các chủ thể có trách nhiệm cung cấp hoặc công khai thông tin[13].

Trên cơ sở nghiên cứu các quy định pháp luật và điều kiện thực tiễn, tác giả có đề xuất một số hình thức cung cấp thông tin cho người khuyết tật, bao gồm:

(i) Người khuyết tật thường sống cách biệt trong những trung tâm chăm sóc hoặc những trường học dành cho người khuyết tật[14]. Do đó, trước mắt, cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp thông tin có thể công khai thông tin liên quan đến người khuyết tật ở những trung tâm chăm sóc, trường học dành riêng cho người khuyết tật. Đây là nơi tập trung người khuyết tật, cũng có những lớp chuyên biệt của người khuyết tật, nên có thể giảm thiểu những chi phí phát sinh liên quan đến cung cấp thông tin nếu so với việc cung cấp thông tin đơn lẻ, hiệu quả công khai thông tin cũng cao hơn so với công khai đại trà nhiều đối tượng.

(ii) Công khai thông tin thông qua các tổ chức xã hội về người khuyết tật. Bởi vì, trên thế giới, người khuyết tật và gia đình họ vận động cho bản thân thông qua các tổ chức riêng của họ[15]. Hiện nay, các tổ chức của người khuyết tật ngày càng được mở rộng ở các tỉnh, thành phố như: Hội Người mù; Hội Người điếc; Hội Người khuyết tật các tỉnh; Hội Bảo trợ người tàn tật và trẻ em mồ côi; Hội Cứu trợ trẻ em tàn tật; Hiệp hội sản xuất, kinh doanh của thương binh và người tàn tật[16]. Theo quy định Luật Tiếp cận thông tin, tổ chức xã hội không phải là chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin. Ở đây, các cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp thông tin phối hợp với các tổ chức xã hội riêng về người khuyết tật trong việc công khai thông tin liên quan đến người khuyết tật, vừa giảm được chi phí, hiệu quả công khai thông tin cao do các tổ chức này có sự am hiểu nhất định về người khuyết tật đó và theo tôi, một cái đích rất quan trọng là xây dựng được một xã hội dân sự, mọi tổ chức đều tham gia quản lí nhà nước, quản lí xã hội phù hợp với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam[17].

(iii) Một vấn đề đặt ra nữa, về mặt bản chất, quyền tiếp cận thông tin được hiểu là, khả năng chủ thể quyền được đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu được biết (hiểu biết được nội dung thông tin), chứ không đơn thuần chỉ là tiếp cận được hay có được thông tin (theo khoản 3 Điều 2 Luật Tiếp cận thông tin, tiếp cận thông tin là: Đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp thông tin)[18]. Mặt khác, theo Luật Người khuyết tật năm 2010 “tiếp cận là việc người khuyết tật sử dụng được công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp để có thể hòa nhập cộng đồng” (khoản 8 Điều 2). Điều đó có nghĩa là thông tin mà người khuyết tật tiếp cận được thì người khuyết tật phải sử dụng được thông tin đó. Để sử dụng được những thông tin tiếp cận thì người khuyết tật phải hiểu rõ nội dung, tư tưởng, mục đích, hoàn cảnh, ý nghĩa của thông tin. Không phải người khuyết tật nào cũng hiểu rõ được vậy. Do đó, trong quá trình cung cấp thông tin cho người khuyết tật, thì bên cạnh việc để chủ thể tiếp cận thông tin được đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp thông tin, các cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp thông tin cần giải thích thông tin để người khuyết tật hiểu được thông tin. Quyền tiếp cận thông tin của công dân có tác động mạnh mẽ đến sự ổn định của nền chính trị quốc gia. Chính vì có những thông tin không rõ, hiểu lầm vấn đề, hiểu không đúng bản chất sự việc trong việc người dân phản ứng liên quan tới luật đặc khu dẫn đến người dân bị lợi dụng, kích động, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội[19]. Khi người dân hiểu đúng bản chất thông tin, sẽ có sự sẻ chia cùng cơ quan nhà nước thì sẽ luôn tin tưởng vào quyết định của Đảng, Nhà nước.

Hiện nay, người khuyết tật gặp nhiều khó khăn trong quá trình hòa nhập cộng đồng nói chung và thực hiện quyền tiếp cận thông tin nói riêng. Khó khăn trong việc sử dụng dụng cụ trợ giúp, phục hồi chức năng[20] đối với người khuyết tật vận động; khó khăn khi ở Việt Nam chưa có chuẩn quốc gia về ngôn ngữ ký hiệu và chữ nổi Braille cho người khuyết tật; chưa có danh mục thiết bị tối thiểu, đồ dùng, đồ chơi đặc thù; các quy định về chuẩn, tiêu chuẩn trang thiết bị phục vụ giáo dục người khuyết tật[21]; khó khăn về chương trình thông tin cho người khiếm thính lại chủ yếu chú trọng tới hình ảnh[22]… Do đó, để đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật được thực hiện hiệu quả trên thực tế cần phải sự chung tay toàn hệ thống chính trị, cả xã hội, nhất là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền công khai, cung cấp thông tin cho người khuyết tật.

Dương Văn Quý

Trường Trung cấp Luật Buôn Ma Thuột


[1] Khoản 1 Điều 3 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.

[2] Khoản 1 Điều 3 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.

[3] ThS. Hoàng Văn Khải, Thể chế hóa một số điểm mới của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=28428&print=true, truy cập ngày 01/7/2018.

[4] Đức Tuân, Thủ tướng: Sức ỳ của cải cách đã xuất hiện và ngày càng lớn, http://baochinhphu.vn/Tin-noi-bat/Thu-tuong-Suc-y-cua-cai-cach-da-xuat-hien-va-ngay-cang-lon/340473.vgp, truy cập ngày 02/7/2018.

[5]Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Nhóm Ngân hàng thế giới, Báo cáo tổng quan Việt Nam 2035: Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ, 2014, tr. 72.

[6] TS. Trần Thái Dương, Các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 (356), năm 2017, tr. 57.

[7] GS.TS. Trần Ngọc Đường, Tổ chức thi hành pháp luật theo Hiến pháp năm 2013 - Nhân tố đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp quyền trong đời sống nhà nước và xã hội, http://www.nclp.org.vn/to-chuc-thi-hanh-phap-luat-theo-hien-phap-nam-2013-nhan-to-111am-bao-thuc-hien-nguyen-tac-phap-quyen-trong-111oi-song-nha-nuoc-va-xa-hoi, truy cập ngày 01/7/2018.

[8] TS. Trần Thái Dương, Các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 (356), năm 2017, tr. 57.

[9] Khoản 1 Điều 3 Luật Người khuyết tật năm 2010.

[10] Khoản 2 Điều 3 Luật Người khuyết tật năm 2010.

[11] Khoản 3 Điều 18 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.

[12] Khoản 1 Điều 18 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016.

[13] TS. Trần Thái Dương, Các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 (356), năm 2017, tr. 58.

[14] Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Nhóm Ngân hàng thế giới, Báo cáo tổng quan Việt Nam 2035: Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ, 2014, tr. 72.

Đến năm 2016, Việt Nam đã hình thành hệ thống trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục ở cấp tỉnh ở trên 20 tỉnh thành phố; đã có 107 cơ sở giáo dục chuyên biệt và 12 trung tâm giáo dục trẻ em khuyết tật và các triển khai giáo dục hòa nhập ở tất cả các cấp học phổ thông trong cả nước.

[15] Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Nhóm Ngân hàng thế giới, Báo cáo tổng quan Việt Nam 2035: Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ, 2014, tr. 73.

[16] Đăng Doanh, Hướng tới sinh kế bền vững cho người khuyết tật, http://laodongxahoi.net/dap-ung-nhu-cau-va-thach-thuc-cua-nguoi-khuyet-tat-1308602.html, truy cập ngày 29/6/2018.

[17] Hiến pháp năm 2013 đã xác định “Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động” (khoản 3 Điều 9). Đó là cơ sở pháp lý vững chắc để các tổ chức xã hội phát huy tốt vai trò của mình trong đời sống chính trị đất nước, góp phần đắc lực vào việc xây dựng đất nước.

[18] TS. Trần Thái Dương, Các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 (356), năm 2017, tr. 52.

[19] P.Thảo, Chủ tịch Quốc hội nói về việc người dân phản ứng liên quan tới luật đặc khu, http://dantri.com.vn/chinh-tri/chu-tich-quoc-hoi-noi-ve-viec-nguoi-dan-phan-ung-lien-quan-toi-luat-dac-khu-201806110839124.htm, truy cập ngày 11/6/2018.

[20] Tạp chí người bảo trợ, Dụng cụ hỗ trợ với người khuyết tật, http://nhandao.net.vn/index.php/hoat-dong-hoi/nghien-cuu-trao-doi/8416-dung-cu-ho-tro-voi-nguoi-khuyet-tat, truy cập ngày 27/6/2018.

[21] Quyết định số 338/QĐ-BGDĐT ngày 30/01/2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Kế hoạch giáo dục người khuyết tật giai đoạn 2018 - 2020 của Ngành Giáo dục.

[22] TS. Trần Thái Dương, Các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12 (356), năm 2017, tr. 52.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: