Thứ năm 19/03/2026 03:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hạn chế trong việc thực hiện chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với người có công

Bài viết nêu lên bất cập trong quy định pháp luật về chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với người có công, dẫn tới vướng mắc trong tổ chức thực hiện ở các địa phương, đồng thời đưa ra giải pháp khắc phục.

Bài viết nêu lên bất cập trong quy định pháp luật về chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với người có công, dẫn tới vướng mắc trong tổ chức thực hiện ở các địa phương, đồng thời đưa ra giải pháp khắc phục.

Hỗ trợ cải thiện nhà ở nói chung, miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với người có công nói riêng là một trong những chính sách đền ơn, đáp nghĩa, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của Đảng, Nhà nước và của nhân dân đối với những người cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Có thể nói, qua hơn 25 năm triển khai và tổ chức thực hiện Quyết định số 118/TTg ngày 27/02/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ người có công với cách mạng cải thiện nhà ở (Quyết định số 118/TTg ngày 27/02/1996) đã tác động tích cực đến các mặt của đời sống, tâm tư, tình cảm của người có công với nước. Nhiều hộ gia đình có công, qua chính sách hỗ trợ này đã tạo điều kiện thuận lợi để có nhà ở ổn định; người có công bày tỏ sự biết ơn đối với Đảng và Nhà nước đã dành sự quan tâm đối với họ và gia đình.

Tuy nhiên, qua quá trình triển khai và tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở, chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với người có công đã nảy sinh nhiều vướng mắc, bất cập, chủ yếu là từ các quy định pháp luật, từ đó, mỗi địa phương, mỗi trường hợp đều có cách làm, cách vận dụng khác nhau. Rà soát, đánh giá các nội dung trong Quyết định số 118/TTg ngày 27/02/1996; Quyết định số 117/2007/QĐ-TTg ngày 25/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 118/TTg ngày 27/02/1996 và Điều 3 Quyết định số 20/2000/QĐ-TTg ngày 03/02/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ người hoạt động cách mạng từ trước Cách mạng tháng tám năm 1945 cải thiện nhà ở (Quyết định số 117/2007/QĐ-TTg); Chỉ thị số 166-TTg ngày 19/3/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức thực hiện Quyết định số 118/TTg ngày 27/02/1996, có thể thấy rằng, thật khó xác định đây là chính sách chỉ hỗ trợ cho người có công đối với những trường hợp thật sự khó khăn về nhà ở, không có điều kiện tạo lập chỗ ở hay là chính sách hỗ trợ một lần mang tính chất đại trà đối với tất cả các trường hợp người có công. Điều này đã dẫn đến việc tổ chức thực hiện có sự thiếu thống nhất giữa các địa phương, giữa các trường hợp trong cùng một địa phương, làm nảy sinh tình trạng so bì giữa các đối tượng người có công, giảm đi ý nghĩa, tính công bằng trong quá trình thực hiện chính sách. Có trường hợp phát sinh khiếu kiện hành chính giữa một bên là người có công với một bên là cơ quan thực hiện chính sách người có công. Mối quan hệ này chủ yếu thuộc các trường hợp là thân nhân gia đình liệt sĩ khởi kiện quyết định hành chính của cơ quan có thẩm quyền trong việc quyết định không cho hưởng chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất.

Điều 2 Quyết định số 118/TTg ngày 27/02/1996, được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 117/2007/QĐ-TTg (Quyết định số 118/TTg) quy định như sau:

“…

2. Điều kiện và mức hỗ trợ.

a) Người có công với Cách mạng có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt không thể tạo lập được nhà ở mà chưa được thuê nhà của Nhà nước hoặc bị mất nhà do thiên tai, hỏa hoạn... thì tùy theo điều kiện của địa phương, hoàn cảnh và công lao của từng người được xét tặng “Nhà tình nghĩa”, được giao đất làm nhà ở, hoặc được mua nhà trả góp.



c) Đối tượng thuộc diện được hỗ trợ cải thiện nhà ở theo Quyết định này nếu mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước thì được hỗ trợ toàn bộ tiền sử dụng đất đối với nhà ở nhiều tầng, nhiều hộ ở.

Trường hợp mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước là nhà ở một tầng hoặc nhà ở nhiều tầng có một hộ ở thì được hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ tiền sử dụng đất theo các mức cụ thể như sau:



- Thân nhân của liệt sĩ quy định tại khoản 1 Điều 14 của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng… được hỗ trợ 70% tiền sử dụng đất.



3. Các mức hỗ trợ tiền sử dụng đất nêu tại khoản c điểm 2 Điều 2 Quyết định này cũng được áp dụng đối với các trường hợp được hỗ trợ bằng hình thức giao đất làm nhà ở.

4. Việc hỗ trợ tiền sử dụng đất đối với người có công với cách mạng chỉ xét một lần cho một hộ gia đình và mức hỗ trợ tiền sử dụng đất được tính theo diện tích đất thực tế được giao nhưng tối đa không vượt quá định mức đất ở cho một hộ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định”.

Tác giả xin đưa ra một dẫn chứng cụ thể: Ông Đ (là con liệt sĩ) ở thành phố Q, tỉnh B khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 465/QĐ-SLĐTBXH ngày 31/12/2019 của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh B về việc không công nhận khiếu nại đề nghị miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với lô đất tái định cư thuộc thành phố Q, tỉnh B. Bản án sơ thẩm số 35/2020/HC-ST ngày 08/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh B đã bác đơn yêu cầu khiếu nại. Nhưng Bản án phúc thẩm số 77 đã quyết định sửa án sơ thẩm, công nhận đơn khởi kiện của ông Đ. Qua việc xét xử của hai cấp Tòa án đã cho thấy, có sự vướng mắc trong việc thực hiện chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất cho người có công nói chung, con liệt sĩ nói riêng.

Tinh thần của Quyết định số 465/QĐ-SLĐTBXH và Bản án sơ thẩm số 35/2020/HC-ST nói trên cho rằng: Không thể thực hiện việc hỗ trợ một lần cho mọi đối tượng người có công nói chung, chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất cho con liệt sĩ nói riêng. Căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 1 Quyết định số 118/TTg thì trường hợp ông Đ (thân nhân liệt sĩ) là đối tượng được xem xét miễn, giảm tiền sử dụng đất theo Quyết định số 118/TTg. Tuy nhiên, căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 Quyết định số 118/TTg thì những trường hợp mà bản thân và gia đình họ đã có nhà ở nhưng đã bán (như trường hợp ông Đ), đã được hóa giá nhà hoặc đã được giao đất ở thì không thuộc diện xét giao đất ở và miễn, giảm theo Quyết định số 118/TTg.

Trong khi đó, Bản án phúc thẩm số 77 đã nhận định: Chính sách hỗ trợ nhà ở, miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với người có công được thực hiện “xét giảm một lần”. Căn cứ quy định tại điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 2 Quyết định số 118/TTg và quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất (Nghị định số 45/2014/NĐ-CP) thì ông Đ là thân nhân liệt sĩ, được giảm nộp tiền sử dụng đất (đến 70%). Do đó, việc Bản án sơ thẩm số 35/2020/HC-ST nhận định trường hợp con liệt sĩ như ông Đ đã có nhà từ trước nên không đủ điều kiện để áp dụng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 Quyết định số 118/TTg là không phù hợp. Bởi vì, điều kiện này chỉ áp dụng cho những đối tượng được hưởng ưu đãi theo quy định tại điểm a, còn trường hợp là thân nhân liệt sĩ và thuộc trường hợp được giao đất làm nhà ở thuộc trường hợp áp dụng điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 2 Quyết định số 118/TTg. Vì vậy, điều kiện áp dụng ở “điểm a” không bao gồm là điều kiện để áp dụng cho cả “điểm c” trong khoản 2 Điều 2 Quyết định số 118/TTg.

Bản án phúc thẩm số 77 còn khẳng định: Trường hợp là con liệt sĩ (như ông Đ) đang không có nhà ở, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn hay không, đã có nhà ở hay chưa đều không ảnh hưởng đến quyền lợi là được miễn, giảm tiền sử dụng đất theo Quyết định số 118/TTg. Việc cấp sơ thẩm xác định một trường hợp như ông Đ là thân nhân liệt sĩ, thuộc đối tượng xét miễn, giảm tiền sử dụng đất nhưng lại căn cứ các điều kiện để được hưởng các quyền lợi khác của người có công và từ đó không chấp nhận yêu cầu của ông Đ là được miễn, giảm tiền sử dụng đất là không phù hợp với quy định tại Điều 12 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP.

Theo tác giả, nhìn một cách tổng quan thì Quyết định số 118/TTg dường như có “bóng dáng” của quan điểm muốn chọn đối tượng thật sự khó khăn về nhà ở, không có khả năng tạo lập nhà ở để thực hiện chính sách hỗ trợ, chứ không được hỗ trợ mang tính chất đại trà. Tuy nhiên, xét về bố cục, kỹ thuật lập pháp và tính chất dẫn chiếu của Quyết định này thì việc nhận định và đi đến phán quyết của Bản án phúc thẩm số 77 có sức thuyết phục hơn.

Nhằm tháo gỡ những vướng mắc, bất cập như trên, tác giả kiến nghị cần khẩn trương tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách hỗ trợ về nhà ở đối với người có công, sửa đổi Quyết định số 118/TTg theo hướng: Cho phép tất cả các đối tượng chính sách được liệt kê được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở với nhiều mức khác nhau, có thể được hưởng một lần bằng tỷ lệ miễn, giảm tiền sử dụng đất hoặc số tiền cụ thể như một số địa phương đã thực hiện. Trường hợp chỉ thực hiện việc hỗ trợ cho những đối tượng thật sự khó khăn thì cũng phải được kết luận và sửa đổi Quyết định số 118/TTg để dùng làm căn cứ tổ chức thực hiện.

ThS. Phạm Dân
Phó Giám đốc Sở Tư pháp Bình Định

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: