Thứ ba 12/05/2026 18:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hạn chế trong việc thực hiện chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với người có công

Bài viết nêu lên bất cập trong quy định pháp luật về chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với người có công, dẫn tới vướng mắc trong tổ chức thực hiện ở các địa phương, đồng thời đưa ra giải pháp khắc phục.

Bài viết nêu lên bất cập trong quy định pháp luật về chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với người có công, dẫn tới vướng mắc trong tổ chức thực hiện ở các địa phương, đồng thời đưa ra giải pháp khắc phục.

Hỗ trợ cải thiện nhà ở nói chung, miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với người có công nói riêng là một trong những chính sách đền ơn, đáp nghĩa, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của Đảng, Nhà nước và của nhân dân đối với những người cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Có thể nói, qua hơn 25 năm triển khai và tổ chức thực hiện Quyết định số 118/TTg ngày 27/02/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ người có công với cách mạng cải thiện nhà ở (Quyết định số 118/TTg ngày 27/02/1996) đã tác động tích cực đến các mặt của đời sống, tâm tư, tình cảm của người có công với nước. Nhiều hộ gia đình có công, qua chính sách hỗ trợ này đã tạo điều kiện thuận lợi để có nhà ở ổn định; người có công bày tỏ sự biết ơn đối với Đảng và Nhà nước đã dành sự quan tâm đối với họ và gia đình.

Tuy nhiên, qua quá trình triển khai và tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở, chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với người có công đã nảy sinh nhiều vướng mắc, bất cập, chủ yếu là từ các quy định pháp luật, từ đó, mỗi địa phương, mỗi trường hợp đều có cách làm, cách vận dụng khác nhau. Rà soát, đánh giá các nội dung trong Quyết định số 118/TTg ngày 27/02/1996; Quyết định số 117/2007/QĐ-TTg ngày 25/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 118/TTg ngày 27/02/1996 và Điều 3 Quyết định số 20/2000/QĐ-TTg ngày 03/02/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ người hoạt động cách mạng từ trước Cách mạng tháng tám năm 1945 cải thiện nhà ở (Quyết định số 117/2007/QĐ-TTg); Chỉ thị số 166-TTg ngày 19/3/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức thực hiện Quyết định số 118/TTg ngày 27/02/1996, có thể thấy rằng, thật khó xác định đây là chính sách chỉ hỗ trợ cho người có công đối với những trường hợp thật sự khó khăn về nhà ở, không có điều kiện tạo lập chỗ ở hay là chính sách hỗ trợ một lần mang tính chất đại trà đối với tất cả các trường hợp người có công. Điều này đã dẫn đến việc tổ chức thực hiện có sự thiếu thống nhất giữa các địa phương, giữa các trường hợp trong cùng một địa phương, làm nảy sinh tình trạng so bì giữa các đối tượng người có công, giảm đi ý nghĩa, tính công bằng trong quá trình thực hiện chính sách. Có trường hợp phát sinh khiếu kiện hành chính giữa một bên là người có công với một bên là cơ quan thực hiện chính sách người có công. Mối quan hệ này chủ yếu thuộc các trường hợp là thân nhân gia đình liệt sĩ khởi kiện quyết định hành chính của cơ quan có thẩm quyền trong việc quyết định không cho hưởng chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất.

Điều 2 Quyết định số 118/TTg ngày 27/02/1996, được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 117/2007/QĐ-TTg (Quyết định số 118/TTg) quy định như sau:

“…

2. Điều kiện và mức hỗ trợ.

a) Người có công với Cách mạng có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt không thể tạo lập được nhà ở mà chưa được thuê nhà của Nhà nước hoặc bị mất nhà do thiên tai, hỏa hoạn... thì tùy theo điều kiện của địa phương, hoàn cảnh và công lao của từng người được xét tặng “Nhà tình nghĩa”, được giao đất làm nhà ở, hoặc được mua nhà trả góp.



c) Đối tượng thuộc diện được hỗ trợ cải thiện nhà ở theo Quyết định này nếu mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước thì được hỗ trợ toàn bộ tiền sử dụng đất đối với nhà ở nhiều tầng, nhiều hộ ở.

Trường hợp mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước là nhà ở một tầng hoặc nhà ở nhiều tầng có một hộ ở thì được hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ tiền sử dụng đất theo các mức cụ thể như sau:



- Thân nhân của liệt sĩ quy định tại khoản 1 Điều 14 của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng… được hỗ trợ 70% tiền sử dụng đất.



3. Các mức hỗ trợ tiền sử dụng đất nêu tại khoản c điểm 2 Điều 2 Quyết định này cũng được áp dụng đối với các trường hợp được hỗ trợ bằng hình thức giao đất làm nhà ở.

4. Việc hỗ trợ tiền sử dụng đất đối với người có công với cách mạng chỉ xét một lần cho một hộ gia đình và mức hỗ trợ tiền sử dụng đất được tính theo diện tích đất thực tế được giao nhưng tối đa không vượt quá định mức đất ở cho một hộ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định”.

Tác giả xin đưa ra một dẫn chứng cụ thể: Ông Đ (là con liệt sĩ) ở thành phố Q, tỉnh B khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 465/QĐ-SLĐTBXH ngày 31/12/2019 của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh B về việc không công nhận khiếu nại đề nghị miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với lô đất tái định cư thuộc thành phố Q, tỉnh B. Bản án sơ thẩm số 35/2020/HC-ST ngày 08/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh B đã bác đơn yêu cầu khiếu nại. Nhưng Bản án phúc thẩm số 77 đã quyết định sửa án sơ thẩm, công nhận đơn khởi kiện của ông Đ. Qua việc xét xử của hai cấp Tòa án đã cho thấy, có sự vướng mắc trong việc thực hiện chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất cho người có công nói chung, con liệt sĩ nói riêng.

Tinh thần của Quyết định số 465/QĐ-SLĐTBXH và Bản án sơ thẩm số 35/2020/HC-ST nói trên cho rằng: Không thể thực hiện việc hỗ trợ một lần cho mọi đối tượng người có công nói chung, chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất cho con liệt sĩ nói riêng. Căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 1 Quyết định số 118/TTg thì trường hợp ông Đ (thân nhân liệt sĩ) là đối tượng được xem xét miễn, giảm tiền sử dụng đất theo Quyết định số 118/TTg. Tuy nhiên, căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 Quyết định số 118/TTg thì những trường hợp mà bản thân và gia đình họ đã có nhà ở nhưng đã bán (như trường hợp ông Đ), đã được hóa giá nhà hoặc đã được giao đất ở thì không thuộc diện xét giao đất ở và miễn, giảm theo Quyết định số 118/TTg.

Trong khi đó, Bản án phúc thẩm số 77 đã nhận định: Chính sách hỗ trợ nhà ở, miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với người có công được thực hiện “xét giảm một lần”. Căn cứ quy định tại điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 2 Quyết định số 118/TTg và quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất (Nghị định số 45/2014/NĐ-CP) thì ông Đ là thân nhân liệt sĩ, được giảm nộp tiền sử dụng đất (đến 70%). Do đó, việc Bản án sơ thẩm số 35/2020/HC-ST nhận định trường hợp con liệt sĩ như ông Đ đã có nhà từ trước nên không đủ điều kiện để áp dụng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 Quyết định số 118/TTg là không phù hợp. Bởi vì, điều kiện này chỉ áp dụng cho những đối tượng được hưởng ưu đãi theo quy định tại điểm a, còn trường hợp là thân nhân liệt sĩ và thuộc trường hợp được giao đất làm nhà ở thuộc trường hợp áp dụng điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 2 Quyết định số 118/TTg. Vì vậy, điều kiện áp dụng ở “điểm a” không bao gồm là điều kiện để áp dụng cho cả “điểm c” trong khoản 2 Điều 2 Quyết định số 118/TTg.

Bản án phúc thẩm số 77 còn khẳng định: Trường hợp là con liệt sĩ (như ông Đ) đang không có nhà ở, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn hay không, đã có nhà ở hay chưa đều không ảnh hưởng đến quyền lợi là được miễn, giảm tiền sử dụng đất theo Quyết định số 118/TTg. Việc cấp sơ thẩm xác định một trường hợp như ông Đ là thân nhân liệt sĩ, thuộc đối tượng xét miễn, giảm tiền sử dụng đất nhưng lại căn cứ các điều kiện để được hưởng các quyền lợi khác của người có công và từ đó không chấp nhận yêu cầu của ông Đ là được miễn, giảm tiền sử dụng đất là không phù hợp với quy định tại Điều 12 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP.

Theo tác giả, nhìn một cách tổng quan thì Quyết định số 118/TTg dường như có “bóng dáng” của quan điểm muốn chọn đối tượng thật sự khó khăn về nhà ở, không có khả năng tạo lập nhà ở để thực hiện chính sách hỗ trợ, chứ không được hỗ trợ mang tính chất đại trà. Tuy nhiên, xét về bố cục, kỹ thuật lập pháp và tính chất dẫn chiếu của Quyết định này thì việc nhận định và đi đến phán quyết của Bản án phúc thẩm số 77 có sức thuyết phục hơn.

Nhằm tháo gỡ những vướng mắc, bất cập như trên, tác giả kiến nghị cần khẩn trương tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách hỗ trợ về nhà ở đối với người có công, sửa đổi Quyết định số 118/TTg theo hướng: Cho phép tất cả các đối tượng chính sách được liệt kê được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở với nhiều mức khác nhau, có thể được hưởng một lần bằng tỷ lệ miễn, giảm tiền sử dụng đất hoặc số tiền cụ thể như một số địa phương đã thực hiện. Trường hợp chỉ thực hiện việc hỗ trợ cho những đối tượng thật sự khó khăn thì cũng phải được kết luận và sửa đổi Quyết định số 118/TTg để dùng làm căn cứ tổ chức thực hiện.

ThS. Phạm Dân
Phó Giám đốc Sở Tư pháp Bình Định

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: