Thứ bảy 07/02/2026 20:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hạn chế trong việc thực hiện chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với người có công

Bài viết nêu lên bất cập trong quy định pháp luật về chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với người có công, dẫn tới vướng mắc trong tổ chức thực hiện ở các địa phương, đồng thời đưa ra giải pháp khắc phục.

Bài viết nêu lên bất cập trong quy định pháp luật về chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với người có công, dẫn tới vướng mắc trong tổ chức thực hiện ở các địa phương, đồng thời đưa ra giải pháp khắc phục.

Hỗ trợ cải thiện nhà ở nói chung, miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với người có công nói riêng là một trong những chính sách đền ơn, đáp nghĩa, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của Đảng, Nhà nước và của nhân dân đối với những người cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Có thể nói, qua hơn 25 năm triển khai và tổ chức thực hiện Quyết định số 118/TTg ngày 27/02/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ người có công với cách mạng cải thiện nhà ở (Quyết định số 118/TTg ngày 27/02/1996) đã tác động tích cực đến các mặt của đời sống, tâm tư, tình cảm của người có công với nước. Nhiều hộ gia đình có công, qua chính sách hỗ trợ này đã tạo điều kiện thuận lợi để có nhà ở ổn định; người có công bày tỏ sự biết ơn đối với Đảng và Nhà nước đã dành sự quan tâm đối với họ và gia đình.

Tuy nhiên, qua quá trình triển khai và tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở, chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với người có công đã nảy sinh nhiều vướng mắc, bất cập, chủ yếu là từ các quy định pháp luật, từ đó, mỗi địa phương, mỗi trường hợp đều có cách làm, cách vận dụng khác nhau. Rà soát, đánh giá các nội dung trong Quyết định số 118/TTg ngày 27/02/1996; Quyết định số 117/2007/QĐ-TTg ngày 25/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 118/TTg ngày 27/02/1996 và Điều 3 Quyết định số 20/2000/QĐ-TTg ngày 03/02/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ người hoạt động cách mạng từ trước Cách mạng tháng tám năm 1945 cải thiện nhà ở (Quyết định số 117/2007/QĐ-TTg); Chỉ thị số 166-TTg ngày 19/3/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức thực hiện Quyết định số 118/TTg ngày 27/02/1996, có thể thấy rằng, thật khó xác định đây là chính sách chỉ hỗ trợ cho người có công đối với những trường hợp thật sự khó khăn về nhà ở, không có điều kiện tạo lập chỗ ở hay là chính sách hỗ trợ một lần mang tính chất đại trà đối với tất cả các trường hợp người có công. Điều này đã dẫn đến việc tổ chức thực hiện có sự thiếu thống nhất giữa các địa phương, giữa các trường hợp trong cùng một địa phương, làm nảy sinh tình trạng so bì giữa các đối tượng người có công, giảm đi ý nghĩa, tính công bằng trong quá trình thực hiện chính sách. Có trường hợp phát sinh khiếu kiện hành chính giữa một bên là người có công với một bên là cơ quan thực hiện chính sách người có công. Mối quan hệ này chủ yếu thuộc các trường hợp là thân nhân gia đình liệt sĩ khởi kiện quyết định hành chính của cơ quan có thẩm quyền trong việc quyết định không cho hưởng chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất.

Điều 2 Quyết định số 118/TTg ngày 27/02/1996, được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 117/2007/QĐ-TTg (Quyết định số 118/TTg) quy định như sau:

“…

2. Điều kiện và mức hỗ trợ.

a) Người có công với Cách mạng có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt không thể tạo lập được nhà ở mà chưa được thuê nhà của Nhà nước hoặc bị mất nhà do thiên tai, hỏa hoạn... thì tùy theo điều kiện của địa phương, hoàn cảnh và công lao của từng người được xét tặng “Nhà tình nghĩa”, được giao đất làm nhà ở, hoặc được mua nhà trả góp.



c) Đối tượng thuộc diện được hỗ trợ cải thiện nhà ở theo Quyết định này nếu mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước thì được hỗ trợ toàn bộ tiền sử dụng đất đối với nhà ở nhiều tầng, nhiều hộ ở.

Trường hợp mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước là nhà ở một tầng hoặc nhà ở nhiều tầng có một hộ ở thì được hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ tiền sử dụng đất theo các mức cụ thể như sau:



- Thân nhân của liệt sĩ quy định tại khoản 1 Điều 14 của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng… được hỗ trợ 70% tiền sử dụng đất.



3. Các mức hỗ trợ tiền sử dụng đất nêu tại khoản c điểm 2 Điều 2 Quyết định này cũng được áp dụng đối với các trường hợp được hỗ trợ bằng hình thức giao đất làm nhà ở.

4. Việc hỗ trợ tiền sử dụng đất đối với người có công với cách mạng chỉ xét một lần cho một hộ gia đình và mức hỗ trợ tiền sử dụng đất được tính theo diện tích đất thực tế được giao nhưng tối đa không vượt quá định mức đất ở cho một hộ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định”.

Tác giả xin đưa ra một dẫn chứng cụ thể: Ông Đ (là con liệt sĩ) ở thành phố Q, tỉnh B khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 465/QĐ-SLĐTBXH ngày 31/12/2019 của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh B về việc không công nhận khiếu nại đề nghị miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với lô đất tái định cư thuộc thành phố Q, tỉnh B. Bản án sơ thẩm số 35/2020/HC-ST ngày 08/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh B đã bác đơn yêu cầu khiếu nại. Nhưng Bản án phúc thẩm số 77 đã quyết định sửa án sơ thẩm, công nhận đơn khởi kiện của ông Đ. Qua việc xét xử của hai cấp Tòa án đã cho thấy, có sự vướng mắc trong việc thực hiện chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất cho người có công nói chung, con liệt sĩ nói riêng.

Tinh thần của Quyết định số 465/QĐ-SLĐTBXH và Bản án sơ thẩm số 35/2020/HC-ST nói trên cho rằng: Không thể thực hiện việc hỗ trợ một lần cho mọi đối tượng người có công nói chung, chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất cho con liệt sĩ nói riêng. Căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 1 Quyết định số 118/TTg thì trường hợp ông Đ (thân nhân liệt sĩ) là đối tượng được xem xét miễn, giảm tiền sử dụng đất theo Quyết định số 118/TTg. Tuy nhiên, căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 Quyết định số 118/TTg thì những trường hợp mà bản thân và gia đình họ đã có nhà ở nhưng đã bán (như trường hợp ông Đ), đã được hóa giá nhà hoặc đã được giao đất ở thì không thuộc diện xét giao đất ở và miễn, giảm theo Quyết định số 118/TTg.

Trong khi đó, Bản án phúc thẩm số 77 đã nhận định: Chính sách hỗ trợ nhà ở, miễn, giảm tiền sử dụng đất đối với người có công được thực hiện “xét giảm một lần”. Căn cứ quy định tại điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 2 Quyết định số 118/TTg và quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất (Nghị định số 45/2014/NĐ-CP) thì ông Đ là thân nhân liệt sĩ, được giảm nộp tiền sử dụng đất (đến 70%). Do đó, việc Bản án sơ thẩm số 35/2020/HC-ST nhận định trường hợp con liệt sĩ như ông Đ đã có nhà từ trước nên không đủ điều kiện để áp dụng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 Quyết định số 118/TTg là không phù hợp. Bởi vì, điều kiện này chỉ áp dụng cho những đối tượng được hưởng ưu đãi theo quy định tại điểm a, còn trường hợp là thân nhân liệt sĩ và thuộc trường hợp được giao đất làm nhà ở thuộc trường hợp áp dụng điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 2 Quyết định số 118/TTg. Vì vậy, điều kiện áp dụng ở “điểm a” không bao gồm là điều kiện để áp dụng cho cả “điểm c” trong khoản 2 Điều 2 Quyết định số 118/TTg.

Bản án phúc thẩm số 77 còn khẳng định: Trường hợp là con liệt sĩ (như ông Đ) đang không có nhà ở, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn hay không, đã có nhà ở hay chưa đều không ảnh hưởng đến quyền lợi là được miễn, giảm tiền sử dụng đất theo Quyết định số 118/TTg. Việc cấp sơ thẩm xác định một trường hợp như ông Đ là thân nhân liệt sĩ, thuộc đối tượng xét miễn, giảm tiền sử dụng đất nhưng lại căn cứ các điều kiện để được hưởng các quyền lợi khác của người có công và từ đó không chấp nhận yêu cầu của ông Đ là được miễn, giảm tiền sử dụng đất là không phù hợp với quy định tại Điều 12 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP.

Theo tác giả, nhìn một cách tổng quan thì Quyết định số 118/TTg dường như có “bóng dáng” của quan điểm muốn chọn đối tượng thật sự khó khăn về nhà ở, không có khả năng tạo lập nhà ở để thực hiện chính sách hỗ trợ, chứ không được hỗ trợ mang tính chất đại trà. Tuy nhiên, xét về bố cục, kỹ thuật lập pháp và tính chất dẫn chiếu của Quyết định này thì việc nhận định và đi đến phán quyết của Bản án phúc thẩm số 77 có sức thuyết phục hơn.

Nhằm tháo gỡ những vướng mắc, bất cập như trên, tác giả kiến nghị cần khẩn trương tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách hỗ trợ về nhà ở đối với người có công, sửa đổi Quyết định số 118/TTg theo hướng: Cho phép tất cả các đối tượng chính sách được liệt kê được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở với nhiều mức khác nhau, có thể được hưởng một lần bằng tỷ lệ miễn, giảm tiền sử dụng đất hoặc số tiền cụ thể như một số địa phương đã thực hiện. Trường hợp chỉ thực hiện việc hỗ trợ cho những đối tượng thật sự khó khăn thì cũng phải được kết luận và sửa đổi Quyết định số 118/TTg để dùng làm căn cứ tổ chức thực hiện.

ThS. Phạm Dân
Phó Giám đốc Sở Tư pháp Bình Định

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: