Thứ bảy 24/10/2026 18:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoa Kỳ với việc gia nhập và thực thi Công ước La Hay năm 1980

Khi tham gia Công ước, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ được chỉ định làm cơ quan trung ương. Để thực thi Công ước, Hoa Kỳ đã triển khai các hoạt động toàn diện từ hoàn thiện thể chế, tổ chức, nhân lực, cơ chế phối hợp nội bộ và quốc tế.

1. Bối cảnh gia nhập Công ước của Hoa Kỳ
Trong bối cảnh tỷ lệ ly hôn tại Hoa Kỳ trong những năm 1980 tăng cao (lên tới 1.182.000 vụ)[1], đồng thời, tình trạng di cư trở nên phổ biến đã dẫn tới những vụ giữ lại hoặc đưa trẻ đi trái phép được thực hiện bởi chính cha mẹ, người thân trong gia đình của trẻ gia tăng. Những vụ việc này đã ảnh hưởng rất lớn tới tâm lý và sự phát triển bình thường của trẻ em. Do đó, Hoa Kỳ đã hỗ trợ Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế soạn thảo Công ước La Hay năm 1980 về các khía cạnh dân sự của hành vi giữ hoặc đưa trẻ em đi trái phép (sau đây gọi là Công ước) và trở thành một trong những quốc gia đầu tiên ký Công ước (ngày 23/12/1981). Tuy nhiên, ngày 01/7/1988 Công ước mới chính thức có hiệu lực tại Hoa Kỳ. Mặc dù có đặc thù là quốc gia liên bang, mỗi bang có một hệ thống pháp luật riêng, tuy nhiên Hoa Kỳ đã áp dụng rất thành công khi tham gia và thực thi Công ước. Theo số liệu thống kê của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, chỉ tính riêng năm 2017 có 215 trẻ bị đưa đi hoặc giữ lại trái phép có nơi thường trú tại Hoa Kỳ được trả lại theo kênh của Công ước và 356 trường hợp được giải quyết theo các kênh khác nhau[2].

2. Hoàn thiện thể chế, nâng cao nhận thức của người dân

2.1. Hoàn thiện thể chế

Để thiết lập cơ sở pháp lý cho việc thực hiện Công ước, Quốc hội Hoa Kỳ đã ban hành Đạo luật về biện pháp khắc phục hành vi đưa trẻ em đi trái phép (ICARA) vào năm 1988. ICARA quy định về thẩm quyền, các vấn đề khác liên quan đến việc thực thi các quy định của Công ước tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Hoa Kỳ cũng nhấn mạnh rằng, ICARA chỉ là một đạo luật nhằm bổ sung và hỗ trợ Công ước, mà không có giá trị thay thế Công ước. Bên cạnh đó, nhiều quy định ở các lĩnh vực khác có liên quan cũng được bổ sung để tạo điều kiện cho việc thực thi Công ước. Đặc biệt, tại Hoa Kỳ, Công ước không phải là cơ chế duy nhất để trả lại trẻ em bị đưa đi trái phép. Theo đó, cha mẹ có con bị mang đi hoặc lưu giữ trái phép có thể lựa chọn giữa việc nộp đơn theo Công ước hoặc theo cơ chế được quy định tại Luật chung về thẩm quyền và thi hành quyền nuôi dưỡng trẻ em (UCCJEA). Quy định của UCCJEA có một số điểm khác biệt với Công ước như độ tuổi, Tòa án có thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ việc, độ tuổi trẻ em được bảo vệ, thủ tục giải quyết. Cụ thể, về căn cứ ra quyết định trả lại trẻ, theo UCCJEA cha mẹ nếu muốn nộp đơn yêu cầu trả lại trẻ hoặc bảo đảm quyền thăm nom buộc phải có quyết định của Tòa án trao quyền nuôi dưỡng hoặc quyền thăm nom hay về độ tuổi trẻ em được bảo vệ theo UCCJEA là trẻ dưới 18 tuổi (Công ước chỉ áp dụng đối với trẻ em dưới 16 tuổi)…

2.2. Tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức của người dân

Hoa Kỳ là quốc gia thực hiện rất thành công Công ước, bên cạnh việc có một cơ chế thực thi hiệu quả thì công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về hành vi giữ hoặc đưa trẻ đi trái phép cho các cơ quan, tổ chức và người dân đóng vai trò quan trọng. Qua hơn 30 năm thực thi Công ước, Hoa Kỳ luôn luôn chú trọng đến công tác tuyên truyền, phổ biến và đào tạo nâng cao năng lực cho các tổ chức, cá nhân có liên quan về Công ước, cụ thể như các cán bộ, thẩm phán, cơ quan thực thi pháp luật. Việc đào tạo này đối với các cá nhân như thẩm phán, luật sư, công tố viên đôi khi là bắt buộc. Tùy theo chức năng, nhiệm vụ mà thời gian tham gia đào tạo bắt buộc đối với các đối tượng này là khác nhau, tuy nhiên, thông thường thời gian đào tạo bắt buộc đối với các đối tượng này trong khoảng 16 - 30 giờ/năm.

Để đảm bảo công tác đào tạo, bồi dưỡng có hiệu quả, các cơ quan có thẩm quyền của Hoa Kỳ đều phát hành tài liệu hướng dẫn chi tiết thực thi Công ước cho các đối tượng liên quan và tài liệu hướng dẫn thực tiễn cho các đối tượng phù hợp (cụ thể như tài liệu hướng dẫn cho công tố viên, thẩm phán, luật sư…). Ngoài ra, Hoa Kỳ cũng tích cực tuyên truyền, phổ biến về nội dung của Công ước cho người dân. Bên cạnh đó, hàng năm, Hoa Kỳ đều có báo cáo về tình hình hợp tác và giải quyết các yêu cầu trao trả trẻ theo quy định của Công ước đối với các quốc gia mà Hoa Kỳ đã lựa chọn làm đối tác. Các báo cáo này được công bố công khai tại trang thông tin của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ[3].

3. Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tham gia thực hiện yêu cầu về trao trả trẻ và quyền thăm nom

3.1. Về vai trò của cơ quan trung ương

Để thực thi Công ước, cơ quan trung ương được chỉ định của mỗi quốc gia đóng vai trò rất quan trọng. Ở Hoa Kỳ, cơ quan trung ương được chỉ định là Bộ Ngoại giao (cụ thể là Văn phòng Các vấn đề trẻ em) có nghĩa vụ giải quyết các vụ việc trẻ bị đưa đi hoặc giữ lại trái phép. Theo Điều 11606 ICARA, cơ quan trung ương có chức năng thực hiện những nhiệm vụ được quy định bởi Công ước. Cơ quan trung ương Hoa Kỳ có trách nhiệm chỉ định cán bộ đầu mối liên quan đến Công ước ở các Sứ quán của Hoa Kỳ ở nước ngoài. Cơ quan trung ương là cầu nối giữa các đương sự với các cơ quan có thẩm quyền trong nước và cơ quan trung ương của các nước thành viên. Do vậy, nếu cơ quan trung ương có đầy đủ năng lực, thẩm quyền thì việc thực thi Công ước thực sự phát huy hiệu quả. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến bảo vệ trẻ em, trong đó có nhiệm vụ là cơ quan trung ương thực thi Công ước gồm có 120 nhân viên và được chia thành 03 bộ phận chính: (i) Bộ phận phụ trách các vấn đề về trẻ bị đưa đi hoặc giữ lại trái phép (bao gồm cả các vụ việc mang trẻ em vào hoặc mang ra khỏi Hoa Kỳ); (ii) Bộ phận phụ trách các biện pháp ngăn chặn việc trẻ bị đưa đi hoặc giữ lại trái phép (bao gồm cả chương trình cảnh báo việc phát hành hộ chiếu cho trẻ em); (iii) Bộ phận về con nuôi quốc tế phụ trách các vấn đề về nuôi con nuôi quốc tế.

3.2. Lực lượng cảnh sát

Lực lượng cảnh sát với vai trò là cơ quan tiếp nhận thông tin từ người cha/mẹ có trẻ bị mang đi trái phép và xử lý thông tin tiếp nhận và thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm nơi cư trú của trẻ trên cơ sở các thông tin được cung cấp và hệ thống cơ sở sở dữ liệu quốc gia. Tùy từng trường hợp mà lực lượng cảnh sát có thể sử dụng hệ thống báo động thông qua nhiều phương tiện khác nhau như: Điện thoại, truyền hình, đài phát thanh và các phương tiện truyền thông công cộng khác. Việc sử dụng hệ thống cảnh báo này cũng được thực hiện theo quy trình nhất định, đảm bảo tính hiệu quả. Cụ thể như, trước tiên căn cứ vào thông tin được cung cấp, lực lượng cảnh sát nhanh chóng tiến hành điều tra và tổ chức khoanh vùng để xác định nơi trẻ hiện đang được giữ lại. Trong trường hợp xác định được trẻ chưa rời khỏi bang hoặc hạt nào đó thì hệ thống báo động chỉ được phát ra trong phạm vi toàn hạt hoặc bang đó cho mọi người dân được biết qua điện thoại và các phương tiện truyền thông khác. Trường hợp trẻ được xác định đã được đưa ra khỏi một bang, thậm chí là ra khỏi lãnh thổ Hoa Kỳ thì lực lượng cảnh sát sẽ đưa ra lệnh báo động trên toàn liên bang hoặc phối hợp với lực lượng FBI và cơ quan cảnh sát quốc gia liên quan để đưa ra lệnh báo động trên phạm vi toàn liên bang hoặc toàn cầu.

Trong quá trình đưa ra lệnh báo động, lực lượng cảnh sát bang và liên bang đều phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định về đảm bảo và tôn trọng quyền riêng tư của trẻ và phải được sự đồng ý của cha/mẹ trẻ về việc sử dụng thông tin, hình ảnh của trẻ khi phát lệnh báo động và gửi đến từng công dân trên phạm vi từng bang, toàn liên bang hay toàn thế giới.

3.3. Cơ quan công tố

Tại Hoa Kỳ, trong các vụ việc giải quyết yêu cầu trao trả lại trẻ bị đưa đi trái phép bởi cha/mẹ trẻ thì cơ quan công tố đóng vai trò rất quan trọng. Cơ quan công tố sẽ nhận đơn từ cơ quan trung ương của Hoa Kỳ (đối với trường hợp trẻ bị đưa từ nước ngoài về Hoa Kỳ) hoặc tiếp nhận đơn từ cha/mẹ trẻ có trẻ bị đưa đi trái phép.

Trên cơ sở đơn nhận từ cơ quan trung ương hoặc nhận trực tiếp, cơ quan công tố cấp bang Hoa Kỳ sẽ tiến hành rà soát đơn để xác định đơn thuộc thẩm quyền của hạt nào để gửi hồ sơ đến hạt đó. Trên cơ sở hồ sơ nhận được, cơ quan công tố của hạt đó sẽ tiến hành điều tra, xác định nơi ở của trẻ và chuyển hồ sơ để Tòa án xem xét có trao trả lại trẻ hay không. Trường hợp Tòa án đã ra quyết định yêu cầu một bên phải trao trả trẻ trở về nơi thường trú cuối cùng mà người cha/mẹ đang giữ trẻ không thực hiện quyết định của Tòa án sẽ bị coi là có hành vi chống đối quyết định của Tòa án và trong một số trường hợp, hành vi này có thể bị xem xét và xử lý theo quy định của pháp luật hình sự và có thể bị tuyên phạt tù theo quy định của pháp luật.

3.4. Về sự tham gia của luật sư

Luật sư có vai trò là người đại diện cho cha/mẹ và trẻ em trong các vụ việc tranh chấp về ly hôn, cấp dưỡng nuôi con, bạo hành gia đình và giữ hoặc đưa trẻ đi trái pháp luật. Tại Hoa Kỳ, trong một vụ việc có thể có nhiều luật sư tham gia đại diện cho các bên cha, mẹ và trẻ em. Về nguyên tắc, việc tham gia của luật sư trong các vụ việc này đều phải trả phí, tuy nhiên, trong một số trường hợp luật sư tham gia với vai trò là các tình nguyện viên hoặc làm công tác thiện nguyện thì người có đơn yêu cầu sẽ được miễn phí hoàn toàn đối với chi phí luật sư cho các trường hợp có hoàn cảnh đặc biệt.

Khi tham gia Công ước, Hoa Kỳ đã bảo lưu đối với Điều 2 Công ước, theo đó, Hoa Kỳ không cung cấp tư vấn pháp lý đối với những vụ việc thuộc phạm vi Công ước, vì Hoa Kỳ cho rằng đó là những vụ việc dân sự.

3.5. Về sự tham gia của Tòa án

Tòa án nơi trẻ em cư trú có thẩm quyền giải quyết những vụ việc liên quan đến Công ước có thể nộp đơn ở bang hoặc Tòa án liên bang (do cha, mẹ trẻ quyết định). Mặc dù không có quy định cụ thể nhưng thực tế có giao loại việc này cho 01 thẩm phán chuyên xử lý để tạo sự chuyên nghiệp, hiệu quả cho hoạt động xét xử.

Về thủ tục xem xét vụ việc, dù không quy định thời hạn cụ thể nhưng Tòa án tối cao Hoa Kỳ có hướng dẫn, yêu cầu phải giải quyết vụ việc đưa trẻ đi trái phép một cách nhanh chóng nhất có thể. Vụ việc có thể đưa ra giải quyết theo một trong hai kênh khác nhau: (i) Công nhận và cho thi hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền; (ii) Theo kênh của Công ước.

Tại Hoa Kỳ, chỉ có Tòa án bang mới có thẩm quyền giải quyết đơn yêu cầu trả lại trẻ; cả Tòa án bang và Tòa án liên bang đều có thẩm quyền xét xử đơn yêu cầu trả lại trẻ theo Công ước. Tuy nhiên, những vụ việc về quyền thăm nom chỉ có thể được nộp tại các Tòa án bang.

Tòa về cấp dưỡng và giải quyết quyền nuôi con nuôi chịu trách nhiệm thụ lý và giải quyết các tranh chấp về nuôi con nuôi, trong đó có giải quyết yêu cầu về hành vi đưa trẻ đi hoặc giữ trẻ lại trái pháp luật của một bên cha hoặc mẹ trẻ.

4. Thực hiện các yêu cầu trao trả trẻ hoặc đảm bảo quyền thăm nom

Khi yêu cầu trao trả trẻ bị đưa đi hoặc giữ lại trái phép theo quy định của Công ước, người yêu cầu cần phải nộp đơn yêu cầu theo mẫu được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ban hành phù hợp với nội dung của Công ước.

4.1. Quy trình giải quyết hồ sơ đối với trường hợp trẻ bị đưa đến hoặc giữ lại tại Hoa Kỳ

- Bước 1: Tiếp nhận đơn

Cơ quan trung ương của Hoa Kỳ là cơ quan tiếp nhận các yêu cầu từ nước ngoài và rà soát, xem xét, kiểm tra tính hợp lệ của đơn và chuyển cơ quan có thẩm quyền trong nước để giải quyết. Hồ sơ và ngôn ngữ đơn yêu cầu phải được dịch sang tiếng Anh. Tuy nhiên, theo khuyến nghị của cơ quan trung ương, người nộp đơn nên tham vấn ý kiến của luật sư.

- Bước 2: Xác định nơi ở của trẻ

Sau khi Văn phòng Các vấn đề trẻ em nhận được đơn, một nhân viên sẽ được phân công giúp đỡ cha mẹ tìm kiếm trẻ. Bộ Ngoại giao cũng sẽ hỗ trợ, giúp đỡ việc tìm kiếm trẻ thông qua việc cộng tác với các tổ chức như: Các tổ chức phi Chính phủ (như tổ công tác xã hội quốc tế); Cục Điều tra liên bang (FBI); Tổ chức Cảnh sát hình sự Quốc tế (Interpol) và các trung tâm thu thập và trao đổi thông tin về trẻ em mất tích của mỗi bang (NCMEC); Văn phòng Các vấn đề về trẻ em và các cơ quan trung ương ở nước ngoài. Cha mẹ sẽ phải cung cấp cho Văn phòng Các vấn đề trẻ em các thông tin cần thiết như nơi ở của họ hàng, nơi làm việc, mối quan hệ công việc liên quan tới cha, me bị cho là đã đưa trẻ đi hoặc giữ trẻ lại trái phép. Ngoài việc tìm kiếm trẻ, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cũng phải liên lạc trực tiếp với người đang giữ trẻ để thương lượng nhằm đạt được giải pháp hòa bình trong việc trả lại trẻ.

- Bước 3: Chuyển hồ sơ cho Tòa án có thẩm quyền

Theo quy định tại Điều 9003 Luật Giữ hoặc mang trẻ đi trái phép của Liên bang Hoa Kỳ, thì Tòa án cấp quận có thẩm quyền giải quyết này. Sau khi tiến hành thủ tục xem xét chứng cứ, tài liệu được các bên cung cấp, Tòa án sẽ ra quyết định về việc trả lại trẻ, trong quyết định sẽ nêu rõ về thời gian, địa điểm và những vấn đề khác liên quan đến việc trả lại trẻ.

- Bước 4: Thi hành

Quyết định trả lại trẻ sẽ được thực hiện bởi cảnh sát tư pháp của Hoa Kỳ hoặc một số lực lượng khác có chuyên môn xử lý vụ việc liên quan tới trẻ em. Việc thi hành quyết định sẽ phải tiến hành hết sức linh hoạt để đảm bảo hạn chế những ảnh hưởng tâm lý đối với trẻ.

4.2. Quy trình giải quyết hồ sơ đối với trường hợp trẻ bị đưa đến hoặc giữ lại tại nước ngoài

Cơ quan trung ương của Hoa Kỳ cũng tiếp nhận các yêu cầu từ cơ quan có thẩm quyền, rà soát, đối chiếu hồ sơ yêu cầu với quy định của Công ước và chuyển cơ quan trung ương của nước được yêu cầu giải quyết, đồng thời hỗ trợ người dân làm hồ sơ theo quy định của Công ước.

4.3. Các biện pháp giải quyết ngoài Công ước

Bên cạnh biện pháp xử lý hành vi đưa đi hoặc giữ lại trẻ trái phép theo khía cạnh dân sự theo quy định của Công ước được áp dụng đối với các nước thành viên Công ước, tại Hoa Kỳ vẫn tồn tại kênh giải quyết ngoài Công ước đối với các nước không phải là thành viên Công ước, cụ thể như sau:

- Cha mẹ có thể tự đàm phán về việc đưa trẻ trở lại một cách tự nguyện hoặc cho phép người kia thăm nom trẻ. Tuy nhiên, khả năng đàm phán trong trường hợp này là rất khó khăn.

- Nếu quá trình thương lượng thất bại, cha mẹ có trẻ bị mang đi trái phép phải nộp đơn tới Tòa án để bắt đầu thủ tục tại Tòa án. Mặc dù vậy, trong một số ít trường hợp, cha mẹ có thể nộp thẳng đơn tới Tòa án mà không cần thông qua thủ tục được thực hiện tại Bộ Ngoại giao. Tuy nhiên, trong trường hợp này cha mẹ có con bị đưa đi trái pháp luật sẽ không được Bộ Ngoại giao hỗ trợ, chẳng hạn như việc tìm kiếm luật sư, dịch vụ dịch thuật…

- Việc giải quyết bằng phán quyết của Tòa án sau đó cần thông qua thủ tục yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án của Tòa án tại nước ngoài.

4.4. Các cơ chế phối hợp và sự tham gia của luật sư

Hoa Kỳ có mối quan hệ rất chặt chẽ với các cơ quan trung ương cũng như cơ quan địa phương với các nước có chung đường biên giới. Do vậy, việc Hoa Kỳ phối hợp thực thi Công ước đối với các nước này trên thực tiễn không có gì vướng mắc. Đối với các quốc gia thành viên khác, công tác phối hợp được thực hiện qua nhiều kênh khác nhau và đều được triển khai có hiệu quả.

Về sự tham gia của luật sư, nếu cha mẹ đủ điều kiện yêu cầu một đại diện pháp lý miễn phí, Bộ Ngoại giao sẽ thông qua Mạng lưới luật sư phụ trách về các vụ việc trẻ bị đưa đi hoặc giữ lại trái phép (ICAAN) để tìm kiếm luật sư thích hợp. Sau khi liên lạc với cha mẹ của trẻ bị đưa đi hoặc giữ lại trái phép nếu luật sư đồng ý tham gia vào quá trình tố tụng sẽ được Bộ Ngoại giao sẽ cung cấp những văn bản cần thiết như đơn và các văn bản về quyền nuôi dưỡng trẻ. Nếu đơn được làm bằng ngôn ngữ không phải tiếng Anh, Bộ Ngoại giao sẽ cung cấp đơn và bản dịch tiếng Anh. Sau khi xem xét đơn và các tài liệu cần thiết, luật sư sẽ tham gia vào quá trình tố tụng nhằm yêu cầu trả lại trẻ với tư cách là đại diện của cha mẹ có con bị đưa đi hoặc giữ lại trái phép. Khi có văn bản thỏa thuận giữa luật sư và cha mẹ có con bị đưa đi hoặc giữ lại trái phép, Bộ Ngoại giao sẽ cung cấp cho luật sư tất cả những tài liệu liên quan.

5. Đánh giá, kiến nghị

5.1. Đánh giá

Thứ nhất, việc tham gia Công ước của Hoa Kỳ xuất phát từ nhu cầu thực tiễn phát sinh các vụ việc trẻ bị mang đi hoặc giữ lại đối với các cuộc hôn nhân có yếu tố nước ngoài giữa công dân Hoa Kỳ và công dân nước ngoài. Ngoài ra, Hoa Kỳ tham gia Công ước với mục tiêu đảm bảo sự phát triển bình thường của trẻ trong một môi trường tốt nhất, tránh sự xáo trộn về môi trường sống, tâm lý của trẻ từ các hành vi của cha/mẹ hoặc người thân của trẻ, đảm bảo quyền, lợi ích tốt nhất của trẻ.

Thứ hai, về thể chế pháp luật để thực thi Công ước: Mặc dù, Công ước không đặt ra yêu cầu các quốc gia thành viên phải ban hành đạo luật riêng để thực thi Công ước. Tuy nhiên, Hoa Kỳ đã ban hành đạo luật riêng để thực thi Công ước xuất phát từ nhu cầu nội tại của pháp luật Hoa Kỳ, đảm bảo thực thi Công ước một cách có hiệu quả.

Thứ ba, về việc tổ chức thực thi Công ước: Hoa Kỳ có hệ thống các cơ quan liên quan để thực thi Công ước, cụ thể như: Bộ Ngoại giao, cơ quan công tố, cơ quan cảnh sát, luật sư. Ngoài Bộ Ngoại giao là cơ quan được Chính phủ Hoa Kỳ chỉ định là cơ quan trung ương khi tham gia Công ước, các cơ quan còn lại đều thực hiện các chức năng theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, Hoa Kỳ cũng rất chú trọng đến công tác đào tạo, tuyền truyền, phổ biến pháp luật về lĩnh vực có liên quan nhằm nâng cao nhận thức cho các cơ quan, tổ chức và người dân.

5.2. Kiến nghị

Qua nghiên cứu kinh nghiệm Hoa Kỳ về tham gia và thực thi Công ước, chúng tôi có một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, ở Việt Nam hiện nay, quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài ngày càng gia tăng và thực tiễn đã xuất hiện ngày càng nhiều vụ việc cha/mẹ giữ hoặc đưa trẻ đi ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc giữ, đưa trẻ từ nước ngoài về Việt Nam trái pháp luật. Do vậy, việc gia nhập Công ước là rất cần thiết trong bối cảnh của nước ta hiện nay. Để gia nhập Công ước, Việt Nam cần chuẩn bị kỹ các điều kiện cần thiết về hoàn thiện thể chế và cơ chế tổ chức thực thi Công ước phù hợp.

Thứ hai, khi nghiên cứu gia nhập Công ước, Việt Nam cần lựa chọn và chỉ định cơ quan trung ương với chức năng phù hợp và quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ của cơ quan trung ương, đảm bảo cơ quan này phải có đầy đủ thẩm quyền và năng lực để thực thi Công ước.

Thứ ba, công tác tuyên truyền, phổ biến Công ước đến các cơ quan, tổ chức và người dân giữ vai trò quan trọng trong việc thực thi có hiệu quả Công ước và công tác này luôn được các quốc gia thành viên, trong đó có Hoa Kỳ chú trọng thực hiện. Do vậy, Việt Nam cần có kế hoạch tuyên truyền, phổ biến trước, trong và sau khi gia nhập nhằm đảm bảo thực thi có hiệu quả Công ước.

Thứ tư, Việt Nam cần sớm xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia có sự tích hợp các dữ liệu thông tin về quản lý dân cư, hộ khẩu, căn cước nhằm đảm bảo việc giải quyết, xử lý thông tin và xác định nơi cư trú của trẻ được chính xác khi thực thi Công ước. Bên cạnh đó, Việt Nam có thể nghiên cứu và học tập kinh nghiệm của Hoa Kỳ khi xây dựng và phát triển hệ thống cảnh báo trẻ bị đưa đi hoặc giữ lại đến từng người dân thông qua các phương tiện thông tin hiện đại như đài phát thanh, truyền hình, điện thoại...

TS. Nguyễn Văn Tuấn

Phó Ban pháp chế, Tổng công ty Hàng không Việt Nam

ThS. Chu Tam Tuấn

Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp







[1]. Theo The Hague Convention on International Child Abduction: A Practical Application - Barbana Ullman Schwerin.

[2].Https://travel.state.gov/content/dam/NEWIPCAAssets/pdfs/AnnualReports/2018%20Annual%20Report%20on%20International%20Child%20Abduction%20FINAL1.pdf.

[3]. Xem: Báo cáo được công bố công khai tại website https://travel.state.gov/ content/travel/en/International-Parental-Child-Abduction/for-providers/legal-reports-and-data.html.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.

Theo dõi chúng tôi trên: